Việc tính toán và phân bổ mức khấu hao TSCĐ là công việc rất quan trọng của doanh nghiệp khi hạch toán TSCĐ vì nó có ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp về mọi phương diện : kinh tế, tài chín
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Để tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh và các hoạt động khác,
bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải huy động, phân phối và sử dụng một khối lượng tài sản nhất định Tùy theo quy mô giá trị của tài sản và thời gian
dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai, người ta phân chia tài sản do doanh nghiệp kiểm soát thành hai loại: tài sản cố định và tài sản lưu động
Tài sản cố định (TSCĐ) là cơ sở vật chất không thể thiếu đối với mỗi quốc gia nói chung và trong mỗi doanh nghiệp nói riêng Việc theo dõi, phản ánh đầy đủ, chính xác tình hình tăng giảm hao mòn, khấu hao, sửa chữa và hiệu quả sử dụng TSCĐ là nhiệm vụ quan trọng của công tác hạch toán và quản lý TSCĐ Tổ chức hạch toán TSCĐ không chỉ có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc định hướng đầu tư và sản xuất
Việc tính toán và phân bổ mức khấu hao TSCĐ là công việc rất quan trọng của doanh nghiệp khi hạch toán TSCĐ vì nó có ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp về mọi phương diện : kinh tế, tài chính, thuế và kế toán
Song , chế độ kế toán được quy định hiện nay còn có nhiều bất cập, không phù hợp giữa các quyết định khi hạch toán khấu hao TSCĐ
Vì vậy, em lựa chọn đề tài :
“ BÀN VỀ CHẾ ĐỘ HẠCH TOÁN KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ
ĐỊNH" “để làm đề án môn học Kế Toán Tài Chính (KTTC)
Bài làm gồm có 2 phần chính:
Phần 1 : Khái quát chung về khấu hao TSCĐ theo chế độ hiện hành Phần 2 : Một số ý kiến đóng góp với chế độ kế toán hiện hành về
khấu hao TSCĐ.
Trang 2Bài làm của em dựa trên những kiến thức lý thuyết em được học ở môn KTTC và một số môn chuyên ngành, cùng với sự tham khảo, nghiên cứu ở các tài liệu có liên quan Song vì thời gian nghiên cứu có giới hạn nên bài làm
có thể còn có nhiều khuyết điểm Em kính mong các thầy cô xem xét và giúp đỡ
Em xin chân thành cảm ơn GV.THS : HÀN LAN THƯ đã hướng
dẫn và giúp đỡ em làm đề tài này
Trang 3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHẤU HAO TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH THEO CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH1.1 Hao mòn và khấu hao TSCĐ
1.1.1 Một số khái niệm chung
Để tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh và các hoạt động khác đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng một khối lượng tài sản nhất định Tuỳ theo quy mô giá trị của tài sản và thời gian dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai, người ta phân tài sản do doanh nghiệp quản lý thành hai loại là tài sản cố định ( TSCĐ ) và tài sản lưu động
TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn và dự tính đem lại lợi ích kinh tế lâu dài cho doanh nghiệp Song, trong quá trình đầu tư
và sử dụng, dưới tác động của tự nhiên và môi trường làm việc cũng như tiến
bộ kỹ thuật thì giá trị của TSCĐ lại giảm dần theo thời gian
Sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng do tham gia vào quá trình kinh doanh bị cọ xát, bị ăn mòn hoặc do tiến bộ kĩ thuật … đó chính
là hao mòn TSCĐ Hao mòn TSCĐ được thể hiện dưới dạng hao mòn hữu hình ( là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ xát, bị ăn mòn, bị
hư hỏng từng bộ phận ) và hao mòn vô hình ( là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ khoa học kỹ thuật đã sản xuất ra những sản phẩm cùng loại có nhiều tính năng với năng suất cao hơn và với chi phí ít hơn )
Hao mòn TSCĐ là một phạm trù mang tính khách quan, muốn xác định giá trị hao mòn của một TSCĐ nào đó thì cơ sở có tính khách quan nhất là thông qua giá cả thị trường, tức là phải so sánh giá cả của TSCĐ cũ và TSCĐ mới cùng loại Tuy nhiên, TSCĐ được đầu tư mua sắm là để sử dụng lâu dài cho quá trình kinh doanh, do vậy, các doanh nghiệp không thể xác định giá trị hao mòn TSCĐ theo phương pháp nói trên
Trang 4Nhận thức được sự hao mòn TSCĐ có tính khách quan, cho nên khi sử dụng TSCĐ, các doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán
và gọi là khấu hao TSCĐ Mục đích của việc trích khấu hao TSCĐ là giúp cho các doanh nghiệp tính đúng và tính đủ chi phí sử dụng TSCĐ và thu hồi vốn đầu tư để tái tạo TSCĐ khi chúng bị hư hỏng hoặc thời gian kiểm soát hết hiệu lực Như vậy, khấu hao TSCĐ là một hoạt động có tính chủ quan, là con
số giả định về sự hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng Chính vì vậy,
về phương diện kế toán, giá trị hao mòn của TSCĐ được tính bằng số khấu hao luỹ kế đến thời điểm xác định Khi TSCĐ bắt đầu đưa vào sử dụng tại doanh nghiệp thì giá trị hao mòn coi như bằng không ( trừ trường hợp TSCĐ chuyển giao giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp, giá trị hao mòn TSCĐ bên nhận được tính bằng giá trị ghi trên sổ của đơn vị giao)
Như vậy, hao mòn là một hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ, còn khấu hao là một biện pháp chủ quan trong quản lý nhằm thu hồi lại giá trị đã hao mòn của TSCĐ
1.1.2 Ý nghĩa của việc trích khấu hao TSCĐ
Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh
được giá trị thực tế của tài sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp
Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp cho
doanh nghiệp thu được phần giá trị đã mất của TSCĐ Khấu hao làm giảm giá trị tài sản nhưng tăng giá trị khác như: Tiền mặt, TGNH …
Về phương diện thuế khoá, khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào
lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, tức là tính vào chi phí kinh doanh hợp lệ
Trang 5Về phương diện kế toán, khấu hao là việc ghi nhận sự giảm giá của
TSCĐ Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong từng kỳ hạch toán, qua thời gian sử dụng của TSCĐ
Chính vì vậy, việc trích khấu hao ảnh hưởng đến báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính ( BCTC ) là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài chính, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp BCTC được báo cáo công khai để phục vụ cho các đối tượng cần quan tâm như: nhà quản lý doanh nghiệp, những nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng … Thông tin trên BCTC phải đảm bảo yêu cầu phù hợp và đáng tin cậy Trích đúng số khấu hao TSCĐ đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu
và chi phí Bởi vì, khấu hao TSCĐ là yếu tố cấu thành chi phí sản xuất chung,
do vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản xuất sản phẩm Mà đây là chi phí sản phẩm chứ không phải chi phí thời kỳ Chi phí sản phẩm được coi là tài sản lưu động cho tới khi các tài sản tương ứng được bán đi Hạch toán đúng
số khấu hao phải trích là cần thiết để xác định đúng giá thành sản phẩm Như vậy, mới đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí, đảm bảo thông tin trên BCTC chính xác, đáng tin cậy, đánh giá trung thực tình hình tài chính của doanh nghiệp Xác định không chính xác số khấu hao phải trích làm lệch các chỉ tiêu trên BCTC Cụ thể:
Bảng cân đối kế toán:
+ Các chỉ tiêu phản ánh tài sản: chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm tồn kho, hàng hoá tồn kho, hàng gửi bán, giá trị hao mòn luỹ kế.+ Các chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn: lợi nhuận chưa phân phối …
+ Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán: Nguồn vốn khấu hao hiện có
Trang 6Báo cáo kết quả kinh doanh:
Giá vốn hàng bán, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Khấu hao TSCĐ là một khoản chi phí không bằng tiền nhưng nó vẫn có những ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ một cách gián tiếp vì một mặt nó ảnh hưởng đến số thuế thu nhập doanh nghịêp, mặt khác, khi các khoản chi phí đã chi hết bằng tiền và các khoản thu đã thu hết bằng tiền thì:
Lượng tiền còn lại cuối kỳ = Lợi nhuận sau thuế - khấu hao TSCĐ
1.1.3 Phương pháp tính khấu hao TSCĐ
Việc tính khấu hao có thể được tính theo nhiều phương pháp khác nhau Việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao nào là tuỳ thuộc vào quy định của Nhà nước về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp Phương pháp khấu hao được lựa chọn phải đảm bảo thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp
Theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp có thể tính khấu hao theo ba phương pháp là:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
+ Và, phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
1.1.3.1 Phương pháp khấu hao đường thẳng
Trên thực tế hiện nay, phương pháp khấu hao đều theo thời gian (phương pháp khấu hao theo đường thẳng ) đang được áp dụng phổ biến Phương pháp này cố định mức khấu hao theo thời gian nên có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản phẩm làm
Trang 7ra để hạ giá thành và tăng lợi nhuận Tuy nhiên, việc thu hồi vốn chậm không theo kịp mức hao mòn thực tế, nhất là hao mòn vô hình ( do tiến bộ khoa học
kỹ thuật ) nên doanh nghiệp không có điều kiện để đầu tư, trang bị tài sản cố định mới
Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, mức khấu hao hàng năm của một TSCĐ ( Mkhn ) được tính theo công thức sau:
Mkhn = Nguyên giá của TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao năm
Trong đ ó:
Tỷ lệ khấu hao năm = 1/số năm sử dụng dự kiến x 100
Trên cơ sở mức khấu hao bình quân năm của từng TSCĐ, kế toán tính toán ra mức khấu hao bình quân tháng của từng TSCĐ và tính ra tổng mức khấu hao của toàn bộ TSCĐ phải trích trong tháng này
Theo chế độ hiện hành ( Quyết định 206/2003/QĐ – BTC ), việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày ( theo số ngày của tháng ) mà TSCĐ tăng, giảm, hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh ( nguyên tắc tròn ngày ) Vì thế, để đơn giản cho việc tính toán, nếu trong tháng trước không có biến động tăng, giảm TSCĐ thì kế toán sẽ tiến hành trích khấu hao TSCĐ phân bổ cho từng bộ phận sử dụng ( tại từng phân xưởng sản xuất, tại bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý … )
Trường hợp trong tháng trước có TSCĐ biến động thì mức khấu hao TSCĐ phải trích trong tháng này còn cộng thêm ( + ) hoặc trừ đi ( - ) mức khấu hao của những TSCĐ tăng thêm và giảm đi trong tháng trước Sở dĩ vậy
là do trong mức khấu hao đã trích tháng trước chỉ mới cộng thêm mức khấu hao theo ngày tăng của những TSCĐ tăng thêm và trừ đi mức khấu hao theo
số ngày giảm của TSCĐ giảm đi trong tháng trước trong khi tháng này doanh nghiệp phải trích ( hoặc thôi trích ) khấu hao cho đủ cho cả tháng đối với TSCĐ tăng ( giảm ) tháng trước
Trang 8Đối với những TSCĐ được mua sắm hoặc đầu tư mới thì số năm sử dụng
dự kiến phải nằm trong khoảng thời gian sử dụng tối đa và tối thiểu do Nhà nước quy định Tuy nhiên, để xác định số năm sử dụng dự kiến cho từng TSCĐ cụ thể, doanh nghiệp phải dựa vào những căn cứ chủ yếu sau:
• Tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế
• Hiện trạng TSCĐ ( thời gian TSCĐ đã qua sử dụng, thế hệ TSCĐ, tình trạng thực tế của tài sản….)
• Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ: được quyết định bởi thời gian kiểm soát TSCĐ hoặc yếu tố hao mòn vô hình do sự tiến bộ kỹ thuật
1.1.3.2 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Phương pháp này được áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới mà TSCĐ có tốc độ hao mòn vô hình cao, đòi hỏi phải khấu hao, thay thế và đổi mới nhanh nhằm theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật TSCĐ tham gia vào Hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
+ Là TSCĐ đầu tư mới ( chưa qua sử dụng )
+ Là các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường và thí nghiệm
Theo phương pháp khấu hao số dư giảm dần có điều chỉnh thì mức khấu hao hàng năm của TSCĐ được xác định theo các bước như sau:
+ Bước 1: Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo
phương pháp đường thẳng ( quy định tại Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ – BTC của
Bộ Tài chính )
+ Bước 2: Xác định mức trích khấu hao hàng năm của TSCĐ
Mkhn = Giá trị còn lại của TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao nhanh
Trang 9Trong đó tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định theo công thức:
Tỷ lệ khấu hao nhanh = Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng x hệ số điều chỉnh
Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng TSCĐ Hệ số điều chỉnh ( lần )
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm được xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng ( hoặc thấp hơn ) mức khấu hao bình quân giữa các giá trị còn lại và số năm số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ
1.1.3.3 Phương pháp khấu hao theo sản lượng
Ngoài hai cách khấu hao theo thời gian như trên, ở nước ta, một số doanh nghiệp còn tính khấu hao theo sản lượng Cách tính này cố định mức khấu hao trên một đơn vị sản lượng nên muốn thu hồi vốn nhanh, khắc phục được hao mòn vô hình (nhược điểm của phương pháp khấu hao đường thẳng ), đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng ca, tăng kíp, tăng năng suất lao động để làm ra nhiều sản phẩm
Trang 10Mức khấu hao phải trích
trong tháng =
Sản lượng hoàn thành trong tháng x
Mức khấu hao bình quân trên một đơn vị sản lượng
Trong đó:
Mức khấu hao bình quân
trên một đơn vị sản lượng =
Tổng số khấu hao phải trích trong thời
gian sử dụng Sản lượng tính theo công suất thiết kế
Phương pháp này được áp dụng để tính khấu hao các loại máy móc, thiết
bị thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
•Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm
•Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ
•Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% công suất thiết kế
Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp phải đăng ký phương pháp trích khấu hao TSCĐ mà doanh nghiệp lựa chọn áp dụng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi thực hiện trích khấu hao.Trường hợp việc lựa chon của doanh nghiệp không trên cơ sở có đủ các điều kiện quy định thì cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo cho doanh nghiệp biết để thay đổi phương pháp khấu hao cho phù hợp Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ
mà doanh nghiệp đã lựa chọn và đăng ký phải thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ đó
Trang 111.2 Nguyên tắc trích khấu hao và hạch toán hao mòn TSCĐ
1.2.1 Một số quy định về tính khấu hao TSCĐ
Khi tính khấu hao cần phải chú ý một số quy định sau:
•Mọi TSCĐ có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao, mức trích khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong
kỳ kể cả TSCĐ đang thế chấp, cầm cố, cho thuê
•Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ mà doanh nghịêp đã lựa chọn và đămg ký phải thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ đó
•Việc xác định thời gian khấu hao của một TSCĐ phải dựa vào khung thời gian sử dụng theo quy định thống nhất trong chế độ tài chính Trường hợp doanh nghiệp muốn xác định thời gian khấu hao khác với những quy định
đó thì phải được sự đồng ý của Bộ Tài chính Trường hợp đặc biệt ( như nâng cấp hay tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ ) thì doanh nghiệp phải lập biên bản nêu rõ các căn cứ làm thay đổi thời gian sử dụng và đăng ký lại thời gian sử dụng mới của TSCĐ với cơ quan tài chính trực tiếp quản lý
•Doanh nghiệp tự xác định thời gian sử dụng của TSCĐ vô hình trong khoảng thời gian không quá 20năm Riêng thời gian sử dụng của quyền sử dụng đất có thời hạn là thời hạn được phép sử dụng đất theo quy định
•Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày ( theo số ngày của tháng ) mà TSCĐ tăng, giảm, hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh
•TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn được sử dụng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì cũng không được trích khấu hao nữa
•TSCĐ chưa khấu hao hết đã hư hỏng phải thanh lý thì phần giá trị còn lại được xử lý thu hồi một lần ( coi như một nghiệp vụ bất thường )
Trang 12•Đối với TSCĐ không tham gia vào hoạt động kinh doanh như: TSCĐ không cần dung,chưa cần dung đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép doanh nghiệp được đưa vào cất trữ, bảo quản, điều động cho doanh nghiệp khác, TSCĐ phục vụ cho hoạt động phúc lợi… thì không phải trích khấu hao.
•Quyền sử dụng đất lâu dài là TSCĐ vô hình đặc biệt, doanh nghiệp ghi nhận là TSCĐ vô hình theo nguyên giá nhưng không được trích khấu hao
•Các doanh nghiệp được sử dụng toàn bộ số khấu hao luỹ kế của TSCĐ
để tái đầu tư, thay thế, đổi mới TSCĐ Khi chưa có nhu cầu đầu tư tái tạo lại TSCĐ, doanh nghiệp có quyền sử dụng linh hoạt số khấu hao luỹ kế phục vụ yêu cầu kinh doanh của mình
1.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao TSCĐ
1.2.2.1 Giá trị cần khấu hao
Theo quyết định số 206/2003/QĐ – BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì quy định:
Giá trị TSCĐ hữu hình cần khấu hao là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có TSCĐ tính đến thời điểm đưa TSCĐ đó vào trạng thái sẵn sang để sử dụng
Còn giá trị của TSCĐ vô hình cần khấu hao là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính
1.2.2.2 Các phương pháp tính khấu hao:
TSCĐ của doanh nghiệp có nhiều thứ, nhiều loại với những đặc tính hao mòn khác nhau cho nên các doanh nghiệp phải xác định phương pháp tính khấu hao phù hợp với từng TSCĐ Tuy nhiên, các phương pháp khấu hao khác nhau thì sẽ cho những kết quả khác nhau về chi phí khấu hao TSCĐ và
Trang 13qua đó ảnh hưởng đến thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Do vậy, việc vận dụng phương pháp khấu hao TSCĐ phải nằm trong khuôn khổ của Nhà nước.+ Phương pháp khấu hao theo đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao nhanh
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
+ Phương pháp khấu hao theo sản lượng
+ Phương pháp khấu hao theo số giờ sử dụng máy thực tế
1.2.3 Chứng từ, tài khoản sử dụng và hạch toán khấu hao TSCĐ
1.2.3.1 Chứng từ sử dụng
Sử dụng bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ ( mẫu số 06 – TSCĐ ): Bảng này dùng để phản ánh số khấu hao TSCĐ phải trích va phân bổ số khấu hao đó cho các đối tượng sử dụng TSCĐ hàng tháng Bảng được lập trên cơ
sở Bảng tính và phân bổ khấu hao tháng trước; số khấu hao tăng, giảm chi tiết của từng TSCĐ trong tháng này Số khấu hao phải trích trong tháng này được tính bằng số khấu hao đã trích tháng trước cộng (+) số khấu hao tăng tháng này và trừ (- ) số khấu hao giảm tháng này
Số khấu hao phải trích tháng này phản ánh trên Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ được sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất – kinh doanh, tính giá thành và ghi vào các sổ kế toán có liên quan ( phần ghi Có TK 214 đối ứng với bên Nợ các TK có liên quan )