CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Tiêm là một kỹ thuật quan trọng trong y học, cho phép đưa thuốc, dịch dinh dưỡng và các chất khác như iốt đồng vị phóng xạ qua da vào cơ thể Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị bệnh, mang lại hiệu quả cao trong việc cung cấp các liệu pháp cần thiết cho bệnh nhân.
Có nhiều loại đường tiêm và được phân loại theo vị trí tiêm (ví dụ tiêm trong da, dưới da, bắp tĩnh mạch, trong xương, động mạch, màng bụng)
Khái niệm tiêm an toàn
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tiêm chủng an toàn (TAT) là quy trình tiêm không gây hại cho người nhận, không làm phơi nhiễm cho người thực hiện, và không tạo ra chất thải nguy hại cho cộng đồng.
Chất chống vi khuẩn là những hợp chất giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn trên mô sống hoặc da, khác với kháng sinh, vốn tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu Ngoài ra, chúng cũng khác với chất khử khuẩn dùng cho dụng cụ Một số chất sát khuẩn có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hoàn toàn, trong khi một số khác chỉ có tác dụng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát triển của chúng.
Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn
Dịch pha chế có chứa cồn dưới dạng gel hoặc kem bọt được sử dụng để xoa tay, giúp tiêu diệt hoặc giảm sự phát triển của vi sinh vật Các dung dịch này thường chứa một hoặc nhiều loại cồn, được pha chế theo công thức được công nhận bởi các hãng dược phẩm Để đảm bảo an toàn, cần đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng.
Kỹ thuật đậy nắp kim một tay là phương pháp an toàn cho nhân viên y tế Nhân viên cầm bơm kim tiêm bằng một tay, đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng Sau đó, họ sử dụng hai tay để đậy nắp lại, giúp giảm nguy cơ bị thương tích.
Các kỹ thuật kiểm soát nhiễm khuẩn bao gồm việc vệ sinh tay, sử dụng trang phục phòng hộ cá nhân, áp dụng chất khử khuẩn cho da, mở các bao gói vô khuẩn một cách an toàn và sử dụng dụng cụ vô khuẩn đúng cách.
Phơi nhiễm nghề nghiệp xảy ra khi nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch bài tiết có chứa tác nhân gây bệnh, từ đó làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE)
PPE bao gồm găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn và mặt nạ Mục đích của PPE là bảo vệ nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và người thăm bệnh khỏi nguy cơ phơi nhiễm, đồng thời hạn chế sự phát tán mầm bệnh ra môi trường Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt và quần áo bảo vệ trong quá trình tiêm Các thiết bị bảo hộ này chỉ nên được sử dụng khi người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu và dịch tiết (trừ mồ hôi).
Việc rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc các chất sát khuẩn Khuyến cáo áp dụng khi thực hiện kỹ thuật vô khuẩn
Dự phòng sau phơi nhiễm
Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đường máu sau phơi nhiễm
Tác nhân gây bệnh đường máu
Vi sinh vật có độc lực, có khả năng gây bệnh, lây truyền qua tiếp xúc với máu và các sản phẩm từ máu, gây ra các bệnh lý nghiêm trọng ở người Những tác nhân gây bệnh qua đường máu phổ biến bao gồm virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV), virus HIV và một số loại vi khuẩn khác.
Tổn thương do kim tiêm
Vết thương do kim tiêm đâm
Thùng đựng chất thải sắc nhọn
Hộp đựng vật sắc nhọn, còn được gọi là hộp kháng thủng hoặc hộp an toàn, được sản xuất từ chất liệu cứng, có khả năng chống thủng và rò rỉ Thiết kế của thùng này nhằm đảm bảo an toàn cho việc thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy các vật sắc nhọn Đặc biệt, hộp này cần phải tuân thủ đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế.
Bất kỳ vật nào có khả năng gây tổn thương cho da hoặc xâm nhập qua da đều có thể gây nguy hiểm, bao gồm các vật sắc nhọn như kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm.
Là bất cứ hình thức nào làm sạch tay gồm: rửa tay bằng xà phòng và nước hoặc sát khuẩn tay với dung dịch chứa cồn.
Các kỹ thuật tiêm truyền
Tiêm trong da là phương pháp tiêm một lượng thuốc nhỏ (1/10 ml) vào lớp thượng bì, chủ yếu nhằm tạo ra phản ứng da để kiểm tra phản ứng với kháng sinh hoặc tiêm vắc xin.
Tiêm dưới da là kỹ thuật đưa thuốc dưới dạng hoà tan trong nước vào tổ chức dưới da cho thuốc hấp thu chậm vào cơ thể
Tiêm bắp là tiêm một lƣợng thuốc vào trong bắp thịt (trong cơ), giúp thuốc hấp thu vào cơ thể nhanh hơn tiêm dưới da
Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch sử dụng kim để đưa thuốc vào tĩnh mạch với góc tiêm 30º so với bề mặt da Quan sát tĩnh mạch cần tiêm, nó phải nổi rõ, mềm mại và không di động, đồng thời vùng da xung quanh phải nguyên vẹn.
Bảng kiểm: Kỹ thuật tiêm trong da, dưới da, tiêm bắp [1]
Stt Các bước tiến hành Có Không
1 Điều dưỡng rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh
2 Thực hiện 5 đúng Nhận định người bệnh Giải thích cho người bệnh biết việc sắp làm
3 Kiểm tra lại thuốc sát khuẩn ống thuốc dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc
4 Xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc
5 Rút thuốc vào bơm tiêm
Stt Các bước tiến hành Có Không
6 Thay kim tiêm cho vào bao vừa đựng bơm tiêm vô khuẩn
7 Bộc lộ vùng tiêm xác định vị trí tiêm
Sát khuẩn vùng tiêm từ trong ra ngoài theo hình xoáy ốc đường kính trên 10 cm cho đến khi da sạch (tối thiểu 2 lần)
9 Cầm bơm tiêm đuổi khí
- Tiêm trong da: đâm chếch 10º-15º so với mặt da kim tiêm song song với mặt da mũi vát kim ngửa lên trên và ngập vào trong da
- Tiêm dưới da: đâm kim nhanh chếch 30º - 45º so với mặt da hoặc đâm kim vuông góc với mặt da véo/đáy da véo buông tay vùng da véo
-Tiêm bắp: đâm kim nhanh 60º-90º so với mặt da
- Tiêm trong da: Bơm thuốc chậm khi có cảm giác nặng tay
Khi thực hiện tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, hãy rút nhẹ nòng bơm tiêm để kiểm tra xem có máu hay không Nếu không có máu, tiến hành bơm thuốc từ từ và đồng thời quan sát sắc mặt của người bệnh Tốc độ tiêm bắp nên được duy trì ở mức 1ml/10 giây.
Sau khi sử dụng thuốc căng da, hãy nhanh chóng rút kim tiêm và cho vào hộp an toàn Nếu vị trí tiêm bị chảy máu hoặc rỉ thuốc, hãy đè áp lực trong vòng 30 giây hoặc cho đến khi không còn thấy máu chảy ra nữa.
Sát khuẩn lại vị trí tiêm
- Tiêm trong da: Không sát khuẩn lại trong trường hợp tiêm vắc xin Nếu thử phản ứng khoanh tròn nơi
Stt Các bước tiến hành Có Không tiêm ghi tên thuốc
- Tiêm dưới da, bắp: dùng bông gòn khô đè lên vết kim tiêm trong vòng 30 giây để phòng chảy máu
14 Hướng dẫn người bệnh nh ng điều cần thiết để người bệnh trở lại lại tƣ thế thích hợp thuận tiện
15 Thu dọn dụng cụ rửa tay
- Phiếu thử phản ứng (nếu thử phản ứng)
- Trong trường hợp sử dụng luân phiên các vị trí tiêm ghi rõ vị trí vừa tiêm
Bảng kiểm Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch [1] stt Các bước tiến hành có không
1 Điều dưỡng rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh
2 Thực hiện 5 đúng – Nhận định người bệnh giải thích cho người bệnh biết việc sắp làm
3 Kiểm tra lại thuốc sát khuẩn ống thuốc dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc
4 Xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc
5 Rút thuốc vào bơm tiêm
6 Thay kim tiêm đuổi khí cho vào bao đựng bơm tiêm vô khuẩn
7 Bộc lộ vùng tiêm xác định vị trí tiêm
8 Đặt gối kê tay dưới vùng tiêm (nếu cần) đặt dây ga rô/cao su phía trên vị trí tiêm khoảng 10 cm-15 cm
Chỉ nên sử dụng găng tay khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc khi da tay của người thực hiện thủ thuật bị tổn thương Việc tuân thủ các bước an toàn này là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe và ngăn ngừa lây nhiễm.
10 Buộc dây ga rô/cao su phía trên vị trí tiêm 10 cm-15 cm
11 Sát khuẩn sạch vùng tiêm từ trong ra ngoài theo hình xoáy ốc đường kính trên 10 cm tối thiểu 2 lần
- Cầm bơm tiêm đuổi khí (nếu còn khí)
- Căng da đâm kim chếch 300 so với mặt da và đẩy kim vào tĩnh mạch
13 Kiểm tra có máu vào bơm tiêm, tháo dây cao su
Bơm thuốc từ từ vào tĩnh mạch đồng thời quan sát theo dõi người bệnh theo dõi vị trí tiêm có phồng không
15 Hết thuốc rút kim nhanh kéo chệch da nơi tiêm Cho bơm kim tiêm vào hộp an toàn
16 Dùng bông gòn khô đè lên vùng tiêm phòng chảy máu
17 Tháo găng bỏ vào vật đựng chất thải lây nhiễm
18 Giúp người bệnh trở lại tư thế thoải mái dặn người bệnh nh ng điều cần thiết
19 Thu dọn dụng cụ rửa tay thường quy
Bảng kiểm Kỹ thuật truyền dịch tĩnh mạch ngoại vi [1] stt Các bước tiến hành có không
1 Điều dưỡng rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh
Thực hiện 5 đúng – nhận định người bệnh - Giải thích cho người bệnh biết việc sắp làm stt Các bước tiến hành có không
Cắt băng dính Kiểm tra dịch truyền sát khuẩn nút chai pha thuốc (nếu cần
4 Khóa dây truyền cắm dây truyền vào chai dịch
5 Treo chai dịch lên cọc truyền đuổi khí cho dịch chảy đầu 2/3 bầu đếm giọt đầy và khoá lại
Bộc lộ vùng truyền chọn tĩnh mạch đặt gối kê tay
(nếu cần) dây cao su/ ga rô dưới vùng truyền
(Chỉ sử dụng găng khi có nguy cơ phơi nhiễm với máu và khi da tay của người làm thủ thuật bị tổn thương)
8 Buộc dây cao su/garo trên vùng truyền 10 cm-15 cm
9 Sát khuẩn vị trí truyền từ trong ra ngoài đường kính trên 10 cm sát khuẩn đến khi da sạch (tối thiểu 2 lần)
Căng da đâm kim chếch 300 so với mặt da và đẩy kim vào tĩnh mạch thấy máu ở đốc kim tháo dây cao su/garo
11 Mở khoá truyền cho dịch chảy để thông kim
Cố định đốc kim, che và cố định thân kim bằng gạc vô khuẩn hoặc băng dính trong, cố định dây truyền dịch bằng băng dính
13 Tháo găng và bỏ vào vật đựng chất thải lây nhiễm vệ sinh tay
14 Rút gối kê tay và dây cao su/garo cố định tay người bệnh (nếu cần)
15 Điều chỉnh tốc độ dịch chảy theo y lệnh
Hướng dẫn cho người bệnh và người nhà về các bước cần thiết để đảm bảo người bệnh nằm ở tư thế thoải mái và thuận tiện Việc chọn tư thế phù hợp không chỉ giúp giảm đau mà còn hỗ trợ quá trình hồi phục nhanh chóng Người chăm sóc cần chú ý đến các yếu tố như độ cao của gối, độ nghiêng của cơ thể và sự hỗ trợ cho các bộ phận cần thiết.
17 Thu dọn dụng cụ rửa tay
18 Ghi phiếu truyền dịch và phiếu chăm sóc
1.3.5 Các giải pháp tăng cường thực hành tiêm an toàn
- Giảm hoặc loại bỏ các mũi tiêm không cần thiết
- Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, dụng cụ, thuốc cho kỹ thuật tiêm
- Tiêm phòng vắc xin viêm gan B cho nhân viên y tế và thiết lập, thực hiện hệ thống báo cáo các trường hợp phơi nhiễm nghề nghiệp
- Tăng cường kiến thức về TAT và KSNK
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
- Thực hành đúng quy trình kỹ thuật tiêm:
Chuẩn bị xe tiêm nhằm sử dụng dụng cụ, thuốc thích hợp, an toàn
Nguyên tắc thực hành tiêm: a Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm [1]
1) Thực hiện 5 đúng: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng đúng thời điểm, đúng đường tiêm để bảo đảm an toàn cho người bệnh
2) Phòng và chống sốc: trước khi tiêm cần hỏi người bệnh về tiền sử dị ứng thuốc dị ứng thức ăn trước khi cho người bệnh tiêm mũi thuốc đầu tiên Luôn mang theo hộp chống sốc khi đi tiêm Trong khi tiêm cần bơm thuốc chậm tốc độ thông thường trong tiêm bắp khoảng 1ml/10 giây, vừa tiêm vừa phải quan sát sắc mặt người bệnh Sau khi tiêm nên để người bệnh nằm hoặc ngồi tại chỗ 10 phút-15 phút đề phòng sốc phản vệ xuất hiện muộn
- Phát hiện sớm dấu hiệu của sốc phản vệ:
+ Thường xẩy ra sau khi tiêm từ vài giây đến 20-30 phút
+ Khởi đầu người bệnh có cảm giác ớn lạnh bồn chồn hốt hoảng buồn nôn, nôn, cảm giác khó thở đau ngực vã mồ hôi tay chân lạnh…
+ Mạch nhanh nhỏ huyết áp tụt ngứa ran khắp người đau quặn bụng đại tiểu tiện không tự chủ
- Xử trí của điều dƣỡng khi có dấu hiệu sốc phản vệ [6]
+ Cho người bệnh nằm nghỉ tại chỗ đầu thấp nới rộng quần áo và ủ ấm cho người bệnh
Tiêm dưới da 1/2 ống -1 ống Adrenalin 1mg ngay khi có dấu hiệu sốc phản vệ ở người lớn (0.01 mg/1 kg cân nặng, không quá 0.3ml cho trẻ em) Đồng thời, cần gọi người trợ giúp và thông báo cho bác sĩ để xin y lệnh điều trị Nếu không có bác sĩ, tiếp tục tiêm như trên mỗi 10-15 phút cho đến khi huyết áp trở lại bình thường.
Trong trường hợp không bắt được mạch ở người lớn, cần tiêm ngay 0,3-0,5 mg adrenaline vào tĩnh mạch lớn như tĩnh mạch bẹn, tĩnh mạch cảnh hoặc catheter tĩnh mạch trung tâm Tiến hành tiêm mỗi 5 phút cho đến khi mạch quay được bắt rõ.
Đối với bệnh nhân gặp khó khăn trong hô hấp, cần sử dụng ôxy qua mũi hoặc bóp bóng Ambu có ôxy Trong trường hợp nặng hơn, cần chuẩn bị ngay phương tiện cho bác sĩ thực hiện nội khí quản hoặc mở khí quản, đặc biệt nếu có hiện tượng phù thanh môn, và hỗ trợ hô hấp bằng thông khí nhân tạo.
+ Theo dõi huyết áp 10 phút-15 phút một lần
3) Phòng tránh xơ hóa cơ hoặc đâm kim vào dây thần kinh [1]
- Chọn vùng da tiêm mềm mại không có tổn thương không có sẹo lồi lõm
- Xác định đúng vị trí tiêm
- Tiêm đúng góc độ và độ sâu
- Khối lƣợng thuốc tiêm bắp cho mỗi lần tiêm không quá mức qui định
- Không tiêm nhiều lần vào cùng một vị trí trên cùng một người bệnh
- Luôn hỏi người bệnh về tiền sử dùng thuốc để tránh tương tác thuốc
- Bảo đảm đúng kỹ thuật vô khuẩn trong tiêm truyền
- Chuẩn bị thuốc và phương tiện tiêm ở môi trường sạch, không bụi, không vấy máu hoặc dịch
Sử dụng thuốc tiêm một liều là phương pháp an toàn và hiệu quả Nếu cần tiêm nhiều liều, hãy đảm bảo sử dụng kim tiêm vô khuẩn và không để kim tiêm tiếp xúc lâu với lọ thuốc để tránh nhiễm khuẩn.
- Không pha trộn hai hoặc nhiều loại thuốc vào 1 bơm tiêm Không dùng 1 kim tiêm để lấy nhiều loại thuốc
- Loại bỏ kim tiêm đã đụng chạm vào bất kỳ bề mặt nào không vô khuẩn
- Hướng dẫn người bệnh những điều cần thiết sau khi tiêm b Không gây nguy hại cho người tiêm [1]:
1) Nguy cơ bị phơi nhiễm do máu hoặc do kim tiêm/vật sắc nhọn đâm
- Mang găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của người bệnh
- Dùng gạc bọc vào đầu ống thuốc trước khi bẻ để tránh mảnh vỡ rơi vào ống thuốc rơi ra sàn nhà bắn vào người đâm vào tay
- Không dùng tay để đậy nắp kim sau tiêm nếu cần hãy sử dụng một tay và múc nắp đặt trên một mặt phẳng rồi mới đậy nắp kim
- Không tháo rời kim tiêm ra khỏi bơm tiêm sau khi tiêm
- Bỏ bơm kim tiêm kim truyền vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm
- Không để vật sắc nhọn đầy quá 3/4 hộp kháng thủng Đậy nắp và niêm phong hộp kháng thủng để vận chuyển tới nơi an toàn
- Không mở hộp không làm rỗng để sử dụng lại hộp kháng thủng sau khi đã đậy nắp hoặc niêm phong hộp
- Khi bị phơi nhiễm do vật sắc nhọn cần xử lý và khai báo ngay theo hướng dẫn
2) Phòng ngừa nguy cơ đổ lỗi trách nhiệm cho người tiêm:
- Thông báo giải thích rõ cho người bệnh hoặc người nhà trước khi tiêm thuốc
Trước khi thực hiện y lệnh, cần kiểm tra kỹ lưỡng nội dung ghi trong bệnh án Trong trường hợp cấp cứu, bác sĩ có thể ra y lệnh bằng miệng, nhưng điều dưỡng phải nhắc lại rõ ràng tên thuốc, hàm lượng và liều dùng để đảm bảo không xảy ra nhầm lẫn Sau khi xác nhận, điều dưỡng mới tiến hành tiêm và nhắc bác sĩ ghi ngay y lệnh vào hồ sơ bệnh án để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.
- Đánh giá tình trạng người bệnh trước trong và sau khi tiêm
- Pha thuốc và lấy thuốc tiêm trước sự chứng kiến của người bệnh hoặc người nhà người bệnh
- Ghi lại lọ/ống thuốc có ghi tên người bệnh đến hết ngày tiêm để làm vật chứng (nếu cần)
Ghi phiếu chăm sóc là việc quan trọng để theo dõi thuốc đã sử dụng, phản ứng của người bệnh, và các biện pháp chăm sóc trước, trong và sau khi tiêm thuốc Hành động này không chỉ đảm bảo sự an toàn cho bệnh nhân mà còn không gây nguy hại cho cộng đồng.
Để đảm bảo an toàn trong việc xử lý vật sắc nhọn, cần chuẩn bị hộp thùng kháng thủng cho các dụng cụ như kim tiêm hoặc máy cắt Các đơn vị sử dụng hộp hoặc lọ kháng thủng tự tạo phải tuân thủ tiêu chuẩn quy định tại Quyết định 43/2008/QĐ-BYT về quản lý chất thải y tế, cũng như hướng dẫn của WHO năm 2006 về quản lý chất thải y tế từ các hoạt động tiêm tại cơ sở y tế tuyến huyện.
- Tạo thành thói quen cho người tiêm: bỏ bơm kim tiêm vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm
- Thu gom và bảo quản bơm kim tiêm đã sử dụng theo đúng Quy chế quản lý chất thải y tế.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về tiêm an toàn trên thế giới
Kể từ khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phát hành hướng dẫn về "thực hành tốt nhất trong tiêm an toàn và các quy trình liên quan" vào tháng 3 năm 2010, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện trên toàn cầu về tiêm an toàn.
Một nghiên cứu về nhận thức và thực hành tiêm an toàn giữa các nhân viên điều dưỡng tại một bệnh viện ở Ai Cập và Ả Rập Xê Út vào tháng 7/2019 cho thấy rằng 98,8% y tá nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hành tiêm an toàn nhằm giảm thiểu các bệnh lây truyền qua đường máu Hơn nữa, 95,2% trong số họ cũng nhận thức được việc đặt hộp tiêu hủy vật sắc nhọn bên cạnh khu vực tiêm.
Nghiên cứu của Adejumo và Dada tại Bệnh viện Đại học Y và Bệnh viện Sản ở Ibadan đã so sánh kiến thức và thái độ thực hành tiêm an toàn của 385 điều dưỡng viên (ĐDV) Kết quả cho thấy 100% ĐDV đã nghe về tiêm an toàn (TAT), với mức độ kiến thức cao và không có sự khác biệt đáng kể giữa hai bệnh viện Tuy nhiên, chỉ có 70,4% ĐDV nhận thức được rằng tiêm không an toàn có thể dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đường máu Đáng lưu ý, 55,9% cho rằng việc dùng hai tay để đậy nắp kim tiêm không phải là thực hành TAT đúng, và 76,1% cho rằng bơm kim sau khi sử dụng phải được bỏ vào thùng đựng chất thải sắc nhọn.
Báo cáo năm 2009 của tổ chức USAID về việc đánh giá thực hiện TAT và quản lý chất thải do tiêm tại 71 cơ sở y tế ở 4 huyện của Ethiopia cho thấy rằng sau một năm triển khai chương trình can thiệp, thực hành tiêm của cán bộ y tế đã được cải thiện đáng kể.
Theo thống kê, 80% người thực hiện vệ sinh tay trước khi tiêm, trong khi 78% tiến hành phân loại bơm kim tiêm ngay sau khi tiêm So với năm 2004, tỷ lệ này chỉ đạt 4% và 8%.
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện vào năm 2009 trên 80 điều dưỡng viên tại một bệnh viện ở miền Tây Ấn Độ cho thấy chỉ có 12,5% điều dưỡng viên rửa tay bằng xà phòng và nước trước khi thực hiện tiêm Bên cạnh đó, có 42,5% điều dưỡng viên sử dụng hai tay để đậy nắp kim tiêm sau khi tiêm.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về tiêm an toàn tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về việc tiêm an toàn tại các cơ sở khám chữa bệnh và trong các trường đào tạo y tế Những nghiên cứu này nhằm nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình tiêm chủng, đảm bảo an toàn cho người bệnh và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Nghiên cứu của Phạm Thị Luân và cộng sự năm 2019 tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư cho thấy 96% điều dưỡng viên có kiến thức về tiêm an toàn Tuy nhiên, chỉ có 21,4% điều dưỡng viên thực hành thành thạo cả 4 kỹ thuật tiêm Cụ thể, tỷ lệ thực hành tiêm bắp đạt 61,4%, tiêm dưới da đạt 60%, tiêm tĩnh mạch đạt 52,9% và tiêm trong da đạt 51,4%.
Khảo sát năm 2015 của Vũ Thị Liên tại Bệnh viện đa khoa khu vực Định Quán cho thấy 98,89% điều dưỡng nhận thức được nguy cơ sốc phản vệ Tất cả điều dưỡng sử dụng kim lấy thuốc riêng, 98,89% thực hiện quy trình 2 nhanh 1 chậm, và 95,56% tuân thủ nguyên tắc 5 đúng khi tiêm Ngoài ra, 11,11% điều dưỡng dùng tay đậy nắp kim, trong khi 100% đồng ý với việc sử dụng bơm tiêm vô khuẩn, bỏ vật sắc nhọn vào hộp cứng và cô lập bơm tiêm nhiễm khuẩn.
Nghiên cứu của Phan Văn Tường và cộng sự năm 2012 cho thấy 82,6% điều dưỡng có kiến thức về tiêm an toàn, nhưng tỷ lệ thực hành đúng theo 23 tiêu chuẩn TAT chỉ đạt 22,2% Trong đó, 86,5% thực hành đúng 5 tiêu chuẩn về phương tiện và dụng cụ, 66,5% đúng 5 tiêu chuẩn kỹ thuật tiêm, nhưng chỉ có 45,0% thực hiện đúng 4 tiêu chuẩn về vô khuẩn Đáng chú ý, 88,8% không sử dụng tay để tháo nắp kim, 17,2% chưa tuân thủ việc cô lập kim và bơm tiêm ngay sau khi tiêm, và 31,9% không mang găng khi tiêm tĩnh mạch.
Dưới sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, đã triển khai tiêm an toàn với tỷ lệ tiêm an toàn ngày càng tăng Nhận thức của nhân viên y tế về tiêm an toàn được nâng cao, thực hành tiêm an toàn được chuẩn hóa, và tỷ lệ lây nhiễm bệnh qua tiêm truyền giảm đáng kể, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế và môi trường Để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, việc đánh giá thường xuyên về tiêm an toàn là cần thiết Các cơ sở y tế cần xây dựng kế hoạch cải thiện dựa trên kết quả đánh giá thực tế và các chỉ tiêu cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Y tế Vào năm 2010, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2642/QĐ-BYT thành lập Ban soạn thảo tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn, trong đó có tài liệu Hướng dẫn tiêm an toàn, với sự tham gia của các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này Tài liệu được xây dựng dựa trên chương trình đào tạo tiêm an toàn do Cục Quản lý khám, chữa bệnh phối hợp với Hội Điều dưỡng Việt Nam thực hiện.
Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành quyết định 3671/QĐ-BYT về "Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh", nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình tiêm chủng tại các cơ sở y tế Tài liệu này được phát hành với yêu cầu cụ thể để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Các cơ sở KBCB sử dụng tài liệu này để tổ chức tập huấn, nhằm hướng dẫn kiểm tra và giám sát việc cung ứng phương tiện tiêm thuốc cũng như thực hành TAT tại đơn vị của mình.
Các cơ sở đào tạo nhân viên y tế, bao gồm các trường đại học, cao đẳng và trung học y tế, sử dụng tài liệu này nhằm cập nhật và cải tiến chương trình đào tạo của mình.
Các cá nhân liên quan đến việc thực hành tiêm cần sử dụng tài liệu này để kiểm tra và giám sát quy trình tiêm truyền tĩnh mạch ngoại vi, đặc biệt là các nhân viên thu gom chất thải y tế.
MÔTẢ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Thông tin chung về khoa bệnh nhiệt đới bệnh viện tỉnh Phú Thọ
Khoa Bệnh nhiệt đới, được tách ra từ khoa Nội tổng hợp vào năm 1972 với tên gọi khoa Truyền nhiễm, đã chính thức đổi tên thành khoa Bệnh nhiệt đới vào ngày 01/4/2017 Khoa có chức năng tiếp đón, điều trị và tổ chức cách ly bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm, đồng thời tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh theo sự phân công của Ban giám đốc Khoa cũng tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện về kế hoạch phòng chống dịch trên địa bàn và thực hiện chức năng chỉ đạo tuyến cho tuyến dưới Với 44 giường bệnh, trong đó có 8 giường cấp cứu được trang bị đầy đủ thiết bị, khoa sẵn sàng tiếp nhận và điều trị bệnh nhân nặng Mỗi ngày, khoa tiếp nhận từ 40-50 bệnh nhân, trong đó khoảng 4-5 trường hợp nặng.
Người bệnh thường nhận y lệnh uống thuốc được kê đơn để điều trị tại nhà và hẹn tái khám Đối với bệnh nhân nội trú, 100% có y lệnh thuốc tiêm truyền, với trung bình mỗi bệnh nhân được thực hiện 1,3 mũi tiêm truyền mỗi ngày.
Khoa hiện có 19 nhân viên, bao gồm 9 bác sĩ và 11 điều dưỡng, trong đó 100% điều dưỡng là nữ Trong số các bác sĩ, có 6 bác sĩ có trình độ sau đại học Tất cả điều dưỡng đều có trình độ đại học trở lên, và phần lớn trong số họ có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm.
Nhân lực điều dưỡng có kinh nghiệm chuyên môn chiếm đa số, nhưng chỉ có 3-4 điều dưỡng phụ trách chăm sóc người bệnh, trong khi phần lớn thực hiện các công việc khác Trung bình, mỗi điều dưỡng chăm sóc từ 12-15 bệnh nhân mỗi ngày, thực hiện 12-19 mũi tiêm và hỗ trợ bệnh nhân trong các công việc cận lâm sàng Sự thiếu hụt nhân lực điều dưỡng, cùng với số lượng bệnh nhân đông và nhiều y lệnh thuốc tiêm truyền, đã dẫn đến một số hạn chế trong việc thực hiện tiêm an toàn.
Thực trạng tiêm an toàn của điều dƣỡng tại khoa bệnh nhiệt đới
2.2.1 Đặc điểm của điều dưỡng tại khoa bệnh nhiệt đới
Bảng 1 Phân bố điều dưỡng theo thâm niên công tác
Số năm công tác Số lƣợng Tỷ lệ(%)
Kết quả từ bảng 2 chỉ ra rằng, 63,6% điều dưỡng có thâm niên công tác trên 5 năm, trong khi đó, 36,4% điều dưỡng có thâm niên dưới 5 năm Điều này cho thấy phần lớn điều dưỡng đều sở hữu kinh nghiệm làm việc đáng kể.
Bảng 2 Phân bố điều dưỡng theo trình độ chuyên môn
Trình độ Số lƣợng Tỷ lệ(%)
Sau đại học 1 9,1 Đại học 10 90,9
Kết quả từ bảng 2 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng sau đại học là 9,1%, trong khi điều dưỡng đại học chiếm 90,9%, không có điều dưỡng cao đẳng Điều này cho thấy trình độ điều dưỡng trong khoa tương đối đồng đều.
2.2.2 Nhận thức của điều dưỡng về tiêm an toàn
Bảng 3 Nhận thức của điều dưỡng về định nghĩa tiêm an toàn
Không gây nguy hại cho người bệnh 11 100 0 0
Không gây phơi nhiễm cho người tiêm
Không gây nguy hại cho cộng đồng 11 100 0 0
Kết quả bảng 4 cho thấy 100% điều dƣỡng hiểu đúng định nghĩa tiêm an toàn
Bảng 4 Nhận thức của điều dưỡng về các nguy cơ xảy ra khi tiêm
Các nguy cơ chủ yếu có không
Shock phản vệ 11 100 0 0 Áp xe tại vùng tiêm 11 100 0 0
Lây truyền các bệnh qua đường máu 11 100 0 0
Kết quả bảng 4 cho thấy 100% điều dƣỡng nhận thức đƣợc các nguy cơ chính có thể xảy ra khi tiêm
Bảng 5 Đánh giá cách xử trí của điều dưỡng khi bị phơi nhiễm
Stt Nội dung đánh giá Đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ(%)
1 Tổn thương do kim tiêm hay vật sắc nhọn
Bắn máu và/hoặc dịch cơ thể lên da bị tổn thương
Bắn máu và/hoặc dịch cơ thể lên miệng hoặc mũi
Bắn máu và/hoặc dịch cơ thể lên da nguyên vẹn
5 Bắn máu hoặc dịch cơ thể lên mắt
Theo bảng 5, tỷ lệ điều dưỡng xử trí đúng khi bị phơi nhiễm đạt 73%, trong khi tỷ lệ xử trí sai là 15% Đặc biệt, không có điều dưỡng nào không biết cách xử trí khi gặp phải tình huống phơi nhiễm trong quá trình thực hành tiêm.
2.2.3 Kỹ năng của điều dưỡng về thực hành tiêm an toàn
Sau khi khảo sát 50 mũi tiêm truyền tại khoa Bệnh nhiệt đới của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ, tôi đã tiến hành đánh giá kỹ năng thực hành tiêm truyền tĩnh mạch (TAT) của các điều dưỡng thông qua các bảng thống kê.
Bảng 6 Bảng đánh giá mức độ an toàn cho người thực hiện mũi tiêm
Stt Nội dung đánh giá Đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ(%)
1 Mang găng khi tiêm tĩnh mạch, truyền dịch, truyền máu Đạt 35 70
2 Không dùng hai tay đậy nắp kim Đạt 50 100
Theo bảng 6, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong việc thực hiện tiêm chủng tại khoa đạt 85% Trong số đó, 70% các mũi tiêm được thực hiện với nhân viên y tế mang găng tay, và 100% nhân viên không sử dụng tay để tháo nắp kim tiêm.
Bảng 7: Bảng đánh giá mức độ an toàn cho người nhận mũi tiêm
Stt Nội dung đánh giá Đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ (%)
1 Hỏi tiền sử dị ứng của NB trước khi tiêm Đạt 40 80
2 Bơm kim tiêm vô khuẩn Đạt 50 100
3 Kim lấy thuốc đảm bảo vô khuẩn Đạt 32 64
4 Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi thực hiện tiêm truyền Đạt 41 82
5 Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh đủ 6 bước Đạt 30 60
Stt Nội dung đánh giá Đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ (%)
6 Tiêm thuốc đúng chỉ định Đạt 50 100
7 Tiêm thuốc đúng vị trí Đạt 50 100
8 Tiêm thuốc đúng thời gian Đạt 36 72
9 Tiêm đúng góc độ kim so với mặt da Đạt 45 90
10 Tiêm đúng độ sâu Đạt 50 100
11 Rút piton kiểm tra trước khi bơm thuốc Đạt 43 86
12 Bơm thuốc đảm bảo hai nhanh một chậm Đạt 47 94
Theo bảng 7, việc thực hiện TAT đảm bảo an toàn cho bệnh nhân trong khoa đạt tỷ lệ 86% Trong đó, 100% số mũi tiêm được thực hiện đúng chỉ định và đúng vị trí Đặc biệt, 80% số mũi tiêm đã hỏi về tiền sử dị ứng của bệnh nhân trước khi tiêm Về vệ sinh tay, 82% số mũi tiêm thực hiện vệ sinh tay trước khi tiêm, nhưng chỉ 60% thực hiện đầy đủ 6 bước Ngoài ra, 90% số mũi tiêm được thực hiện đúng góc độ và 72% số mũi tiêm đúng thời gian.
Bảng 8: Bảng đánh giá mức độ an toàn cho cộng đồng
Stt Nội dung đánh giá Đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ(%)
1 Có hộp sắc nhọn ở gần nơi tiêm Đạt 50 100(%)
Cô lập ngay kim bơm kim tiêm sau khi sử dụng trong hộp kháng thủng Đạt 50 100(%)
Khoa đã được trang bị đầy đủ hộp kháng thủng để đảm bảo an toàn, và 100% đội ngũ y tế thực hiện việc cô lập bơm kim tiêm sau khi sử dụng.
Bảng 9: Bảng đánh giá thực trạng TAT tính theo từng nội dung
Stt Nội dung đánh giá Đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ(%)
1 An toàn cho người thực hiện mũi tiêm Đạt 85 85
2 An toàn cho người nhận mũi tiêm Đạt 514 86
3 An toàn cho cộng đồng Đạt 100 100
Qua bảng 9 cho thấy: ĐD của khoa thực hiện TAT tương đối tốt với 87,4% số mũi tiêm đạt tiêu chuẩn, chỉ có 12,6% số mũi tiêm không đạt.
BÀN LUẬN
Thực trạng của vấn đề
3.1.1 Những việc đơn vị hiện nay đang làm được (ưu điểm)
Dựa trên hướng dẫn tiêm an toàn của Bộ Y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ đã thiết lập quy trình chuẩn và bảng kiểm thực hành cho các kỹ thuật tiêm truyền Bệnh viện thường xuyên tổ chức thi tay nghề cho đội ngũ điều dưỡng, với sự ưu tiên đánh giá các kỹ thuật tiêm Hàng năm, các lớp tập huấn tiêm an toàn được tổ chức nhằm nâng cao kiến thức cho nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới.
Phòng Điều dưỡng – Quản lý chất lượng bệnh viện kết hợp với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và điều dưỡng trưởng khoa tiến hành kiểm tra và giám sát thường xuyên việc thực hiện tiêm an toàn, kiểm soát nhiễm khuẩn, cũng như phân loại rác thải của nhân viên trong khoa.
Trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu trong khoa bệnh nhiệt đới của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ rất cao, với 90,9% là điều dưỡng Đại học và 9,1% là điều dưỡng sau đại học Hầu hết điều dưỡng có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hành tiêm an toàn (TAT) Ngoài ra, trang thiết bị và dụng cụ phục vụ cho công tác tiêm an toàn cũng được trang bị đầy đủ và đồng bộ, bao gồm hộp chống sốc, thùng sắc nhọn, thùng đựng rác thải và dung dịch sát khuẩn tay nhanh đạt tiêu chuẩn.
Tỷ lệ mũi tiêm an toàn đạt tiêu chuẩn cao, với 87,4% tổng số mũi tiêm được thực hiện Cụ thể, 85% mũi tiêm an toàn cho người thực hiện, 86% cho người bệnh và 100% cho cộng đồng.
3.1.2 Những việc đơn vị hiện nay chưa làm được (nhược điểm)
Một số điều dưỡng vẫn chưa tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn của TAT, như không đảm bảo vô khuẩn kim lấy thuốc, thực hiện chưa đầy đủ 5 thời điểm rửa tay, hoặc vệ sinh tay không đủ 6 bước Thêm vào đó, một số điều dưỡng không vệ sinh xe tiêm trước khi tiêm, gây ra nguy cơ không an toàn cho bệnh nhân.
Còn 12,6% số mũi tiêm chƣa đạt chuẩn TAT
Còn 40% ĐD thực hiện vệ sinh tay không đủ 6 bước
Còn 28% số mũi tiêm chƣa đƣợc thực hiện đúng thời gian chỉ đinh và còn 14% số mũi tiêm không được rút piton kiểm tra trước khi tiêm
Còn 15% mũi tiêm chưa an toàn cho người thực hiện mũi tiêm, 14% mũi tiêm chưa an toàn cho NB
Tỷ lệ điều dưỡng xử trí sai khi bị phơi nhiễm là 27%, trong đó tỷ lệ xử trí nguy cơ với vật sắc nhọn lên đến 36,6% Đặc biệt, tỷ lệ xử trí sai khi máu hoặc dịch cơ thể bắn lên mắt đạt 45,5% Đây là một tỷ lệ cao, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện biện pháp bảo vệ cá nhân trong công tác tiêm an toàn.
Nguyên nhân tồn tại của những việc làm đƣợc và chƣa làm đƣợc
Việc triển khai tập huấn TAT cho điều dưỡng chủ yếu tập trung vào nhân viên mới, nhưng cần đa dạng hóa nội dung để phù hợp với điều kiện làm việc và khả năng tiếp thu của điều dưỡng Hình thức tập huấn theo nhóm nhỏ và thực hành trên bệnh nhân tại các khoa lâm sàng giúp nâng cao kỹ năng tiêm Chất lượng người hướng dẫn cũng rất quan trọng; nếu không nhấn mạnh những thay đổi trong kiến thức và thực hành tiêm, hiệu quả tập huấn sẽ giảm Phòng Điều dưỡng cần rà soát quy trình tiêm để đảm bảo phù hợp với Hướng dẫn TAT Tuy nhiên, điều dưỡng gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện tiêm an toàn do quá đông bệnh nhân, thiếu thời gian, trang thiết bị, và sự giám sát không đủ từ điều dưỡng trưởng Điều tra cho thấy 100% điều dưỡng đồng ý rằng họ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, dẫn đến việc giảm thời gian chăm sóc trực tiếp cho bệnh nhân, đặc biệt vào ngày nghỉ và lễ, làm tăng nguy cơ không an toàn trong quy trình tiêm.
NB, NVYT và cộng đồng
Hai là một phần cũng do ý thức chủ quan của một bộ phận điều dƣỡng có thói quen làm tắt quy trình.
Giải pháp để giải quyết vấn đề tồn tại
3.3.1 Giảm thiểu các mũi tiêm mà điều dưỡng phải thực hiện
Chuyên đề này không tập trung vào việc thay đổi y lệnh điều trị của bác sĩ để giảm số lượng thuốc tiêm truyền, mà thay vào đó, nó đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu số mũi tiêm truyền mà điều dưỡng phải thực hiện hàng ngày.
- Tập chung nhân lực điều ĐD thực hiện tiêm truyền trong giờ cao điểm, các thủ tục hành chính thực hiện sau
- Bổ xung nhân lực ĐD đi làm giờ hành chính trong các ngày nghỉ, lễ khi số lƣợng NB đông để đảm bảo công tác TAT
3.3.2 Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, dụng cụ, thuốc cho kỹ thuật tiêm Điều dưỡng trưởng khoa tiếp tục thường xuyên theo dõi sử dụng vật tư tiêu hao, có kế hoạch dự trù, bổ xung kịp thời trang thiết bị y tế phục vụ TAT, đặc biệt bơm kim tiêm vô khuẩn sử dụng một lần Các bơm kim tiêm phải bảo đảm đủ kích cỡ yêu cầu chuyên môn và lưu ý đến an toàn cho người tiêm và cộng đồng
3.3.3 Tăng cường kiến thức về TAT và KSNK
- Điều dưỡng trưởng khoa thường xuyên tổ chức đào tạo tại chỗ về TAT cho ĐD trong khoa, đặc biệt là nhân viên mới
Để nâng cao hiệu quả công tác TAT trong khoa, cần thực hiện kiểm tra và giám sát hàng ngày đối với thực hành TAT của nhân viên Đồng thời, định kỳ kiểm tra lý thuyết và sử dụng bảng kiểm TAT để đánh giá quy trình tiêm truyền Qua đó, cần phân tích điểm mạnh và điểm yếu của đội ngũ về kiến thức và thực hành TAT, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục phù hợp.
Để đảm bảo quy trình TAT được thực hiện đầy đủ, cần thường xuyên nhắc nhở và đôn đốc những cá nhân có xu hướng bỏ qua bước quan trọng Việc giúp họ nhận thức rõ về những nguy cơ tiềm ẩn khi không tuân thủ quy trình là rất cần thiết Đồng thời, giám sát chặt chẽ và thường xuyên hơn đối với những nhân viên có ý thức thực hiện TAT chưa cao cũng là một giải pháp hiệu quả.
3.3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát Điều dưỡng trưởng khoa phối hợp với khoa KSNK, phòng ĐD-QLCL tăng cường kiểm tra giám sát thực hiện tiêm an toàn, tuân thủ vệ sinh tay, tuân thủ quy trình tiêm, phân loại rác thải y tế và KSNK của điều dƣỡng trong khoa nhằm thay đổi hành vi của nhân viên theo hướng tích cực, thực hiện tiêm an toàn tốt hơn
3.3.5 Thực hành đúng quy trình kỹ thuật tiêm Điều dƣỡng trong khoa cần tích cực học tập, cập nhật kiến thức về TAT, thay đổi hành vi, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiêm sao cho thành thói quen, hạn chế các động tác thừa không an toàn, nhưng cũng không làm tắt, bỏ bước gây nguy cơ mất an toàn cho bản thân, NB và cộng đồng.