1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bai_4_Chuyen_nguoi_con_gai_Nam_Xuong_-_Copy_ab845b2525

30 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PowerPoint Presentation Năm học 2021 2022 Giáo viên TRƯỜNG THCS HUỲNH THÚC KHÁNG MÔN NGỮ VĂN LỚP 9 (Trích “Truyền kì mạn lục” Nguyễn Dữ) NGỮ VĂN 9 I Giới thiệu chung 1/Tác giả Ông sống vào nửa đầu thế[.]

Trang 1

Năm học 2021-2022

Giáo viên:

MÔN NGỮ VĂN LỚP 9

Trang 2

(Trích: “Truyền kì mạn lục” - Nguyễn Dữ)

NGỮ VĂN 9

Trang 3

I Giới thiệu chung:

1/Tác giả :

- Ông sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, là

học trò giỏi của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- Ông là con của Nguyễn Tưởng Phiên ( Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27- đời vua Lê Thánh Tông 1496)

- Sống vào thời kì chế độ phong kiến Lê-Mạc-Trịnh tranh giành quyền lực, là thời kì triều Lê đã bắt đầu khủng hoảng- mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm của XH nước ta thời PK: loạn lạc triền miên, dân tình khốn khổ.

- Thi đỗ hương cống, chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi rừng Thanh Hoá

- Nguyễn Dữ- sống ở thế kỷ XVI,

lúc chế độ phong kiến lâm vào

tình trạng loạn li suy yếu

-Quê ở Hải Dương, là người học

rộng tài cao; sống ẩn dật, thanh

cao.

Trang 4

Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã lưu truyền rộng rãi trong nhân dân

Tác phẩm được xem là “một áng thiên cổ kì bút” (áng văn hay của ngàn đời)- ( Vũ Khâm Lân đời hậu Lê).

Có thể nói Nguyễn Dữ đã gửi gắm vào tác phẩm tất cả tâm tư, tình cảm, nhận thức và khát vọng của người trí thức có lương tri trước những vấn đề lớn của thời đại, của con người.

2.Tác phẩm:

-CNCGNX là truyện thứ 16 trong 20

truyện của TKML Truyện được tái tạo

trên cơ sở truyện cổ tích: vợ chàng

Trương.

-Tác phẩm ra đời vào thế kỉ XVI, là

thời triều đình nhà Lê bắt đầu khủng

hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê,

Mạc, Trịnh tranh giành quyền binh, gây

ra các cuộc nội chiến kéo dài, làm đời

sống nhân dân vô cùng cực khổ cũng

như gây ra bi kịch cho biết bao gia đình.

* Hoàn cảnh sáng tác:

* Xuất xứ:

- Ghi chép những điều kỳ lạ được lưu

truyền trong dân gian.

- Viết bằng chữ Hán

* Nhan đề:Truyền kì mạn lục:

Trang 5

-Mẹ chồng Vũ Nương -Bé Đản TÓM TẮT

- Vũ Nương và Trương Sinh kết hôn, đang sum họp đầm ấm thì có nạn binh đao, Trương Sinh phải đăng lính.

- Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con

nhỏ.

- Khi Trương Sinh về, đứa bé ngây thơ kể với

Trương Sinh về người (chiếc bóng) đêm đêm vẫn đến với mẹ con nó Chàng nổi máu ghen, mắng nhiếc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi.

- Nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự

trẫm.

- Một đêm cùng con bên ngọn đèn khuya,

Trương Sinh mới vỡ lẽ về nỗi oan của vợ.

- Vũ Nương được tiên cứu và ở dưới cung nước rùa thần Linh Phi.

- Nghe lời Phan Lang, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang.

- Vũ Nương hiện về trong chốc lát rồi biến mất.

Nhân vật chính

Trang 6

-Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương

và Phan Lang dưới động Linh Phi.

-Vũ Nương được giải oan

P.2

P 1

P.3

P.1.Từ đầu ”như cha mẹ đẻ mình”.

P.2.Tiếp  “đã qua rồi”.

P.3.Còn lại

Trang 7

I.Tìm hiểu chung:

II.Đọc-hiểu văn bản:

1.Vũ Nương:

a Giới thiệu khái quát:

- Vũ Nương - Vũ Thị Thiết, quê ở

Nam Xương là người phụ nữ xuất thân từ tầng lớp bình dân, nàng là “ con nhà kẻ khó.”

- Vũ Nương có vẻ đẹp hoàn thiện

cơ bản trong thuyết “Tam tòng tứ đức” của Khổng Tử - một triết gia nổi tiếng của Trung Quốc).

-> Là người phụ nữ đẹp người,

đẹp nết: tư dung tốt đẹp, thùy mị

nết na.

Trang 8

I.Tìm hiểu chung:

* Trong cuộc sống gia đình

- Vũ Nương hiểu tính tình của Trương Sinh “ đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” nên nàng đã cư xử khéo léo

“luôn giữ gìn khuôn phép”, chưa từng

để dẫn đến thất hòa, hạnh phúc gia đình được nâng niu vun đắp…

-> Ngoan ngoãn, khéo léo,

vợ chồng sống hạnh phúc

* Khi tiễn chồng đi lính

VN rót chén rượu nồng ấm và dành cho chồng những lời dặn dò thiết tha, tình nghĩa:

Không trông mong vinh hiển mà chỉ mong chồng bình an trở về “ thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mạc áo gấm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”

VN thấy trước những khó khăn mà TS phải đối mặt nàng bộc lộ nỗi lo lắng và cả niềm cảm thông trước bao gian lao, hiểm nguy mà người chồng sẽ phải trải quan nơi chiến trận: “ Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường…”

Lời nói của VN trong giây phút chia xa thắm đẫm nối nhớ nhung khắc khoải, đợi chờ: “ Nhìn trăng soi thành

cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa…” Những lời nói rất mực ân tình,cảm động, nghẹn ngào, thổn thức trong hàng lệ nhớ thương Không chỉ VN khóc mà “ mói người đều ứa hai hàng lệ” xót xa.

Vn luôn khát khao hp gia đình, khát khao sum họp, đoàn

tụ “ Nàng không muốn xa cách những buộc phải cách xa Bởi vậy buổi chia tay này, lòng người nặng trĩu “ nhuộm mối tình muôn dặm quan san”

-> Bịn rịn, lưu luyến, Cẩn

thận, chu đáo=> Mong

chồng bình an trở về, không

màng vinh hiển

Trang 9

I.Tìm hiểu chung:

*Trong cuộc sống gia đình

* Khi tiễn chồng đi lính

- Người vợ hiền chung thủy

* Khi xa chồng ( Trương Sinh ở

+ Bướm lượn đầy vườn- mùa xuân tươi vui + Mây che kín núi- mùa đông ảm đạm

->những hình ảnh ước lệ vừa là cảnh sắc thiên nhiên, vừa là biểu tượng của thời gian luôn tác động đến tâm trạng nhứ mong của nàng.

- Dẫu xa cách cô đơn nhưng nàng luôn giữ gìn đức hạnh, một lòng thủy chung sắt son.

Trang 10

Gi¶i thÝch v× sao Vò N ư¬ng chØ mong chång b×nh an

chø kh«ng cÇu hiÓn vinh?

được thể hiện ở lời đưa tiễn Nàng nói với chồng: “Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Nàng nghĩ đến những khó nhọc, gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình Từ cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh, thương chồng và giàu lòng vị tha, một tâm hồn có văn hoá

Trang 11

I.Tìm hiểu chung:

- Lời trăng trối của bà mẹ là minh chứng khách quan nhất ghi nhận và đánh giá công lao đức độ của VN đối với gđ nhà chồng Bà mong cho nàng được hưởng hạnh phúc: “ sau này trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

- Khi mẹ chồng mất, nàng hết lời thương xót, ma chay tế lễ như đối với cha mẹ đẻ của mình.

- Những hành động, việc làm của VN xuất phát

từ tình cảm sâu sắc, chân thành Nàng là một nàng dâu hiếu thảo.

- Vũ Nương là một người con dâu

hiếu thảo

Trang 12

Mẹ buồn  ngọt ngào an ủi

Mẹ ốm  lo thuốc thang

Mẹ mất  lo ma chay chu đáo

Trang 13

Thể hiện sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng, niềm tin Vũ Nương có hạnh phúc khi Trương Sinh trở về

“-Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng ăn miếng cháo đặng cùng vui sum họp Song, lòng tham không cùng mà vận trời khó tránh Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền

ơn được Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Trang 14

- Thương con, VN thường trỏ vào cái bóng của mình trên vách mà bảo rằng

đó là cha bá Đản Nàng muốn dỗ dành con, mang niềm vui đến cho con trẻ, nàng muốn bù đắp cho con, muốn đứa con nhỏ thơ ngây được sống trong tình thương yêu của mẹ và bên cả bóng hình của người cha.

- Vũ Nương là người mẹ yêu

thương con

Trang 15

- Người vợ hiền chung thủy

- Người con dâu hiếu thảo

- Người mẹ thương yêu con

Hình ảnh tiêu biểu cho

người phụ nữ Việt nam

Vẻ đẹp của Vũ Nương gợi cho

em điều gì?

b Những phẩm chất tốt đẹp

của Vũ Nương:

Trang 16

- NN trực tiếp: Trương Sinh.

c Nỗi oan khuất của Vũ Nương

- NN sâu xa: Chế độ nam quyền bất

công, phi lý & chiến tranh phong

-Mắng nhiếc, đuổi nàng đi.

-Không chịu nghe lời phân trần, khuyên ngăn…

Tiết 13.

Trang 17

- NN trực tiếp: Trương Sinh.

c Nỗi oan khuất của Vũ Nương

và cái chết bi thảm của nàng.

* Nguyên nhân cái chết của Vũ

Nương:

- NN sâu xa: Chế độ nam quyền bất

công, phi lý & chiến tranh phong kiến.

Ng.nhân

Trương Sinh

-Nghe lời ngây thơ của con trẻ -Nghi ngờ vợ thất tiết.

-Mắng nhiếc, đuổi nàng đi.

-Không chịu nghe lời phân trần, khuyên ngăn…

* Nỗi oan khuất:

Trang 18

* Nỗi oan khuất.

- Thiếp vốn con kẻ khó, đ

ợc n ơng tựa nhà giàu / Sum

họp ch a thỏa tình chăn

gối, chia phôi vì động

việc lửa binh / Cách biệt

ba năm giữ gìn một tiết

Tô son điểm phấn từng

đã nguôi lòng, ngõ liễu t

ờng hoa ch a hề bén gót

Đâu có sự mất nết h thân

nh lời chàng nói / Dám xin

bày tỏ để cởi mối nghi

ngờ Mong chàng đừng

một mực nghi oan cho

thiếp /

Nàng phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình,

cầu xin chồng đừng nghi oan

Trang 19

-Thiếp sở dĩ nương tựa vào

chàng vì có cái thú vui nghi

gia nghi thất / Nay đã bình rơi

trâm gãy, mây tạnh mưa tan,

sen rũ trong ao, liễu tàn trước

gió; / khóc tuyết bông hoa rụng

cuống, kêu xuân cái én lìa

đàn, nước thẳm buồm xa, đâu

còn có thể lại lên núi Vọng

Phu kia nữa

Nỗi đau đớn, thất vọng của Vũ Nương khi hạnh phúc gia đình tan

vỡ, tình yêu không còn và không hiểu vì sao mình bị đối xử bất công.

 Hạnh phúc gia đình tan vỡ.

 Khát khao hạnh phúc.

 Đau đớn tột cùng vì tình yêu không còn.

Trang 20

* Nỗi oan khuất:

Đọc đoạn trích:

“ Đoạn rồi nàng tắm gội chay

sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa

mặt lên trời mà than rằng:

số phận Vũ Nương - người phụ nữ đau khổ trong xã hội xưa.

Bao nhiêu công sức, tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình

bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa, nàng đã tuyệt vọng, bơ vơ, không lối thoát, nên phải tìm đến cái chết

Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử, nhưng nàng đi đến cái chết

thật bình tĩnh : tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời

mà than rằng

Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói

ghen tuông ích kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác, tối tăm.

Trang 21

* Nỗi oan khuất:

-Nàng hết lòng phân trần, giãi bày,

cầu xin…

-Đau đớn, thất vọng vì hạnh phúc

gia đình bị tan vỡ.

Bị bức tử Đầu hàng số phận

Nhưng cũng là lời tố cáo sự độc ác,

tối tăm của XHPK

Một số phận bi thảm, bất hạnh.

Là hiện thân cho người phụ nữ trong XHPK.

Trang 22

-Một người chồng độc đoán, đa nghi.

-Một kẻ vũ phu thô bạo.

=> Trương Sinh điển hình cho

quyền lực và tính cách người

chồng trong XHPK: gia trưởng,

độc đoán, coi thường nhân

phẩm và mạng sống của vợ, là

kẻ vũ phu, thô bạo, là hiện thân

của chế độ phụ quyền bất công

(giá trị hiện thực).

Trang 23

Là người đàn ông lạ, bí ẩn

-Lần 1: Là bằng chứng cho sự

hư hỏng của vợ.

-Lần 2: Mở mắt cho chàng tỉnh ngộ về tai họa do chàng gây ra.

Trang 24

-Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi (vợ vua biển Nam Hải), được Linh Phi cứu sống, đãi yến tiệc

-Ải Chi Lăng.

-Quân Minh đánh nước ta (thời nhà Hồ), nhiều người chạy ra bể, bị đắm thuyền.

Gần gũi, tăng độ tin cậy

-Những yếu tố kỳ ảo xen kẽ với những

chi tiết có thực làm cho thế giới kỳ ảo,

lung linh trở nên gần gũi với cuộc đời

thực, làm tăng độ tin cậy.

Trang 25

-Những yếu tố kỳ ảo xen kẽ với những

chi tiết có thực làm cho thế giới kỳ ảo,

lung linh trở nên gần gũi với cuộc đời

thực, làm tăng độ tin cậy.

GỢI Ý CÂU 1.

-Lời nói của VN:

+“Tôi bị chồng ruồng rẫy… nữa”

+Có lẽ…phải tìm về có ngày”.

-Thái độ của VN:

“Ứa nước mắt khóc,…đổi giọng…”

-Ý nghĩa của tâm trạng VN?

GỢI Ý CÂU 2.

-Sự trở về của VN nói lên gì?

-Tại sao VN không trở về dương gian

ở với chồng con mà chỉ về trong chốc lát rồi biến mất?

Trang 26

-Những yếu tố kỳ ảo xen kẽ với những

chi tiết có thực làm cho thế giới kỳ ảo,

lung linh trở nên gần gũi với cuộc đời

thực, làm tăng độ tin cậy.

Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện

Vũ nương không chết, trở về sống trong Quy động của Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời

Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang – một người dương thế - với Vũ Nương nơi động tiên

Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ nương Ban đầu, Vũ Nương còn do dự vì vẫn còn chút uất ức, nhưng Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”.Nàng quả Thật là một con người thiện căn, thiết tha gắn bó với quê hương đời sống mà không được sống Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kìvào câu chuyện không chỉ có thế Nguyễn Dữ muốn khẳng định mộtchân lí nghệ thuật: Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp của Vũ Nương, đồng thời khẳng định cái Ðẹp là bất tử

Vũ nương khôngsống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh hằng ở cõi tiên, vì nàng là hiện thân của cái Ðẹp.

-Hoàn chỉnh nét đẹp của Vũ Nương.

Trang 27

-Những yếu tố kỳ ảo xen kẽ với những

chi tiết có thực làm cho thế giới kỳ ảo,

lung linh trở nên gần gũi với cuộc đời

thực, làm tăng độ tin cậy.

Vũ Nương đầu tiên không muốn về vì nghĩ mình oan chưa được giải Nàng vẫn đành cam chịu số phận.

Nhưng sau đó nàng lại gửi hoa vàng, nhắn chồng lập đàn giải oan rồi sẽ trở về Trước hết và chủ yếu là nàng muốn được thanh minh, được bảo toàn danh dự Nhưng rồi nàng cũng chỉ hiện về lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất Qua đó, tác giả mơ ước sự thật phải được sáng tỏ, người hiền phải được đền đáp Đó là một kết thúc có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về lẽ công bằng.

Mặt khác, sự thật vẫn là sự thật: Vũ Nương đã chết, không còn cơ hội để có thể sum họp cùng chồng con Một chân

lý nữa được bày tỏ: hạnh phúc đã trôi vuột khỏi tầm tay, không thể cứu vãn được nữa Xã hội và gia đình

phong kiến phụ quyền không có chỗ cho những người như Vũ Nương Tính bi kịch vẫn còn tiềm ẩn đâu dó trong Cái lung linh huyền ảo ấy.

-Hoàn chỉnh nét đẹp của Vũ Nương.

-Kết thúc có hậu Ước mơ ngàn đời của

nhân dân ta về sự công bằng.

-Tính bi kịch vẫn còn tiềm ẩn trong cái

lung linh, kỳ ảo ấy.

Trang 28

-Tác phẩm là bản án đanh thép tố cáo bản chất vô

nhân đạo của XHPK.

-Khẳng định và ngợi ca phẩm chất, tâm hồn cao đẹp

truyền thống của người phụ nữ VN.

-Thái độ cảm thông chân thành của nhà văn.

GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO.

III.Tổng kết:

1.Nội dung.

2.Nghệ thuật.

MỘT BẢN GỐC TKML (XB năm 1712)

-Khai thác vốn văn học dân gian.

-Nghệ thuật kể chuyện đầy sáng tạo:

+Những nhân vật có tính cách rõ nét, đặc biệt là

Vũ Nương.

+Cách kể chuyện hấp dẫn, sử dụng yếu tố truyền

kỳ, xây dựng hình ảnh “cái bóng” đầy dụng ý.

-Kết thúc tác phẩm bất ngờ, không mòn sáo, hàm

ý sâu sắc.

Trang 29

I Tìm hiểu chung :

II.Đọc-hiểu văn bản:

-Tác phẩm là bản án đanh thép tố cáo bản chất vô

nhân đạo của XHPK.

-Khẳng định và ngợi ca phẩm chất, tâm hồn cao đẹp

truyền thống của người phụ nữ VN.

-Thái độ cảm thông chân thành của nhà văn.

GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO.

-Khai thác vốn văn học dân gian.

-Nghệ thuật kể chuyện đầy sáng tạo:

+Những nhân vật có tính cách rõ nét, đặc biệt là

Vũ Nương.

+Cách kể chuyện hấp dẫn, sử dụng yếu tố truyền

kỳ, xây dựng hình ảnh “cái bóng” đầy dụng ý.

Ý NGHĨA VĂN BẢN

Ngày đăng: 19/04/2022, 15:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm