Theo thống kê của phòng kế hoạch tổng hợp, năm 2020 có khoảng gần 700 lít máu được truyền cho người bệnh, năm 2019 là 612 lít.[1] Công tác truyền máu thường do điều dưỡng đảm nhận, do đó
Trang 1NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
Trang 2NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2021
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS TRẦN VĂN LONG
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đở quý báu của các Thầy/Cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Điều dưỡng trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, khoa Khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này
- Tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến quý Thầy/Cô, những người đã trực tiếp giảng dạy, đôn đốc nhắc nhỡ và góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
- Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Trần Văn Long người thầy đã hết lòng giúp đỡ hướng dẫn tận tình và đầy nhiệt quyết trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành chuyên đề này
- Trân trọng cảm ơn những người bệnh đồng ý tham gia công trình nghiên cứu này và gia đình của họ đã hợp tác tốt và cung cấp những thông tin quý giá để tôi thực hiện nghiên cứu
- Tôi xin bày tỏ lòng tri ân đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã thường xuyên động viên, hỗ trợ, chia sẻ với tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cám ơn!
Nam Định, ngày tháng năm 2021 Học viên
Nguyễn Thị Kiều Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Thị Kiều Trang - Học viên lớp chuyên khoa 1, chuyên nghành Điều dưỡng Nội người lớn - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Tôi xin cam đoan chuyên đề “Thực trạng kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu của điều dưỡng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2021” do chính bản thân tôi thực hiện, tất
cả nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Nam Định, ngày tháng năm 2021
Học viên
Nguyễn Thị Kiều Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN .ii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC BẢNG iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Đại cương về truyền máu 3
1.2 Cơ sở pháp lí hoạt đông truyền máu 7
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 15
1.2.1 Một số nghiên cứu về an toàn truyền máu trên thế giới 15
2.2 Một số nghiên cứu về an toàn truyền máu tại Việt Nam 15
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆTHỰC TIỄN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN 17
2.1 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện C Thái Nguyên 17
2.2 Đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành an toàn truyền máu của điều dưỡng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2021 18
2.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng khảo sát 18
2.2.3 Kiến thức thực hành về an toàn truyền máu: 21
CHƯƠNG 3 - BÀN LUẬN 23
3.1 Thực trạng Kiến thức về an toàn truyền máu của đối tượng khảo sát: 23
3.2 Thực trạng thực hành về an toàn truyền máu: 25
3.3 Ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân 26
3.4 Đề xuất giải pháp 27
KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2 1: Thông tin về đối tượng khảo sát Error! Bookmark not defined Bảng 2 2: Nhận thức về các dấu hiệu bất thường của túi máuError! Bookmark not defined
Bảng 2 3 Phương pháp định nhóm máu ABO tại giườngError! Bookmark not defined
Bảng 2 4: Chế phẩm máu cần định nhóm ABO của túi máu tại giường Error! Bookmark not defined
Bảng 2 5 Các chế phẩm máu cần làm phản ứng chéo tại giườngError! Bookmark not defined
Bảng 2 6: Tai biến khi truyền máu Error! Bookmark not defined Bảng 2 7: Chế phẩm máu đã truyền Error! Bookmark not defined Bảng 2 8: Thực hiện truyền máu tại khoa Error! Bookmark not defined
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Máu là nguồn sống trong cơ thể chúng ta, là một dược phẩm vô giá, chưa có thứ thuốc nào thay thế được Máu chiếm 1/13 đến 1/15 trọng lượng của cơ thể, máu rất cần cho cơ thể vì mang những chất nuôi dưỡng các tế bào và chuyển những chất thải đến các bộ phận bài tiết Cho đến nay máu vẫn được xem là dung dịch tốt nhất
và không thể thiếu được trong điều trị khi bệnh nhân bị mất máu do bất kỳ nguyên nhân nào [3]
Trong thực hành y khoa, máu rất quan trọng và cần thiết cho việc điều trị nội khoa, cấp cứu ngoại khoa và sản khoa; đồng thời nó rất cần trong việc triển khai nhiều kỹ thuật cao như ghép tạng, mổ tim Nhờ có máu mà nhiều bệnh nhân đã được cứu sống Tuy nhiên, việc truyền máu có thể gây ra nhiều tai biến nghiêm trọng nếu không được đảm bảo và tuân thủ các nguyên tắc về an toàn truyền máu [4] Truyền máu là một phương pháp điều trị không thể thiếu trong rất nhiều chuyên khoa Bên cạnh việc cứu sống bệnh nhân, mang lại hiệu quả điều trị mà chưa có một dược phẩm nào thay thế được, các phản ứng miễn dịch của truyền máu có thể gây tử vong trước mắt và ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh về sau nếu việc truyền máu không tuân thủ đúng quy chế truyền máu [7]
An toàn truyền máu là một quy trình khép kín, từ việc chỉ định truyền máu đúng, sử dụng đúng máu và các chế phẩm phù hợp, theo dõi và xử trí tốt các biểu hiện trong quá trình truyền máu, theo dõi các tai biến có thể xảy ra trong và sau khi truyền máu nhằm hạn chế và phòng ngừa các phản ứng bất lợi có thể ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân cũng như sức khỏe của bệnh nhân về sau[5]
Tại Bệnh viện C Thái Nguyên, máu và chế phẩm máu cũng được sử dụng khá nhiều Theo thống kê của phòng kế hoạch tổng hợp, năm 2020 có khoảng gần 700 lít máu được truyền cho người bệnh, năm 2019 là 612 lít.[1]
Công tác truyền máu thường do điều dưỡng đảm nhận, do đó người điều dưỡng giữ vai trò quan trọng cuối cùng trong việc thực hiện truyền máu an toàn.Để việc đưa các chế phẩm máu vào cơ thể người bệnh kịp thời và đúng chỉ đinh, yêu cầu người điều dưỡng cần có đầy đủ kiến thức và kỹ năng về an toàn truyền máu Tuy nhiên, việc thực hành truyền máu của điều dưỡng tại các khoa còn nhiều vấn đề tồn tại hay làm tắt, cắt bỏ các bước thực hiện hoặc có làm nhưng không đúng hoặc đầy đủ, các sai sót không được báo cáo kịp thời Câu hỏi đặt ra là công tác truyền
Trang 9máu của điều dưỡng tại Bệnh viện C Thái Nguyên đã đạt các tiêu chuẩn về kiến thức an toàn truyền máu chưa? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến kiến thức an toàn truyền máu của điều dưỡng và cần phải làm gì để luôn đảm bảo an toàn truyền máu cho người bệnh Xuất phát từ thực tế kể trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
"Thực trạng kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu của điều dưỡng tại bệnh viện C Thái Nguyên năm 2021”
Trang 10CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Đại cương về truyền máu
* Các khái niệm liên quan
Máu: là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí cacbonic, axit lactic Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào và các chất khác nhau như amino acid, lipid, hormon giữa các tổ chức và cơ quan trong cơ thể
Truyền máu:
TM lâm sàng là các hoạt động liên quan đến việc đưa máu và các chế phẩm máu vào trong mạch máu của người nhận TM là một khâu quan trọng của hệ thống cấp cứu Muốn TM hiệu quả và an toàn (AT), điều cấp thiết là phải có đủ số lượng máu và đảm bảo đúng chất lượng [4]
TM được sử dụng trong nhiều tình huống, nhiều chuyên khoa nhằm bổ sung cho sự thiếu hụt một hoặc nhiều thành phần trong máu của người bệnh BN thiếu máu có thể được TM toàn phần hoặc các chế phẩm như: khối hồng cầu, khối bạch cầu, khối tiểu cầu, các chế phẩm huyết tương tùy thuộc vào tình trạng bệnh [6]
An toàn truyền máu:
ATTM là một trong những yêu cầu cơ bản của truyền máu ATTM là một quy trình khép kín từ việc chỉ định truyền máu đúng, sử dụng đúng máu và các chế phẩm phù hợp, theo dõi và xử trí tốt các biểu hiện trong quá trình TM, theo dõi các tai biến (TB) có thể xảy ra trong và sau khi TM nhằm hạn chế và phòng ngừa các phản ứng bất lợi có thể ảnh hưởng đến tính mạng NB cũng như sức khỏe của NB về sau [10] ATTM ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng là AT cho người cho máu, AT cho nhân viên làm công tác TM, AT cho người nhận máu [4] Những yêu cầu của ATTM là:
- An toàn về số lượng: đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, thường xuyên ổn định máu và chế phẩm máu có chất lượng cho điều trị, cấp cứu, dự phòng thảm họa Đảm bảo số lượng máu bao gồm đảm bảo cơ số theo từng chế phẩm máu cần cho điều trị và theo các nhóm máu (hệ ABO, hệ RH ) [6]
Trang 11- An toàn về chất lượng máu được lấy từ người hiến máu tự nguyện Phải ưu tiên lấy máu vùng nguy cơ thấp nhất để tránh giai đoạn cửa sổ Lấy máu phải được khám xét cẩn thận để tìm ra được yếu tố bất thường, để chăm sóc sức khỏe và tư vấn cho người hiến máu [4] Máu và các chế phẩm của máu có chất lượng được cung cấp cho các cơ sở y tế mọi khu vực nhằm đảm bảo công bằng cho người dân trong hưởng thụ dịch vụ TM
- An toàn cho người hiến máu: Người hiến máu phải được tư vấn, khám lâm sàng, xét nghiệm tuyển chọn, chăm sóc và hướng dẫn đầy đủ chu đáo trong quá trình hiến máu nhừm giảm các tai biến Người hiến máu là người khỏe mạnh, có đủ điều kiện theo qui định và tự nguyện hiến máu toàn phần hay một số thành phần của máu [4]
- An toàn cho nhân viên làm công tác tryền máu: được trang bị đầy đủ các kiến thức về ATTM, được bảo hộ lao động và đảm bảo các vấn đề pháp lí
- An toàn cho người nhận máu: đảm bảo an toàn về số lượng máu, đảm bảo mọi nhu cầu về máu khi NB cần, đảm bảo về chất lượng máu và thực hiện đầy đủ qui định và qui trình TM
Tuy nhiên những năm gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều yếu tố nguy cơ tới ATTM như: sự xuất hiện của các mầm bệnh lây qua đường truyền máu, sự xuát hiện và bùng phát cả vụ dịch với các dạng biến thể của các chủng virus làm nguồn người hiến mấu có xu hướng thu hẹp lại Do đó, việc áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo ATTM ở mỗi quốc gia càng trở nên cấp thiết [3]
1.1.1 Chỉ định truyền máu [2], [3]
Có nhiều lí do NB được truyền máu bao gồm bệnh tật, phẫu thuật thương tật
và bệnh tật Tùy vào nguyên nhân mà người nhận được TM toàn phần hay chế phẩm của máu
- Phẫu thuật chấn thương hay bệnh thiếu máu: mất máu trong khi phẫu thuật hoặc chấn thương có thể yêu cầu truyền những gì được gọi là “đóng gói các tế bào máu đỏ” Ngoài ra, thiếu máu là khi có các tế bào máu quá ít màu đỏ, có thể yêu cầu truyền các tế bào máu đỏ đóng gói
- Xuất huyết cần TM để bù lại lượng máu đã mất đồng thời cung cấp thêm các yếu tố đông máu [2]
- Giảm tiểu cầu, thiếu hụt các yếu tố đông máu bẩm sinh hay mắc phải
Trang 12- Ung thư: ung thư có thể làm giảm sản xuất các tế bào máu đỏ, các tế bào bạch cầu và tiểu cầu của cơ thể bằng các tác động đến các cơ quan có ảnh hưởng đến mau chẳng hạn như thận, tủy xương và lách
- Nhiễm trùng, suy gan hoặc các vết bỏng nặng: có thể cần truyền huyết tương (một phần chất lỏng của máu)
- Rối loạn về máu: những người có bệnh về máu và những người cấy ghép tế bào gốc có thể được truyền tế bào hồng cầu và tiểu cầu
1.1.3 Nguyên tắc trong truyền máu
- Truyền cùng nhóm máu để tránh kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau gây ra hiện tượng hồng cầu kết dính với nhau (ngưng kết)
- Ngoài việc xác định nhóm máu của người cho và người nhận máu, cần phải làm phản ứng chéo bằng các trộn hồng cầu của người cho với huyết thanh của người nhận và ngược lại Nếu không có hiện tượng ngưng kết hồng cầu thì máu đó mới được truyền cho người nhận
- Kiểm tra chất lượng máu: nhóm máu, số lượng màu sắc, đảm bảo vô khuẩn Theo dõi quá trình TM, dấu hiệu sinh tồn cuả NB, dây TM, tốc độ theo y lệnh [2]
Hình 1: Sơ đồ truyền máu hệ ABO1.1.4 Ý nghĩa trong thực hành truyền máu
Truyền máu để nuôi dưỡng các tế bào và cơ quan trong cơ thể nhằm duy trì
sự sống của con người
- Bất kì nguyên nhân nào gây ra thiếu máu nhiều thì đều phải truyền máu Truyền máu cũng là để chống chảy máu ngoài hoặc sâu trong cơ thể hoặc ở khơp
Trang 13như trong bệnh máu khó đông và các bệnh rối loạn đông cầm máu Truyền máu còn
để phục hồi các chứng suy dinh dưỡng
Tùy theo thể trạng mà bác sĩ sẽ cho dùng khối hồng cầu hoặc khối huyết tương hoặc khối tiểu cầu Ngày nay truyền máu là cách điều trị tốt nhất trong cấp cứu và điều trị nội, ngoại, sản, nhi và các chuyên khoa khác Không có một chất nào
có thể thay thế máu
1.1.5 Tai biến thường gặp trong truyền máu và biện pháp xử trí
1.1.5.1 Phản ứng tan máu cấp do truyền máu
- Thường gặp do truyền máu toàn phần hoặc khối hồng cầu không tương đồng về nhóm ABO
- Biểu hiện lâm sàng: kích thích, lo lắng, đỏ da, buồn nôn, nôn, đau vị trí truyền máu, đau bụng, đau lưng, sốt/ rét run, mạch nhanh, hạ huyết áp, chảy máu không cầm, nước tiểu sẫm màu [3]
- Xử trí: lập tức ngừng truyền máu, điều trị ức chế phản ứng miễn dịch- dị ứng, nâng huyết áp, duy trì đường thở phù hợp và đảm bảo lọc máu bằng dung dịch truyền, thuốc lợi tiểu, chạy thận nhân tạo khi cần sẫm màu [5]
1.1.5.2 Phản ứng tan máu muộn do truyền máu
- Do hiện tượng thứ phát chống lại các đồng kháng nguyên hồng cầu Kháng thể bắt đầu tạo ra sau khi người bệnh tiếp xúc với kháng nguyên lạ trong máu truyền 1- 2 tuần [4]
- Biểu hiện lâm sàng: không có biểu hiện lâm sàng đặc hiệu mà chỉ giảm nồng độ Hemoglobin Trường hợp nặng hơn có thể có các biểu hiện đặc trưng như rét run, vàng da, thiếu máu
- Xử trí: do mức đọ này nhẹ hơn nên không cần điều trị tích cực chỉ diều trị triệu chứng, chống vô niệu, suy thận
1.1.5.3 Phản ứng sốt sau truyền máu không do tan máu
Đây là phản ứng phổ biến, nhưng thường không phải là nghiêm trọng Khi một cơn sốt phát triển nhanh chóng trong quá trình truyền hoặc ngay sau khi truyền
nó dược gọi là sốt phản ứng
- Nguyên nhân: Là do không phù hợp nhóm bạch cầu và tiểu cầu của người cho và người nhận
Trang 14- Biểu hiện lâm sàng: Sốt đơn thuần không quá 1,5 độ với trước truyền, có thể kèm theo rét run và đau đầu, buồn nôn [3]
- Xử Trí: Tạm ngừng truyền máu, sử dụng paracetamol 10 mg/kg uống hoặc tiêm truyền
1.1.5.4 Phản ứng sốc phản vệ
- Thường xuất hiện ngay sau khi truyền máu
- Biểu hiện lâm sàng: Khó thở, tụt huyết áp, nôn, đau bụng, vã mồ hôi, đại tiểu tiện không tự chủ, co thắt khi- phế quản
- Xử trí: hỗ trợ hô hấp, thở oxy, chống co thắt khi- phế quản, truyền dịch, adrenalin, dopamine, corticoic
1.1.5.5 Các phản ứng dị ứng do truyền máu [3]
Mặc dù sẽ được cung cấp máu phù hợp với nhóm máu, nó vẫn có thể có một phản ứng dị ứng với các thành phần máu được truyền
- Mề đay: Do các dị nguyên có trong huyết tương và các chế phẩm máu khác
có chứa huyết tương dẫn đến giải phóng Histamine từ các mastocyt bị kháng thể (IgG, IgE) bao phủ [5]
- Bệnh nhân nổi sẩn ngứa khắp người
- Xử trí bằng cách tạm ngừng truyền máu và điều trị chống dị ứng bằng cách dùng loại thuốc kháng Histamin
1.2 Cơ sở pháp lí hoạt đông truyền máu
Thông tư 26/2013/TT-BYT ngày 16/09/2013 về Hướng dẫn hoạt động truyền máu Điều 21 Nhãn của đơn vị máu và chế phẩm máu
Ngoài việc tuân thủ các quy định hiện hành về ghi nhãn hàng hóa, nhãn của đơn vị máu, chế phẩm máu phải có những thông tin như sau:
1 Tên, địa chỉ cơ sở điều chế máu và chế phẩm
2 Tên loại chế phẩm máu
3 Mã số của đơn vị máu, chế phẩm máu: chỉ có một mã số duy nhất cho phép truy nguyên các thông tin về người hiến máu, quá trình lấy máu, sàng lọc, điều chế, lưu trữ, vận chuyển, phân phối và sử dụng đơn vị máu, chế phẩm máu
4 Nhóm máu hệ ABO và Rh(D); thông tin về các nhóm máu khác (nếu có)
5 Ngày, tháng, năm lấy máu
Trang 156 Tên dung dịch chống đông hoặc dung dịch bảo quản (đối với máu toàn phần hoặc khối hồng cầu)
7 Ngày hết hạn sử dụng
8 Thể tích hoặc cân nặng của đơn vị chế phẩm máu
9 Nhiệt độ bảo quản
10 Ghi chú trên tất cả nhãn của túi máu, chế phẩm máu: “Cần truyền qua bộ dây truyền có bầu lọc; không được truyền nếu có hiện tượng tan máu, màu sắc bất thường” Riêng với máu, chế phẩm máu đã chiếu xạ, cần ghi thêm: “Đã chiếu xạ”.) Điều 38 Nguyên tắc cấp phát, sử dụng, thu hồi máu và chế phẩm máu
1 Chỉ được cấp phát đơn vị máu và chế phẩm máu cho người bệnh khi: không phát hiện thấy nguy cơ nhiễm các tác nhân lây truyền bệnh qua đường máu;
có đầy đủ kết quả xét nghiệm định nhóm máu hệ ABO, Rh(D); đơn vị máu, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn quy định tương ứng và không vượt quá thời hạn sử dụng theo quy định đối với từng loại; không có các dấu hiệu bất thường khi kiểm tra hình thức bên ngoài; bảo đảm hòa hợp miễn dịch giữa đơn vị máu, chế phẩm máu và người được truyền máu
2 Chỉ định sử dụng truyền máu hợp lý trên cơ sở tình trạng bệnh lý của từng người bệnh
3 Bộ phận phát máu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện xét nghiệm hòa hợp miễn dịch truyền máu và trực tiếp cấp phát máu cho các khoa điều trị lâm sàng thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thực hiện truyền máu, chế phẩm máu cho người bệnh
Điều 41 Kiểm tra hình thức bên ngoài túi máu, chế phẩm máu
1 Phải kiểm tra hình thức bên ngoài túi máu và chế phẩm máu trong các trường hợp sau:
a) Giao nhận giữa các bộ phận trong cơ sở truyền máu;
b) Giao nhận giữa cơ sở cung cấp máu và đơn vị phát máu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc giữa các đơn vị phát máu của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với nhau hoặc giao nhận giữa cơ sở cung cấp máu với nhau c) Giao nhận giữa đơn vị phát máu và đơn vị điều trị của cùng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Trang 162 Không sử dụng các đơn vị máu và chế phẩm máu, khi phát hiện thấy các dấu hiệu sau:
a) Thủng, hở, nứt, vỡ ở túi đựng, ống dây, vị trí cắm dây truyền;
b) Hiện tượng không phân lớp hoặc phân lớp bất thường giữa các thành phần máu khi đã để lắng hoặc ly tâm;
c) Có màu sắc bất thường:
– Màu hồng hoặc đỏ ở phần trên mặt phân cách huyết tương và hồng cầu hoặc toàn bộ huyết tương;
– Huyết tương có màu sắc bất thường;
– Phần hồng cầu đổi màu tím đỏ hoặc đen sẫm hoặc màu sắc bất thường khác
d) Có cục đông, vẩn, tủa;
đ) Có nổi váng trên bề mặt
Điều 42 Yêu cầu đối với đơn vị điều trị trước khi nhận máu, chế phẩm máu
1 Bác sỹ điều trị cần đánh giá tình trạng bệnh lý và phát hiện sớm nhu cầu cần truyền máu ở người bệnh
2 Bác sỹ điều trị phải chỉ định thực hiện các xét nghiệm cho người bệnh có dự kiến cần truyền máu:
a) Định nhóm máu ABO, Rh(D);
b) Sàng lọc kháng thể bất thường cho những người bệnh:
– Có tiền sử truyền máu;
– Phụ nữ có tiền sử chửa, đẻ, xảy thai nhiều lần;
– Nếu trong quá trình điều trị, người bệnh cần truyền máu nhiều lần, nhiều ngày phải làm lại xét nghiệm này định kỳ không quá 7 ngày một lần
c) Trường hợp xét nghiệm sàng lọc kháng thể bất thường cho kết quả dương tính, cần chỉ định làm xét nghiệm định danh kháng thể bất thường;
d) Trường hợp người bệnh có kháng thể bất thường đã được định danh, cần chỉ định lựa chọn đơn vị máu phù hợp, không có các kháng nguyên tương ứng với các kháng thể đã có trong huyết thanh của người bệnh;
đ) Trường hợp không thể định danh kháng thể bất thường hoặc không tìm được đơn
vị máu phù hợp, bác sỹ điều trị phải phối hợp với đơn vị cấp phát máu để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp điều trị thích hợp
Trang 173 Chỉ định truyền máu sau khi đã cân nhắc lợi ích và nguy cơ của truyền máu đối với từng người bệnh khi không có liệu pháp điều trị thay thế khác, hoặc các liệu pháp điều trị thay thế không có hiệu quả
4 Bác sỹ điều trị hoặc điều dưỡng viên phải thông báo cho người bệnh hoặc người nhà về lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra do truyền máu Trong trường hợp khẩn cấp cần truyền máu ngay nhưng không thể thông báo được do người bệnh bị hôn mê, không có người nhà thì bác sỹ phải ghi rõ với sự xác nhận của một nhân viên y tế vào hồ sơ bệnh án
Người bệnh hoặc người nhà người bệnh phải xác nhận và ký vào bệnh án nếu từ chối việc truyền máu, chế phẩm máu
5 Điều dưỡng viên lập phiếu dự trù cung cấp máu theo mẫu quy định và lấy mẫu máu tĩnh mạch của người bệnh có chỉ định truyền máu theo các yêu cầu sau:
a) Khi lấy mẫu máu phải kiểm tra chỉ định truyền máu, tên, tuổi, mã số người bệnh, khoa, số giường điều trị đối chiếu với hồ sơ bệnh án;
b) Mẫu máu của người bệnh phải lấy vào 2 ống nghiệm với thể tích từ 1 ml đến 2
ml máu có chống đông và 4 ml đến 5 ml máu không chống đông;
c) Ghi thông tin trên nhãn ống nghiệm:
– Họ và tên hoặc mã số của người bệnh;
– Năm sinh của người bệnh;
– Số giường, khoa phòng điều trị
d) Chuyển phiếu dự trù và các mẫu máu cho đơn vị phát máu;
Điều 44 Lựa chọn đơn vị máu hoà hợp miễn dịch
1 Truyền đơn vị máu toàn phần và khối hồng cầu hoà hợp nhóm máu hệ ABO với người nhận, theo các yêu cầu sau:
Trang 182 Truyền các đơn vị chế phẩm huyết tương hòa hợp nhóm máu hệ ABO với người bệnh nhận máu theo các yêu cầu sau:
Nhóm máu người bệnh nhận máu Nhóm máu đơn vị huyết tương truyền
4 Chọn lựa các chế phẩm tiểu cầu và bạch cầu hạt theo yêu cầu sau:
Nhóm máu người bệnh
nhận máu
Nhóm máu của đơn vị máu, chế phẩm máu truyền Đơn vị máu, chế phẩm máu
còn huyết tương nguyên thuỷ
Đơn vị máu, chế phẩm máu
đã loại bỏ huyết tương nguyên thuỷ
5 Chọn lựa các đơn vị máu toàn phần, khối hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu hạt theo nhóm Rh(D) theo yêu cầu sau:
Nhóm máu người bệnh nhận máu Nhóm máu của đơn vị máu truyền
Điều 45 Bảo đảm hòa hợp miễn dịch trong một số trường hợp cấp cứu
1 Trong trường hợp cấp cứu, không kịp làm đầy đủ xét nghiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 42 và Điều 43 Thông tư này hoặc không xác định được nhóm máu
Trang 19người bệnh hoặc không lựa chọn được đơn vị máu, chế phẩm máu phù hợp, nếu được sự đồng ý bằng văn bản của bác sỹ điều trị có thể cấp phát như sau:
a) Truyền thay nhóm máu cho người bệnh có chỉ định truyền máu toàn phần, khối hồng cầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 Thông tư này
b) Truyền khối hồng cầu hòa hợp hệ ABO và Rh(D) âm cho người bệnh nhóm máu Rh(D) âm hoặc không xác định nhóm Rh(D);
c) Truyền thay nhóm máu cho người bệnh có chỉ định truyền huyết tương theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Thông tư này
2 Chỉ truyền máu nhóm Rh(D) dương cho người nhận mang nhóm Rh(D) âm trong trường hợp đe dọa đến tính mạng người bệnh và có đủ các điều kiện sau:
a) Người bệnh là nam giới
b) Trong trường hợp người bệnh là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ: cân nhắc lợi ích điều trị hiện tại và nguy cơ tai biến cho thai nhi nếu người bệnh mang thai trong tương lai;
c) Xét nghiệm hòa hợp miễn dịch sử dụng huyết thanh chống globulin ở nhiệt độ 37oC cho kết quả âm tính;
d) Có sự đồng ý bằng văn bản trong kết quả hội chẩn giữa người phụ trách hoặc người được ủy quyền của đơn vị phát máu, bác sỹ điều trị và được sự đồng ý của người bệnh hoặc người nhà của người bệnh
Điều 46 Làm tan đông, ủ ấm túi máu, chế phẩm máu
1 Việc làm tan đông túi chế phẩm máu phải bảo đảm các điều kiện sau:
b) Thời gian từ khi kết thúc việc làm tan đông đến khi kết thúc việc truyền máu cho người bệnh không quá 06 giờ;
c) Sau khi làm tan đông, phải kiểm tra tình trạng túi máu, chế phẩm máu quy định tại Khoản 2 Điều 41 Thông tư này Nếu phát hiện túi máu không bảo đảm chất lượng thì phải hủy túi máu đó
2 Ủ ấm đoạn dây truyền đơn vị chế phẩm máu khi cần truyền nhanh và khối lượng lớn (trên 50 ml/kg/giờ ở người lớn và trên 15 ml/kg/giờ ở trẻ em) Nhiệt độ ủ ấm không vượt quá 37oC
Điều 47 Giao nhận máu, chế phẩm máu giữa đơn vị phát máu và đơn vị điều trị
Trang 201 Khi giao nhận máu, chế phẩm máu, nhân viên đơn vị điều trị lĩnh máu và nhân viên của đơn vị phát máu phải thực hiện đối chiếu thông tin trên phiếu dự trù máu, đơn vị máu và phiếu truyền máu
2 Có phương tiện bảo quản, vận chuyển máu, chế phẩm máu phù hợp
Điều 49 Quản lý túi máu ở đơn vị điều trị
1 Túi máu đã chuyển về đơn vị điều trị phải truyền cho người bệnh trong vòng 06 giờ kể từ thời điểm giao nhận giữa đơn vị phát máu và đơn vị điều trị
Điều 50 Thực hiện và theo dõi truyền máu tại đơn vị điều trị
1 Bác sỹ điều trị và điều dưỡng viên phải thực hiện kiểm tra, đối chiếu, định nhóm máu, theo dõi truyền máu, phát hiện, xử trí kịp thời các bất thường, tai biến không mong muốn xảy ra trong và sau truyền máu
2 Thực hiện kiểm tra, đối chiếu các nội dung sau:
a) Đối chiếu thông tin của người bệnh, đơn vị máu và phiếu truyền máu;
b) Kiểm tra hạn sử dụng và hình thức bên ngoài túi máu theo quy định tại Điều 41 Thông tư này
3 Thực hiện định nhóm máu hệ ABO của người bệnh, của túi máu ngay tại giường bệnh và đối chiếu với thông tin trên phiếu truyền máu
a) Khi truyền máu toàn phần, khối hồng cầu, khối bạch cầu: sử dụng huyết thanh mẫu định nhóm máu ABO của mẫu máu người bệnh được lấy ngay trước khi truyền máu và của mẫu máu lấy từ đơn vị máu sắp truyền
b) Khi truyền tiểu cầu, huyết tương:
– Sử dụng huyết thanh mẫu định nhóm máu ABO mẫu máu của người bệnh;
– Trộn 02 giọt chế phẩm máu với 01 giọt máu người bệnh và kiểm tra ngưng kết Không thực hiện truyền máu khi có ngưng kết, trừ trường hợp truyền tủa lạnh theo quy định tại Khoản 3 Điều 44 Thông tư này
c) Phối hợp với đơn vị phát máu điều tra làm rõ mọi sự khác biệt (nếu có) giữa hồ
sơ bệnh án, phiếu truyền máu, nhãn đơn vị máu và kết quả định nhóm
4 Thực hiện việc truyền máu, theo dõi diễn biến, phát hiện, xử trí các bất thường về tình trạng sức khỏe của người bệnh:
a) Kiểm tra, theo dõi các chỉ số mạch, nhiệt độ, huyết áp, trạng thái tinh thần của người bệnh vào các thời điểm trước và trong quá trình truyền máu, đặc biệt lưu ý
Trang 21theo dõi trong 15 phút đầu truyền máu để phát hiện và xử trí kịp thời tai biên liên quan đến truyền máu;
b) Phải sử dụng bộ dây truyền máu có bầu lọc để truyền cho người bệnh;
c) Ghi hồ sơ đầy đủ các chỉ số mạch, nhiệt độ, huyết áp, trạng thái tinh thần, diễn biến lâm sàng của người bệnh, các xử trí (nếu có) vào phiếu truyền máu theo quy định tại Phụ lục 10 ban hành kèm theo Thông tư này;
d) Căn cứ tình trạng của người bệnh và diễn biến trong quá trình truyền máu, bác sỹ điều trị chỉ định việc theo dõi sau khi kết thúc truyền máu
5 Không được bổ sung bất cứ chất gì (bao gồm cả các loại thuốc) vào túi máu, trừ trường hợp có chỉ định hoà loãng khối hồng cầu thì chỉ được sử dụng dung dịch muối đẳng trương (NaCl 0,9%) loại truyền tĩnh mạch
6 Khi xảy ra các tai biến liên quan đến truyền máu, cơ sở điều trị phải thực hiện ngay các việc sau:
a) Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tai biến mà phải giảm tốc độ hoặc ngừng truyền máu Trường hợp ngừng truyền máu, phải duy trì đường truyền tĩnh mạch bằng cách sử dụng dung dịch muối đẳng trương;
b) Xử trí cấp cứu người bệnh;
c) Không được tiếp tục truyền đơn vị máu, chế phẩm máu có liên quan đến tai biến sau khi đã ngừng truyền quá 4 giờ
Điều 51 Việc trả, nhận lại và sử dụng đơn vị máu được trả lại
1 Khi không sử dụng đơn vị máu đã cấp phát, cơ sở điều trị (khoa, phòng) phải trả lại ngay cho cơ sở phát máu
2 Cơ sở phát máu chỉ sử dụng đơn vị máu đã trả lại để truyền cho người bệnh khác khi có đầy đủ những điều kiện sau:
a) Còn hạn sử dụng;
b) Không phát hiện được các dấu hiệu bất thường được quy định tại Điều 41 Thông
tư này;
c) Đơn vị máu sau khi lĩnh, được bảo quản, vận chuyển ở điều kiện đúng quy định
và có xác nhận bằng văn bản của người phụ trách khoa, phòng điều trị
Trang 221.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Một số nghiên cứu về an toàn truyền máu trên thế giới
Đánh giá kiến thức của các điều dưỡng về truyền máu để đảm bảo an toàn cho người bệnh năm 2017 của Asmaa Haeed Abd Ethy và Zeinab Abd Aziz Kaesemy tại bệnh việnđại học Menoufia cho thấy có 61,2% điều dưỡng có kiến thức đạtvề truyền máu [11]
Theo điều tra kiến thức về an toàn truyền máu Jordan 2012 ghi nhận được kết quả: 95,3% hoàn thành bảng câu hỏi về kiến thức TM vơi số điểm trung bình là 51,3%.Đa số các điều dưỡng thiếu kiến thức liên quan đến việc chuản bị NB trước khi truyền máu Ngoài ra có 92% sử dụng các phương pháp không hợp lệ gây nguy hại làm tan máu [12]
Khảo sát kiến thức truyền máu của ĐD tại các trung tâm đào tạo y khoa của đại học Shahrekord năm 2004 của Kobra Noryan, Shanhram Etemadyfar và Yosef Aslain cho thấy 81,2% điều dưỡng không biết thời gian thích hợp để truyền máu và các chế phẩm của máu khi nhận từ ngân hàng máu Ngoài ra có 21,4% điều dưỡng có kiến thức tốt, 66.7% có kiến thức trung bình và 12% có kiến thức kém về truyền máu [13]
2.2 Một số nghiên cứu về an toàn truyền máu tại Việt Nam
Nghiên cứu về kiến thức và thực hành ATTM của ĐD tại bệnh viện đa khoa Tiền Giang năm 2014 của Trịnh Xuân Quang và các cộng sự đã ghi nhận được các kết quả: kiến thức và thực hành của ĐD về ATTM còn hạn chế; 58,9% điều dưỡng không biết nhiệt độ bảo quản máu, 20% Đ D không làm phản ứng chéo tại giường trước khi truyền máu, 50% ĐD không nhớ thời gian làm nguội máu trước khi truyền, 79,2% Đ D không thực hiện phản ứng vi sinh vật khi truyền máu [10]
Khảo sát về ATTM của ĐD tại bệnh viện Xanh Pôn năm 2016 của điều dưỡng Phan Thị Kim Hoa và cộng sự, kết quả cho thấy rằng có 49% đối tượng trả lời sai về chỉ định truyền máu trong chấn thương sọ não( một kỹ thuật mới mà bệnh viện đã triển khai và đạt nhiều kết quả khả quan), có 17% nhân viên được hỏi không biết là tắc mạch là một tai biến thường xảy ra do kỹ thuật tiêm truyền của người điều dưỡng; trong thực hành truyền máu, thực hiện phản ứng vi sinh vật khi truyền máu là một yêu cầu bắt buộc phải làm nhưng chỉ có 76% nhân viên trả lời là có làm, 24%