1 ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não TBMMN, hay còn gọi là đột quỵ não, là bệnh lý của hệ thần kinh phổ biến nhất hiện nay và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch v
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
NGÔ HÙNG CƯỜNG
TRƯỚC NHẬP VIỆN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
YÊN BÁI
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
NGÔ HÙNG CƯỜNG
TRƯỚC NHẬP VIỆN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
YÊN BÁI
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Trường Sơn
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 3i LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện để tôi được thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp CKI
Phòng Đào tạo Đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình học tập 2 năm tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã bảo ban giúp
đỡ, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Ban Giám đốc, các cán bộ nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái
đã động viên, giúp đỡ hết mình để tôi được hoàn thiện chuyên đề
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ThS.Nguyễn Trường Sơn đã định hướng, bảo ban nhiệt tình để tôi có điều kiện hoàn thành chuyên đề như ngày hôm nay
Tôi xin tỏ lòng biết ơn với cha mẹ, thầy cô, bạn bè lớp CKI khóa 8 đã luôn động viên, tạo động lực học tập cho tôi
Người thực hiện
Ngô Hùng Cường
Trang 4ii LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Ngô Hùng Cường xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do chính tôi lần đầu thực hiện, các số liệu trong báo cáo là trung thực, chính xác và đáp ứng các quy định về trích dẫn
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan này
Nam Định, ngày tháng năm 2021
Người cam đoan
Ngô Hùng Cường
Trang 5iii MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……….….………i
Lời cam đoan ……….………ii
Mục lục……….……….………… ……… iii
Danh mục chữ viết tắt……… ……….iv
Danh mục biểu đồ - hình ảnh……….……… ……….vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
Chương 2 MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 13
2.1 Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỵ não Bệnh viện Y học cổ truyền và phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ 13
2.2 Ưu điểm và tồn tại: 18
Chương 3 BÀN LUẬN 188
KẾT LUẬN 21
KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 6iv DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TBMMN Tai biến mạch máu não
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 7v DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH ẢNH
Trang Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ hiện mắc đột quỵ não theo tỉnh/thành phố Việt Nam năm
2013 - 2014
19
Hình 1.8 Di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại 14
Trang 81 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN), hay còn gọi là đột quỵ não, là bệnh lý của hệ thần kinh phổ biến nhất hiện nay và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch và ung thư, nhưng dự đoán nó có thể trở thành căn bệnh có tỷ lệ tử vong hàng đầu [19]
Trên thế giới hiện có khoảng 30,9 triệu người mắc bệnh đột quỵ não, các trường hợp tử vong trên 4 triệu người một năm [19] Ở Hoa Kỳ, cứ 100.000 dân thì có 794 người
bị đột quỵ, còn ở Pháp, trong 1000 dân có 60 người đột quỵ Qua khảo sát thực tế và đánh giá của nhiều chuyên gia y tế, tỷ lệ đột quỵ ở những người trẻ và trung niên cũng đang gia tăng mạnh mẽ, chiếm 1/3 tổng số các trường hợp đột quỵ Hiện con số thống kê cho nhóm đối tượng này khoảng 83.000 người/ năm [4]
Hiện nay, tỷ lệ người bệnh đột quỵ của nước ta đang ngày càng gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau như bệnh huyết áp, đái tháo đường, các bệnh van tim, béo phì [4] Đột quỵ biểu hiện đặc trưng các tổn thương cấp tính, có thể gây tử vong nhanh chóng hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề bao gồm liệt nửa người, không tự đi lại được, khó khăn trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày, phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự phục vụ của người khác…[6]; vì vậy, nếu người bệnh đột quỵ không được xử trí tốt ngay từ khi phát hiện bệnh thì tỷ lệ tử vong sẽ tang cao hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh như: sa sút trí tuệ, giảm hoặc mất khả năng vận động, thậm chí có những người bệnh chỉ nằm một chỗ, vô cảm hoàn toàn với thời gian, kéo theo tình trạng kinh tế gia đình suy sụp, nó thực sự là gánh nặng cho toàn xã hội [2]
Người bệnh đột quỵ cần được xử trí sớm và đúng cách Điều đó ảnh hưởng tới kết quả chăm sóc và điều trị Để nâng cao hiệu quả chăm sóc cho người bệnh đột quỵ não và
có những đề xuất phù hợp chúng tôi thực hiện chuyên đề: “Thực trạng xử trí người bệnh đột quỵ não trước nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái”, với hai mục tiêu sau:
Trang 103 Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Định nghĩa đột quỵ não
Đột quỵ não là tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với những triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24h hoặc tử vong, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não [3]
1.1.2 Nguyên nhân [15]
1.1.2.1 Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được
Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền
Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:
Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1)
Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng
và cuối cùng là người da trắng
Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn
Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em là thấp nhất
1.1.2.2 Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được
Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động
Các nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp; sau đó, là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác 1.1.3 Phân loại [15]
Có 2 dạng đột quỵ thường gặp hiện nay:
Trang 114 Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: bệnh thường gặp sau một cơn đau hoặc cục máu đông
có thể hình thành trong các mạch máu của não hoặc trong mạch máu dẫn đến não hay trong các mạch máu ở những nơi khác của cơ thể đi đến não; những cục máu đông chặn lưu lượng máu đến các tế bào của não, dạng này chiếm tỷ lệ cao trên 80% các ca đột quỵ
do thiếu máu cục bộ
Đột quỵ do xuất huyết não: xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, kết quả là máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh, do rối loạn đông máu hoặc người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông
Hình 1.1 Các dạng đột quỵ Tùy thuộc vào sự tổn thương của mạch máu não, có thể do sự tắc nghẽn mạch máu não làm ngưng trệ dòng máu lên nuôi não phía sau chỗ tắc, hoặc do sự vỡ mạch máu trong não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài tràn vào trong mô não gây phá hủy và chèn ép mô não Hậu quả là phần não có liên quan bị tổn thương không thể hoạt động được dẫn đến phần cơ thể vùng não đó chỉ huy cũng không thể hoạt động được Không giống như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng
Trang 125 lượng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng
Khi đột quỵ xảy ra, chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại
1.1.4 Hậu quả của đột quỵ
Đột quỵ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Theo tổ chức y tế thế giới, có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ mang tàn tật vĩnh viễn Người bệnh đột quỵ thuộc loại đa tàn tật vì ngoài khả năng giảm vận động, người bệnh còn nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác [20] 1.1.5 Xử trí người bệnh đột quỵ não trước khi nhập viện
1.1.5.1 Hai quy tắc nhận biết đột quỵ sớm
Đột quỵ có thể được nhận biết sớm bằng Quy Tắc FAST hoặc BEFAST:
Hình 1: Quy tắc FAST
Trang 136
Hình 2 Quy tắc BEFAST 1.1.5.2 Sơ cứu bệnh nhân đột quỵ
Cần gọi người trợ giúp và ngay lập tức gọi xe cấp cứu Trong thời gian chờ hỗ trợ, cần theo dõi chặt chẽ để kịp thời phát hiện các thay đổi bất thường về tình trạng của người bệnh Nếu có bất cứ dấu hiệu suy giảm ý thức nào, hoặc bệnh nhân có dấu hiệu nôn mửa, cần đặt bệnh nhân sang tư thế nằm nghiêng an toàn
Tư thế nằm nghiêng an toàn (hay còn gọi là tư thế hồi sức cấp cứu) là tư thế nhằm bảo vệ đường thở của bệnh nhân, cũng lựa chọn tốt nhất trong việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Ở người bệnh hôn mê, khi nằm ngửa, lưỡi sẽ bị tụt xuống họng, gây cản trở, bít tắc đường thở Nếu bệnh nhân nôn trong khi đang nằm ngửa và ý thức không hoàn
Trang 147 toàn tỉnh táo, sẽ dễ dàng hít phải các chất nôn vào phổi, gây tắc đường thở hoặc suy hô hấp, rất nguy hiểm Do đó cần đặt bệnh nhân nằm nghiêng về một bên để các chất nôn dễ dàng thoát ra ngoài
1.1.6 Hướng dẫn sơ cứu đột quỵ tại nhà
Hình 3 Cách đặt bệnh nhân về tư thế nằm nghiêng an toàn Nếu bệnh nhân bất tỉnh hoặc lơ mơ nhưng còn thở bình thường: Nên đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng an toàn hoặc nằm ngửa, nhưng cần theo dõi kỹ Nếu bệnh nhân nôn mửa, cần chuyển ngay bệnh nhân sang tư thế nằm nghiêng, tránh sặc chất nôn vào đường hô hấp Lập tức gọi cấp cứu, đưa người bệnh tới bệnh viện
Nếu bệnh nhân còn tỉnh:
Trang 158
Hỗ trợ bệnh nhân nằm ở một tư thế thoải mái nhất và theo dõi phản ứng của bệnh nhân
Lập tức gọi cấp cứu, đưa người bệnh tới bệnh viện
Khi thực hiện sơ cứu đột quỵ tại chỗ thì tuyệt đối không cho bệnh nhân sử dụng thuốc hay ăn uống bất cứ thứ gì, không dùng kim chích 10 đầu ngón tay hay chân của người bệnh, không cạo gió
1.2.1.2.Việt Nam
Mỗi năm Việt Nam có hơn 200.000 (đột quỵ), hơn 50% trong số đó tử vong và 90%
số người sống sót sau đột quỵ phải sống chung với các di chứng về thần kinh và vận động [4], Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự thì tỷ lệ hiện mắc đột quỵ hiện nay đang ở mức khá cao, tỷ lệ này có sự khác nhau giữa các tỉnh, cao nhất tại Cần Thơ và thấp nhất tại Gia Lai Tỷ lệ mắc của cả nước là 1,62% [7]
Trang 169
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ hiện mắc đột quỵ não theo tỉnh/thành phố Việt Nam năm 2013 -
2014 1.2.2 Tình hình di chứng và tàn tật do đột quỵ
1.2.2.1 Thế giới
Theo WHO có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ trở thành tàn tật vĩnh viễn Còn Hakett cho biết 61% người bệnh sống sót sau TBMNN để lại di chứng, 50% phải phụ thuộc người khác trong sinh hoạt hàng ngày Tại Pháp, có 50% tàn phế do đột quỵ [14]
Theo David [18] các di chứng thường gặp trong bộ máy vận động bao gồm:
Đau khớp vai bên liệt do không cử động được hết tầm chiếm 45% người bệnh liệt nửa người
Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%
Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lưng bàn tay và duỗi các ngón tay chiếm 92%
Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%
1.2.2.2 Tại Việt Nam
Trang 1710 Hiện Việt Nam có khoảng 486.000 người còn sống sau đột quỵ; tuy nhiên, chỉ có khoảng 25-30% tự đi lại phục vụ bản thân được, 20-25% đi lại khó khăn, cần sự hỗ trợ của người khác trong sinh hoạt, 15-25% phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự phục vụ của người khác [6]
Ngoài ra, theo các thống kê khác, mặc dù tỷ lệ tử vong do đột quỵ tại Việt Nam kể
từ năm 2013 đến nay có giảm (khoảng 17%) so với trước kia nhưng số lượng người bệnh
bị tàn tật do đột quỵ lại có xu hướng tăng mạnh (chiếm 90%) với nhiều di chứng nặng nề như: liệt chi, liệt nửa người, viêm phổi, co cứng gân cơ, suy giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần dạng trầm cảm, loét vùng xương cùng - cụt và một số vị trí bị tỳ đè do nằm lâu…[6] 1.2.3 Thực trạng xử trí người bệnh đột quỵ não trước nhập viện
1.2.3.1 Thế giới
Khi nghiên cứu theo dõi những người sống sót sau đột quỵ lần đầu tiên, Motegi A và cộng sự cho biết hai năm sau đột quỵ có 62% các trường hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày khi người chăm sóc chính của họ có kiến thức đạt về phục hồi chức năng sau đột quỵ [13]
Nakayama H và cộng sự khi truyền thông chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng trong 3 tháng cho 220 người chăm sóc chính của người bệnh đột quỵ, kết quả sau can thiệp cho thấy có 68% người chăm sóc biết cách lăn trở người bệnh sang bên lành, bên liệt 70% trong số đó biết cách tập cho người bệnh ngồi dậy, đứng lên [16]
Chopra J.S và cộng sự khi tiến hành chương trình truyền thông về phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ với thời gian trung bình là 37 ngày Sau khi kết thúc chương trình, có 72% người chăm sóc người bệnh biết được việc tiến hành phục hồi chức năng sớm rất quan trọng, ảnh hưởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh sau này 63% người chăm sóc thường xuyên quan sát sắc mặt của người bệnh khi tiến hành tập phục hồi chức năng [17]
1.2.3.2 Tại Việt Nam
Theo tác giả Nguyễn Văn Lệ nghiên cứu tại Hà Đông năm 2015 kiến thức của người chăm sóc chính còn hạn chế trong một số nội dung khác như kiến thức về xoay trở người
Trang 1811 cho người bệnh chỉ chiếm 37,5% Thêm vào đó, trong nội dung về chăm sóc tư thế đúng cho người bệnh thì kiến thức của người thân về việc người bệnh cần có tư thế nằm đúng trên giường tương đối thấp [8]
Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy, có 10% người bệnh được đáp ứng nhu cầu được chỉ dẫn vị thế nằm đúng trên giường Tỷ lệ người thân có kiến thức về việc cần cho người bệnh có tư thế nằm đúng chỉ đạt 18,2% [11]
Trong kết quả nghiên cứu kiến thức của điều dưỡng viên về chăm sóc cho người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy: 73,1% có kiến thức đạt và 26,9% có kiến thức không đạt Đặc biệt, chỉ có 67,2% có kiến thức đạt về tổn thương thứ cấp, là những biến chứng mà người bệnh đột quỵ thường gặp phải nếu không được chăm sóc sớm và đúng [11]
Theo nghiên cứu của Mai Thọ Truyền và cộng sự năm 2010 về Đánh giá thực trạng điều trị và chăm sóc tại nhà của người bệnh đột quỵ sau ra viện ở quận Ô Môn thành phố Cần Thơ thì mức độ phục hồi của người bệnh sau đột quỵ gấp 6,56 lần khi người bệnh được sự chăm sóc của người thân [?] Theo Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự với chương trình PHCN dựa vào cộng đồng có 43,5% người tàn tật hội nhập xã hội [1] Còn khi tìm hiểu nhận thức nhu cầu và nguyện vọng của người tàn tật qua chương trình PHCN dựa vào cộng đồng tại 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Hà, Hoà Bình thấy rằng sự tiến bộ về mặt tinh thần, xã hội và thể chất là đáng ghi nhận tỷ lệ sức khoẻ của người tàn tật được cải thiện là 75,5%, người tàn tật có thể chăm sóc bản thân nhiều hơn là 54,4% từ khi tham gia vào chương trình PHCN dựa vào cộng đồng [1] Cao Minh Châu và cộng sự qua nghiên cứu tổng kết 83 trường hợp liệt nửa người tại các huyện triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng có sử dụng dụng cụ PHCN thấy rằng chức năng của người tàn tật được cải thiện, để phòng được các di chứng nặng nề, các biến dạng ở cổ tay, cổ chân so với nơi không có chương trình PHCN dựa vào cộng đồng và 81,4% người bệnh liệt nửa người có
sử dụng dụng cụ PHCN thì tình trạng tàn tật được cải thiện rõ rệt [1]