5
Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, lý thuyết về Kiểm soát nội bộ (KSNB) được giảng dạy trong chương trình học của các trường đại học như Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Kinh tế TP HCM và Học viện Tài chính Các giáo trình này trình bày về hệ thống KSNB, các yếu tố cấu thành, những hạn chế tiềm tàng và quy trình nghiên cứu hệ thống KSNB của kiểm toán viên Một số tài liệu tham khảo nổi bật bao gồm cuốn “Kiểm toán” do Vương Đình Huệ và Đoàn Xuân Tiên biên soạn, xuất bản bởi NXB Tài chính.
Hệ thống Kiểm soát nội bộ (KSNB) được đề cập trong nhiều tài liệu, bao gồm khái niệm, mục đích và các yếu tố cấu thành của nó (1996) Sách "Kiểm soát nội bộ" (Trần Thị Giang Tân chủ biên, 2012) cung cấp cái nhìn tổng quan về hệ thống KSNB, nội dung cơ bản theo mô hình COSO, các loại gian lận và biện pháp phòng ngừa, cũng như KSNB trong một số chu trình nghiệp vụ và tài sản Tuy nhiên, các tài liệu này chủ yếu chỉ đưa ra lý thuyết chung về hệ thống KSNB mà chưa áp dụng vào một tổ chức cụ thể nào.
Trong lĩnh vực ngân hàng, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về Kiểm soát nội bộ (KSNB) và Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn (2015) chỉ ra mối quan hệ lý thuyết giữa KSNB và hiệu quả hoạt động cũng như rủi ro của các Ngân hàng Thương mại (NHTM) tại Việt Nam Bên cạnh đó, Phạm Thanh Thủy (2016) đã xác định năm cơ sở pháp lý cho hoạt động KSNB của NHTM, đồng thời phân tích các đặc điểm của NHTM ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận hành HTKSNB Nghiên cứu cũng nêu rõ năm bộ phận chính cấu thành HTKSNB và đánh giá hệ thống này dựa trên năm thành phần chính, cùng với việc rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng HTKSNB cho NHTM.
Nguyên Kim Quốc Trung (2017) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Luận văn tiến sĩ của Trương Nguyễn Tường Vy (2018) tập trung vào việc cải thiện hệ thống quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, dựa trên báo cáo Basel 1998 và các cập nhật từ báo cáo COSO 2013 Tác giả đã thiết lập mô hình kiểm soát nội bộ cho hoạt động tín dụng với năm bộ phận chính: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro tín dụng, hoạt động kiểm soát tín dụng, thông tin và truyền thông, cùng với hoạt động giám sát tín dụng Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, từ đó đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống này, đảm bảo hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao Các nhà lãnh đạo ngân hàng sẽ linh hoạt áp dụng các biện pháp kiểm soát nội bộ phù hợp, cân nhắc giữa lợi ích và chi phí để tối ưu hóa hoạt động tín dụng theo chiến lược phát triển của từng ngân hàng.
Hồ Vũ Tuấn (2016) trong luận văn của mình đã nghiên cứu sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) tại các ngân hàng thương mại (NHTM) với mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động Điểm nổi bật của nghiên cứu là việc tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của HTKSNB trong các NHTM Việt Nam, đồng thời kiểm định mức độ tác động của các yếu tố này Qua đó, luận văn cung cấp cái nhìn thực trạng về hiệu quả HTKSNB trong các NHTM Việt Nam và đưa ra các giải pháp cải thiện.
Nguyễn Thị Bích Liên (2018) đã hệ thống hóa và liên kết bản chất của kiểm soát nội bộ (KSNB) theo mô hình COSO với Tuyên bố Basel, từ đó nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng KSNB trong các ngân hàng thương mại (NHTM) Nghiên cứu này cũng phát triển phương pháp tiếp cận mới nhằm cải thiện hiệu quả của KSNB trong lĩnh vực ngân hàng.
Bài viết đề cập đến 9 phương pháp đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ (KSNB) của các ngân hàng thương mại (NHTM) dựa trên hiệu lực của năm bộ phận cấu thành theo mô hình COSO Mô hình đánh giá này được xây dựng với mục tiêu cải thiện hiệu quả của KSNB trong NHTM Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2020) đã hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Agribank theo tiêu chuẩn COSO, trong khi Bùi Thanh Sơn (2020) chỉ ra mức độ đáp ứng và những vấn đề chưa hiệu quả trong thực tiễn triển khai hệ thống KSNB theo Thông tư 13/2018-NHNN.
Trong lĩnh vực ngân hàng, nhiều nghiên cứu ứng dụng về KSNB và HTKSNB đã được thực hiện thông qua các luận văn tiến sỹ và thạc sỹ, cũng như các tạp chí tài chính Một ví dụ điển hình là nghiên cứu về khuôn khổ HTKSNB theo tiêu chuẩn Basel và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ của NHTM Các nghiên cứu này tập trung vào việc hoàn thiện HTKSNB, bao gồm các lĩnh vực như hoạt động tín dụng, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro tác nghiệp.
Nghiên cứu về KSNB và HTKSNB đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc tuân thủ các quy định pháp luật trong triển khai HTKSNB tại các ngân hàng thương mại Hơn nữa, nhiều đề tài chưa làm rõ sự khác biệt đặc thù trong KSNB đối với ngành ngân hàng trong bối cảnh kinh tế thị trường và điều kiện hiện tại tại Việt Nam Do đó, luận văn này sẽ tập trung vào việc nghiên cứu sâu về tuân thủ các quy định pháp luật trong việc thiết lập HTKSNB và các yếu tố bên trong, bao gồm các bộ phận và mô hình, có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động KSNB tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
1.2 Co’ sử lý luận về hoạt động Kiểm soát Nội bộ tại Ngân hàng Thưong mại
1.2.1 Khái niệm HTKSNB và hoạt động KSNB
Tại Mỹ, AICPA đã định nghĩa HTKSNB là toàn bộ các chính sách và thủ tục mà nhà quản lý áp dụng để đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã đề ra HTKSNB bao gồm các loại hình kiểm soát nhằm đạt được hoạt động hiệu quả, tuân thủ pháp luật và bám sát chủ trương của nhà quản lý.
Để bảo vệ tài sản hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp ngăn ngừa và phát hiện gian lận cũng như sai sót Điều này đảm bảo tính đầy đủ và chính xác của thông tin kế toán Hơn nữa, việc lập báo cáo tài chính đáng tin cậy và đúng thời hạn là rất quan trọng trong quản lý tài chính.
Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (ISA) số 400, hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) bao gồm các quy định và thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán thiết lập nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan đến kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót Mục tiêu của HTKSNB là lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, đồng thời bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản của đơn vị Định nghĩa này nhấn mạnh rằng phạm vi HTKSNB rất rộng, không chỉ giới hạn trong hoạt động kế toán, tài chính mà còn bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động của đơn vị, với mục tiêu đảm bảo hiệu quả hoạt động dựa trên tuân thủ pháp luật, độ tin cậy của thông tin và an toàn tài sản.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định rằng Hệ thống Kiểm soát Nội bộ (HTKSNB) là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình và quy định nội bộ của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài HTKSNB được xây dựng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, Thông tư 13/2018/NHNN và các quy định pháp luật liên quan, nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro Hệ thống này cũng thực hiện giám sát từ quản lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá mức đủ vốn và kiểm toán nội bộ.
Có thể tổng hợp những nội dung của Thông tư 13/2018/TT- NHNN ở các hình dưới đây:
Hình 1.1 Nội dung của Basel TT và Thông tư 13/2018 của NHNN
03 Trụ cột của Basel II
TRỤ CỘT I TRỤ CỘT II
Tỳ lệ an toàn vốn tổi thiẻu Quytrình Giám sát
Yêu cầu về dữ liệu
Yêu câu về Hệ thống
• Cơ cấu quán trì, giám sát
Thông tư 13/201 8/TT-NHNN Quy đ|nh vè Hệ thống KSNB - ban hành ngày 18/05/201
• Phạm vi ơièu Chĩnh Đối tương áp dung
‘ Yôu càu dối vơi Hộ thống KSNB
• Bão cảo NHNN vồ Hộ thống KSNS
Giâm sát cũũ quán lỹcáp cao
• Yổu cầu đối với giốm sát của quản lý cốp caơ' Cơ cốu tổ chức gi ám sát của qưản lý cáp cao
• Giám sớt cùa QL cếp cao Ơ& với: KSNB, QLRR JCAAP TKNB
• Hoạt động KSNB dối với hoại động cảp tín dụng, tự doanh
• Cơ ché trao đòí thông tin/ Hệ thống thông tin quản lý
• QLRR Tộp trung (đối với hoạt động tín dụng và tự doanh)
Chương V Đánh giá nội bộ vè mữc dử vón
Yôư cầu, nộ’ dung đánh giá nội bổ mức đủ vốn (ICAAP) Stress Test vè von/ Ké hoach vốn
Rd SO& ICAAP/ Bồo cao
Ngưyốn tắc k;ốm toàn, cơ chó pnói hợp Tĩôu chưản, chuân mực đao đức NN của BKS, KTV nội bộ
Nhiộm vụ, qưyèn han, trách nhiệm cứa KTNĐ
Ké hCộCh kiẻm toán, nội dung kiổm toán, tóo cúo KTNB
Nguồn: Tông hợp theo Basel ỉĩ và Thông tư Ỉ3/20Ỉ8 của NHNN
Hình 1 2 HTKSNB theo Thông tu 13/2018 của NHNN
Thực hiện như thế nào?
KS, phòng ngửa, phát hiện, XL kịpthởi RR & đạt đưựcyêu cầu đề ra Điều 3, Khoản 1
Giám sát của quàn lý cấp cao
KT.GS các bô phân thực hiên:
KT.GS các bố phân thực hiên:
* Cơchố.CS, QĐ nội bộ
- KS xung đột lợi ích, KSRR
- Đâm báo đạt mục tiêu đề ra + Tuân thù PL
- Nâng cao nhận thức đốivởiKSNB
- Chuẩn mực đạo đức nghè nghiệp
- KS xung đột lợi ích, KSRR
- Đâm báo đạt mục tiêu đề ra + Tuân thù PL
- Nâng cao nhận thức đốivởiKSNB
Tự đánh giả mức đủ vốn
Cơ chề, chính sách, Quy trinh, Quy định nội bộ _
•KSNB:ĐĩẤu 10; Chương III (Đièu 14 — 20)
”QLRR:Đỉèu 11; Chương IV (Đièu 21 — 58)
*“*KTNB: Điều 13; Chương VI (Điều 64 72) B:Đ 9, 10,11,12,13,15,16.2,17.2a, 18,22, 24,62.1
Nguồn: Tổng hợp theo Thông tư 13/2018 của NHNN
Hình 1 3 HTKSNB vói 03 tuyến phòng thủ
Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một khái niệm quan trọng và có ý nghĩa rộng, đã được nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức định nghĩa khác nhau Nguồn thông tin này được tổng hợp theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN.
Theo định nghĩa được chấp nhận rộng rãi từ COSO, KSNB (Kiểm soát nội bộ) là một quá trình do người quản lý, Hội đồng quản trị và nhân viên thực hiện, nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho việc đạt được các mục tiêu như hiệu quả hoạt động, tính tin cậy của báo cáo tài chính, và tuân thủ pháp luật Định nghĩa này nhấn mạnh bốn yếu tố quan trọng: quá trình, con người, sự đảm bảo hợp lý và mục tiêu KSNB không chỉ là một sự kiện đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục trong tổ chức, cần được tích hợp vào hoạt động chính thay vì coi là gánh nặng từ bên ngoài Con người là yếu tố quyết định trong việc thiết kế và vận hành KSNB, với khả năng và mục tiêu khác nhau, KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát và hướng dẫn hành vi của từng cá nhân về mục tiêu chung Sự đảm bảo hợp lý mà KSNB cung cấp là giới hạn, do các yếu tố như sai lầm con người và lạm quyền, nhưng vẫn là cần thiết để giúp Ban Giám đốc và nhà quản lý đạt được mục tiêu tổ chức Cuối cùng, KSNB đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu chung và cụ thể của từng hoạt động trong tổ chức.
Cơ sở lý luận về hoạt động Kiểm soát Nội bộ tại Ngân hàng Thương mại 10 7.2.7 TC/ỉííí niệm HTKSNB và hoạt động KSNB
Luận văn lựa chọn quy trình nghiên cứu sau:
Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu c> Lý luận chung về
Hoạt động KSNB tai • NHTM o Đánh giá thực trạng
KSNBtai • NHCT Kiến nghị đề xuất
2.2 Phương pháp nghiên cứu Đe giải quyết được các câu hòi nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, cụ thế:
Phương pháp khái quát hóa, tổng hợp và phân tích được áp dụng để nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của kiểm soát nội bộ (KSNB) thông qua các công trình và tài liệu của nhiều tác giả liên quan đến hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) Phương pháp này giúp xác định các nhân tố và đặc thù trong hoạt động ngân hàng, từ đó hỗ trợ việc thiết kế và vận hành hệ thống KSNB hiệu quả trong các NHTM.
Tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi và thực hiện phỏng vấn sâu tại Trụ sở chính cùng một số chi nhánh của NHCT để điều tra về hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) Qua việc quan sát các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước và KSNB tại các bộ phận trong NHCT, mục tiêu là làm rõ thực trạng triển khai KSNB so với quy định pháp luật và những đặc thù riêng của NHCT Đối tượng khảo sát bao gồm cán bộ ngân hàng tại các phòng ban nghiệp vụ, bộ phận kiểm tra kiểm soát nội bộ, Kiểm toán nội bộ, và Ban kiểm soát của NHCT Người trả lời phỏng vấn là cán bộ thiết kế và vận hành kiểm soát, cán bộ tại các bộ phận liên quan, cán bộ thực hiện kiểm tra kiểm soát nội bộ, cùng Ban giám đốc và lãnh đạo Ban kiểm soát tại một số chi nhánh ngân hàng.
Phương pháp xử lý dữ liệu trong nghiên cứu này bao gồm việc tổng hợp kết quả từ điều tra, quan sát và phỏng vấn sâu Tác giả đã sử dụng phần mềm thống kê để phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống Kiểm soát nội bộ (KSNB) tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCT) Cụ thể, phương pháp phân tổ thống kê được áp dụng để hệ thống hóa các dữ liệu thu thập được.
26
Quy trình nghiên cứu
Luận văn lựa chọn quy trình nghiên cứu sau:
Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu c> Lý luận chung về
Hoạt động KSNB tai • NHTM o Đánh giá thực trạng
KSNBtai • NHCT Kiến nghị đề xuất
Phương pháp nghiên cún
Đe giải quyết được các câu hòi nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, cụ thế:
Phương pháp khái quát hóa, tổng hợp và phân tích được áp dụng để nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của kiểm soát nội bộ (KSNB) thông qua các công trình và tài liệu của một số tác giả, liên quan đến hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) Phương pháp này giúp xác định các nhân tố và đặc thù hoạt động của ngành ngân hàng, từ đó thiết kế và vận hành hệ thống KSNB hiệu quả trong các NHTM.
Phương pháp điều tra bao gồm thiết kế bảng câu hỏi kết hợp phỏng vấn sâu tại Trụ sở chính và một số chi nhánh của NHCT, nhằm làm rõ thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) so với quy định pháp luật và đặc thù của NHCT Đối tượng khảo sát là cán bộ ngân hàng tại các bộ phận nghiệp vụ, kiểm tra kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và Ban kiểm soát Người được phỏng vấn gồm cán bộ thiết kế vận hành kiểm soát, cán bộ đầu mối tại các bộ phận liên quan, cán bộ thực hiện kiểm tra kiểm soát nội bộ, cùng Ban giám đốc và lãnh đạo Ban kiểm soát tại các chi nhánh ngân hàng.
Phương pháp xử lý dữ liệu trong nghiên cứu này bao gồm việc tổng hợp thông tin từ kết quả điều tra, quan sát và phỏng vấn sâu Tác giả đã sử dụng phần mềm thống kê để phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCT) Đặc biệt, phương pháp phân tổ thống kê được áp dụng để hệ thống hóa dữ liệu một cách hiệu quả.
Trong nghiên cứu, việc tổng hợp tài liệu được thực hiện theo các tiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu Các số liệu và chỉ tiêu nghiên cứu được xử lý và tính toán bằng phần mềm Excel cùng các công cụ hỗ trợ báo cáo của NHCT Phương pháp đồ thị giúp chuyển đổi thông tin từ dạng số sang dạng hình ảnh, mang lại cái nhìn trực quan và dễ tiếp cận cho người dùng Phương pháp thống kê mô tả cho phép đánh giá và thể hiện vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau Cuối cùng, phương pháp so sánh, bao gồm so sánh số tuyệt đối và số tương đối, giúp làm rõ sự khác biệt và mức độ phù hợp của các vấn đề theo thời gian và không gian.
Nguồn dữ liệu thứ cấp đóng vai trò quan trọng trong việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và hoạt động KSNB tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Tác giả đã tổng hợp tài liệu và nghiên cứu từ cả trong nước và quốc tế, đồng thời tìm hiểu các báo cáo tổng kết và báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCT) trong giai đoạn 2018.
Từ năm 2020, nghiên cứu đã tiến hành thống kê và tổng hợp ý kiến kiểm toán, đồng thời phân tích các báo cáo và công bố thông tin của Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCT) trên sàn giao dịch chứng khoán Mục tiêu là thu thập thông tin về quá trình hoạt động của NHCT Bên cạnh đó, việc xem xét các báo cáo và kết luận thanh tra, kiểm toán giúp đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của công tác kiểm soát nội bộ (KSNB) so với các quy định hiện hành của NHCT.
Để nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCT), tác giả đã tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn 30 cán bộ, lao động tại NHCT Bảng hỏi được chia thành hai phần nhằm thu thập thông tin chi tiết và chính xác.
Phần 1 - Thông tin chung về đổi tượng được khảo sát Phần 2 - Bảng câu hỏi về hoạt động KSNB
Bảng câu hỏi khảo sát bao gồm 57 câu hỏi, được phân chia thành các phần cụ thể: 22 câu hỏi về hoạt động kiểm soát, 6 câu hỏi liên quan đến hoạt động kiểm soát tín dụng, và 12 câu hỏi về hoạt động kiểm soát giao dịch tự doanh Ngoài ra, còn có phần dành cho bộ phận tuân thủ.
(6 câu hỏi); Cơ chế trao đổi thông tin (7 câu hỏi) Hệ thống thông tin quản lý (10 câu hỏi) (Chi tiết câu hỏi theo phụ lục đính kèm)
Tác giả sử dụng thang đo từ 1 tới 5, trong đó: (mức 1) với ý nghĩa “Hoàn
Trong bài viết này, các mức độ hiệu lực được phân loại từ 27 toàn khồng hiệu lực đến hoàn toàn có hiệu lực Mức 1 chỉ ra rằng không có dấu hiệu nào cho thấy hoạt động hoặc yếu tố tồn tại; mức 2 cho thấy yếu tố kiểm soát có xuất hiện nhưng không đủ hoặc không liên tục; mức 3 thể hiện sự hiện diện của hoạt động, nhưng cần thêm xem xét; mức 4 chỉ ra rằng yếu tố đó thực hiện đủ và đạt kết quả tốt; cuối cùng, mức 5 khẳng định rằng hoạt động hoàn toàn có hiệu lực với bằng chứng rõ ràng về kết quả Phản hồi từ người được hỏi từ mức 2 đến mức 5 cho thấy yếu tố kiểm soát đã được áp dụng trong ngân hàng.
Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo cách ngẫu nhiên, nhằm khảo sát các cán bộ trong bộ phận liên quan đến hoạt động kiểm soát nội bộ.
Quy mô mẫu chọn trong khảo sát luận văn được xác định là 300 mẫu, trong đó mỗi đơn vị được khảo sát sẽ có tối thiểu 5 phiếu, bao gồm 2 phiếu dành cho
LĐ và 3 phiếu dành cho cán bộ đã được phân bổ, đảm bảo bao phủ toàn bộ các phòng ban tại các tuyến bảo vệ của NHCT Trong quá trình khảo sát, số phiếu thu về đã được ghi nhận.
295 và số phiếu họp lệ là 295 phiếu, do đó tác giả sử dụng dữ liệu từ 295 phiếu khảo sát này để tiến hành phân tích.
Trong Chương 2, tác giả làm rõ phương pháp nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu của đề tài Các phương pháp nghiên cứu được trình bày đã phù hợp và đáp ứng yêu cầu để tiến hành nghiên cứu các nội dung cụ thể trong Chương 3.
29
Thực trạng hoạt động Kiểm soát Nội bộ tại NHCT
3.2.1 Khái quát chung về thực trạng triển khai KSNB tại NHCT
Từ năm 2015, Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCT) đã chủ động nghiên cứu dự án ba vòng kiểm soát, hợp tác với các tổ chức uy tín quốc tế để nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ Mục tiêu của NHCT là tiếp cận và áp dụng các thông lệ quốc tế về kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là theo tiêu chuẩn Basel II.
Vào ngày 09/10/2015, Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCT) đã chính thức phê duyệt triển khai mô hình 3 vòng kiểm soát trong hoạt động quản lý rủi ro (QLRR) theo thông báo số 1817/TB-TGĐ-NHCT17 Dự án này thiết lập một mô hình kiểm soát bao gồm 3 vòng kiểm soát tương tự như mô hình 3.
32 tuyên phòng thù của Basel II nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ (KSNB), đảm bảo rằng mọi cá nhân và đơn vị trong ngân hàng đều nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong công tác này Điều này giúp phát huy vai trò kiểm soát tại các đơn vị kinh doanh trực tiếp, đồng thời tăng cường giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ của các đơn vị có chức năng quản lý rủi ro Mục tiêu là phát hiện sớm những rủi ro trọng yếu để có các chương trình hành động kịp thời, từ đó giảm thiểu tối đa tổn thất và rủi ro cho ngân hàng.
Tuyến phòng thủ thứ nhất bao gồm các cá nhân và bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm tạo doanh thu và ra quyết định có rủi ro, đồng thời trực tiếp giao dịch với khách hàng và thực hiện các quy trình hàng ngày Những đơn vị này không chỉ tiếp nhận rủi ro mà còn có trách nhiệm nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu chúng Cách thức thực thi trách nhiệm của các đơn vị kinh doanh phản ánh văn hóa rủi ro hiện tại của ngân hàng, cho thấy đây là tuyến phòng thủ quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro ngay từ những bước đầu thông qua việc thiết lập các chốt kiểm soát.
Tuyến phòng thủ thứ hai bao gồm:
Bộ phận quản lý rủi ro độc lập có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách, quy trình và quy định quản lý rủi ro, bao gồm nhận diện, đo lường, theo dõi và báo cáo rủi ro Thông qua việc giám sát và báo cáo, bộ phận này đưa ra các khuyến nghị cho các hoạt động của tuyến thứ nhất, chịu trách nhiệm rà soát và đánh giá rủi ro một cách độc lập với các hoạt động kinh doanh Do đó, bộ phận quản lý rủi ro cần được cấu trúc độc lập với bộ phận kinh doanh và không tham gia vào việc tạo ra doanh thu.
Bộ phận tuân thủ độc lập và hiệu quả, thuộc Khối Pháp chế và tuân thủ, có nhiệm vụ giám sát sự tuân thủ các luật lệ và quy định quản trị điều hành mà ngân hàng phải tuân theo Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý rủi ro tuân thủ, thành lập bộ phận tuân thủ, phê duyệt chính sách tuân thủ và truyền đạt thông tin đến toàn bộ nhân viên.
Bộ phận tuân thủ cần đánh giá mức độ thực hiện các chính sách và báo cáo kết quả cho Ban Điều Hành và Hội Đồng Quản Trị nếu cần thiết Để hoạt động hiệu quả, bộ phận này phải đảm bảo việc tuân thủ được thực hiện đầy đủ và chính xác.
Các thành viên trong bộ phận tuân thủ cần có quyền hạn, vị thế, tính độc lập, nguồn lực và khả năng tiếp cận hoặc báo cáo trực tiếp với Hội đồng Quản trị Ban Giám đốc phải tôn trọng chức năng độc lập của bộ phận này và không can thiệp vào việc thực hiện nhiệm vụ của họ Đồng thời, trưởng bộ phận tuân thủ không được đảm nhiệm vai trò lãnh đạo của các bộ phận khác để tránh tình trạng "dual-hatting".
Tuyến phòng thủ thứ ba trong ngân hàng bao gồm bộ phận Kiểm toán Nội bộ (KTNB) độc lập và hiệu quả, cung cấp đánh giá khách quan về chất lượng và hiệu quả của kiểm soát nội bộ (KSNB) Bộ phận này hoạt động độc lập với hai tuyến phòng thủ đầu tiên và khung quản lý rủi ro, đồng thời liên kết với văn hóa doanh nghiệp, kế hoạch chiến lược, chính sách lương thưởng và quy trình ra quyết định Báo cáo của KTNB được trình lên Hội đồng Quản trị (HĐQT) mà không cần thông qua Ban Điều hành (BĐH), và các kiểm toán viên nội bộ có quyền tiếp cận trực tiếp HĐQT hoặc Ủy ban Kiểm toán (UBKT) thuộc HĐQT Lãnh đạo bộ phận KTNB không được giữ chức vụ lãnh đạo tại các bộ phận khác để đảm bảo tính độc lập.
HĐQT của ngân hàng cần đảm bảo rằng các bộ phận rủi ro, tuân thủ và kiểm toán nội bộ được tổ chức hợp lý, với đủ nhân lực và nguồn lực để thực hiện chức năng một cách độc lập, khách quan và hiệu quả Đồng thời, HĐQT nên phối hợp với Ban điều hành và lãnh đạo các bộ phận này để rà soát các chính sách, nhằm nhận diện các rủi ro và vấn đề quan trọng, từ đó xác định các lĩnh vực cần cải thiện.
Hình 3 2 Mô hình 03 tuyến phòng thủ theo Basel
Khung quản trị rủi ro Ngân hàng cân phải xác định rõ trách
I ã ,1 I nhiệm cùa từng đơn vị trong công tác quản trị rùi ro, mà thường được nhắc đến với khái niệm “3 vòng kiểm soát”
Là bộ phận KTNB, đánh gĩá độc lập, khách quan tính đầy đủ và hiệu quả của công tác quản trị rủi ro trong NH
Là (các) đơn vị quản lý rủi ro tông thề cấp độ toàn hàng
(nhận diện, đánh giá/đo lường, kiểm soát, giám sát, báo cáo)
Là đơn vị trực tiếp kinh doanh (tạo ra lợi nhuận/ doanh thu), trực tiếp nhận rủi ro từ hoạt động kinh doanh (risk owner)
Là người trực tiếp giao dịch với khách hàng
Người quản lý chịu trách nhiệm về việc nhận diện, đánh giá và đo lường rủi ro, cũng như kiểm soát, giám sát và báo cáo các cấp độ theo từng ngành dọc quản lý.
Nguôn: tác giả tự tông hợp
Từ mô hình tiêu chuẩn Basel II, dự án 3 vòng kiểm soát tại NHCT năm
2015 đã cụ thể hóa các đơn vị vào từng vòng kiểm soát, hình thành và phân tách trách nhiệm quản lý rủi ro theo từng vòng:
Hình 3 3 Mô hình mục tiêu của 3 tuyến phòng thủ được thiết lập tại NHCT
Nguôn: theo dự án 3 vòng kiêm soát của NHCT
Mô hình mục tiêu tại NHCT đã kế thừa và phát triển so với mô hình chuẩn Basel 11, đặc biệt tại tuyến bảo vệ thứ 2 với việc bổ sung bộ phận kiểm soát nội bộ, nhằm phù hợp với đặc thù kinh doanh tại thị trường Việt Nam Để thực hiện mô hình mục tiêu này, NHCT đã triển khai qua 02 giai đoạn sau khi đánh giá các điều kiện nội tại và khách quan.
Giai đoạn “bước đệm” (i) trong chức năng giám sát CN bao gồm sự chia sẻ và phối hợp giữa Phòng KTKSNB và các đơn vị Vòng 1,5, mà trong đó các đơn vị này trực tiếp hỗ trợ kinh doanh tại TSC, như các khối KH, khối phê duyệt tín dụng và các khối khác.
Hỗ trợ tín dụng); (ii) Nâng cao vai trò và năng lực kiểm soát của bộ phận Hậu kiểm tại CN:
Hình 3 4 Mô hình giai đoạn “bước đệm”
Giám sát từ xa tuân thủ các ỌĐ, ỌT, BPKS vả cảc hạn mức đà được thiêt lập của vòng 1
1 _ _ I Đầu mối thực hiện KTTT
Việc phối họp KTTT đám bảo phát huy diro'c 2 chức nãng:
KS tuân thủ quy trình, quy định
- Xác thực và đánh giá RR, KS chất 1 trọng dịch vụ
Chỉ thực hiện các công việc mà các đơn vị quản lý rủi ro ngành dọc không có điều kiện thực hiện Đầu mối thực hiện cảnh báo KH là các đơn vị Vòng 1,5 của 2 Khối KH Phòng KTKSNB phối hợp thực hiện lùm giần dữ liệu liên quan.
Nguôn: Theo dự án 3 vòng kiêm soát của NHCT
Trong giai đoạn 2, chức năng giám sát của Phòng KTKSNB sẽ được chuyển giao hoàn toàn về Vòng 1,5, không còn đảm nhận vai trò tuyến bảo vệ 1 trong việc nhận diện, đo lường và giảm thiểu rủi ro Thay vào đó, Phòng sẽ tập trung vào công tác kiểm tra và xác minh theo yêu cầu từ các đơn vị Đồng thời, trong giai đoạn này, sẽ có đánh giá về sự cần thiết của Hậu kiểm tại CN trong việc kiểm soát chứng từ giấy Nếu đáp ứng đủ điều kiện hệ thống kiểm soát tự động, có thể xem xét việc xóa bỏ bộ phận Hậu kiểm.
Hình 3 5 Mô hình chức năng nhận diện rủi ro theo Giai đoạn 2
INtiận ciíẹn RR tại CN
TNtiận diộn rui ro toàn hàng
“ Rada ” nhận diện RR Đe nghị KT
“ Đại lý” kiểm tra, xác minh
P.KTKSNB đóng vai trô là đon vị “ Đại lý” thực hiộn độc lặp kiểm tra trụrc tiếp
P.QLRRHĐ, P.QLRRTD và các đơn vị TSC khác dóng vai trò là “ rada” nhộn diện các
Kêt qua [ ' vòng KTTT 2 lheo đtrọrc xây dựng dụra trôn eụ — = kế hoạch Z
Nguồn: Theo dự án 3 vòng kiêm soát của NHCT
Sau 2 năm triển khai (2016-2018), về cơ bản mô hình tổ chức tại NHCT
Đánh giá thực trạng hiệu quả công tác Kiêm tra Kiêm soát Nội bộ trong hoạt động Kiềm soát Nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 61 1 Ket quá đạt được
Tự kiểm tra giám sát và áp dụng các chế tài xử phạt đã giúp cải thiện nhận thức và hành vi của cán bộ, người lao động Tính tuân thủ được nâng cao, thể hiện qua việc giảm đáng kể số lượng lỗi và tỷ lệ lỗi trên mẫu, chủ yếu liên quan đến lỗi tác nghiệp, mà không có yếu tố cố ý vi phạm hay rủi ro đạo đức.
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
♦ĩ* Hạn chế đối với Hệ thống kiểm soát nội bộ
Nhận thức về kiểm soát nội bộ (KSNB) của cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp trung tại chi nhánh còn hạn chế, dẫn đến hoạt động kiểm soát chưa phát huy hiệu quả trong việc cảnh báo sớm các rủi ro trong ngân hàng Sự cân nhắc giữa lợi ích và chi phí đã làm cho một số hoạt động kiểm soát bị giới hạn Hơn nữa, các định chế kiểm soát và giám sát tại một số ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đội ngũ lãnh đạo cấp cao, gây ra sự vô hiệu hóa trong quá trình quản lý rủi ro.
Một số cán bộ lãnh đạo cấp cao trong hệ thống ngân hàng chưa coi trọng giá trị đạo đức, kỷ cương và kỷ luật, dẫn đến sai phạm nghiêm trọng trong thực thi nhiệm vụ tại một số chi nhánh Đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên ngân hàng chưa được thực hiện theo chuẩn mực quy định, và việc không tuân thủ quy định trong thực thi nhiệm vụ đã làm giảm hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ Hiện tượng cấu kết, móc ngoặc và làm giả hồ sơ chứng từ để trục lợi vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.
❖ Hạn chế trong hoạt động • O • ♦ O kiểm soát nội bộ • •
Mặc dù Vietibank đã thiết lập mô hình ba tuyến bảo vệ và ban hành quy định, chính sách cùng mô tả công việc cho từng vị trí, nhưng hiệu lực và hiệu quả trong việc thực thi nhiệm vụ của các đơn vị chưa được đảm bảo Nguyên nhân là do một số nhân viên không tuân thủ quy định, lợi dụng những điểm yếu và lỗ hổng của kiểm soát nội bộ (KSNB) để thực hiện hành vi gian lận, dẫn đến việc các chính sách và thủ tục bị vô hiệu hóa Hơn nữa, nhận thức của các bộ phận tại tuyến bảo vệ vẫn còn hạn chế.
Văn hóa kiểm soát và tuân thủ cần được nâng cao hơn nữa, trong khi vai trò của tuyến bảo vệ 1 trong việc nhận dạng, đo lường và giảm thiểu rủi ro vẫn chưa được phát huy đầy đủ.
Hệ thống văn bản chính sách tại NHCT hiện nay mặc dù chặt chẽ nhưng vẫn còn rườm rà và chồng chéo Việc chưa hệ thống hóa một cách khoa học gây khó khăn cho người dùng trong việc tra cứu thông tin.
Việc kiểm soát của TSC đối với các giao dịch và hoạt động của CN còn hạn chế, đặc biệt trong việc giám sát và kiểm soát thông qua các cá nhân và bộ phận thực hiện Hiện tại, báo cáo từ các bộ phận này lên TSC chủ yếu chỉ diễn ra khi có sự kiện rủi ro xảy ra, dẫn đến chất lượng báo cáo chưa đạt yêu cầu.
❖ Hạn chê đôi với công tác kiêm tra kiêm soát tại NHCT
Việc nhận diện sớm rủi ro trong nhiều trường họp còn chưa kịp thời.
Kết quả kiểm tra trực tiếp chưa thể hiện được sự tin cậy bởi thiếu nhận định đánh giá và đề xuất.
Kết quả giám sát cho thấy nhiều cuộc kiểm tra đột xuất chưa đạt yêu cầu về tính chính xác và hiệu quả Mặc dù các chỉ tiêu giám sát được ghi nhận đầy đủ về số lượng, nhưng vẫn thiếu sự liên kết và cái nhìn logic từ góc độ Khách hàng, Phòng ban và CN để đánh giá rủi ro Hiện tại, quá trình giám sát chủ yếu tập trung vào giao dịch mà chưa tuân thủ nguyên tắc kiểm tra dựa trên rủi ro.
Các luồng thông tin không chính thống từ PKV chưa được truyền tải kịp thời đến TSC, dẫn đến việc thiếu phân tích và nhận định về rủi ro một cách nhanh chóng.
Tồn tại một số PKV/Đoàn kiếm tra chưa xử lý tốt vai trò, cách ứng xử với
Công tác truyền thông về vai trò và trách nhiệm của kiểm tra giám sát tại các công ty chưa rõ ràng, dẫn đến việc chưa tạo dựng được uy tín với các công nhân Điều này khiến một số công nhân có tâm lý đối phó và thiếu sự phối hợp trong quá trình làm việc, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công việc chung.
❖ Đối với hoạt động kiểm soát nội bộ
Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế, có nhiều đặc thù riêng so với các lĩnh vực khác Việc áp dụng kinh nghiệm quốc tế trong thiết kế và vận hành hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Nhận thức về vai trò và trách nhiệm của các bộ phận trong việc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) chưa tương xứng, dẫn đến những tồn tại cố hữu trong hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) càng trở nên rõ ràng hơn Cần phải khắc phục những vấn đề này để cải thiện hiệu quả của HTKSNB.
Do tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi và đặc thù riêng của nền kinh tế Việt Nam, mặc dù ngân hàng đã xây dựng và đáp ứng điều kiện cho hoạt động kiểm soát, nhưng thực tế các hoạt động này có thể không phát huy hiệu quả Nguyên nhân chủ yếu là do yếu tố con người trong việc tuân thủ các quy định, dẫn đến việc chạy theo chỉ tiêu kinh doanh và phục vụ khách hàng mà bỏ qua quy trình, không thực hiện đúng trách nhiệm, từ đó làm vô hiệu hóa hoạt động kiểm soát nội bộ.
Đánh giá hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) từ công ty kiểm toán độc lập hiện còn gặp một số hạn chế, điều này dẫn đến việc chưa xác định được các vấn đề mà ngân hàng cần cải thiện và khắc phục.
❖ Đối với Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ
Chất lượng nhân sự hiện tại chưa đồng đều, với nhiều cán bộ có kiến thức chuyên môn nhưng thiếu sự toàn diện trong các nghiệp vụ Khả năng thích ứng với sự thay đổi và nhạy cảm với rủi ro còn hạn chế Nhận thức về rủi ro nghề nghiệp, đặc biệt trong công tác kiểm tra, vẫn chưa rõ ràng, dẫn đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân và ảnh hưởng tiêu cực đến toàn hệ thống.