Nhận thấy vai trò quan trọng của chất lượng sản phẩm đối với một Côngty vừa thực hiện sản xuất vừa thực hiện thương mại như của Công ty TMT, emquyết định chọn đề tài tìm hiểu về chất lượ
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TMT VÀ NHÀ MÁY ÔTÔ CỬU LONG 5
1.1 Quá trình hình th nh v phát tri n c a Công tyà à ể ủ 5
1.1.1 Giới thiệu về Công ty 5
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty và Nhà máy ôtô Cửu Long 5 1.2 C c u t ch c c a Công ty v Nh máy ôtô C u Longơ ấ ổ ứ ủ à à ử 9
1.2.1 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Công ty 9
1.2.2 Cơ cấu sản xuất của Nhà máy ôtô Cửu Long 11
1.2.3 Cơ cấu bộ máy quản trị của Nhà máy ôtô Cửu Long 12
1.3 Nh ng th nh t u ch y u m Công ty ã t ữ à ự ủ ế à đ đạ đượ 15c 1.3.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 15
3.1.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy ôtô Cửu Long 20
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM ÔTÔ LẮP RÁP TẠI NHÀ MÁY ÔTÔ CỬU LONG 22
2.1 Các c i m kinh t - k thu t ch y u nh h ng n ch t l ng s n đặ đ ể ế ĩ ậ ủ ế ả ưở đế ấ ượ ả ph m ôtô c a Nh máyẩ ủ à 22
2.1.1 Đặc điểm sản phẩm 22
2.1.2 Đặc điểm về công nghệ sử dụng 23
2.1.3 Đặc điểm đội ngũ lao động 25
2.1.4 Đặc điểm về nguồn cung ứng nguyên vật liệu và các nhà cung ứng 27 2.2 Tình hình áp d ng tiêu chu n ISO 9001: 2000 v o ho t ng s n xu t ụ ẩ à ạ độ ả ấ t i Nh máyạ à 28
2.2.1 Quản trị chất lượng trong khâu mua vật tư đầu vào 28
2.2.2 Quản trị chất lượng sản phẩm ôtô 32
2.2.2 Quản trị chất lượng sản phẩm sau tiêu thụ 36
2.3 Các bi n pháp Nh máy ã th c hi n nâng cao ch t l ng s n ph mệ à đ ự ệ để ấ ượ ả ẩ .37
2.3.1 Đầu tư cải tiến và hợp lý hoá qui trình sản xuất 37
2.3.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cử đi học ở nước ngoài 38
2.3.3 Phong trào sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, gia tăng động lực làm việc cho người lao động 39
2.4 u i m, h n ch v nguyên nhân c a công tác qu n lý ch t l ng t i Ư đ ể ạ ế à ủ ả ấ ượ ạ Nh máy ôtô C u Longà ử 40
Trang 22.4.1 Ưu điểm 402.4.2 Hạn chế 412.4.3 Nguyên nhân 42
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM ÔTÔ CỬU LONG TẠI NHÀ MÁY SẢN XUẤT VÀ LẮP RÁP ÔTÔ CỬU LONG 44
3.1 Ph ng h ng phát tri n c a Công ty v Nh máy ôtô C u Longươ ướ ể ủ à à ử 443.1.1 Phương hướng phát triển chung 443.1.2 Chính sách và mục tiêu chất lượng của Công ty và Nhà máy ôtô Cửu Long 463.2 M t s gi i pháp c b n nh m nâng cao ch t l ng ôtô C u Long t i ộ ố ả ơ ả ằ ấ ượ ử ạ
Nh máyà 473.2.1 Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 473.2.2 Nâng cao trình độ đội ngũ lao động của Nhà máy 513.2.3 Nâng cao năng lực thiết kế của đội ngũ cán bộ kĩ thuật tại Nhà
3.4 M t s ki n ngh v i nh n c th c hi n các gi i pháp nâng cao ch tộ ố ế ị ớ à ướ để ự ệ ả ấ
l ng s n ph m óng m i Nh máy ôtô C u Longượ ả ẩ đ ớ ở à ử 62
KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại kinh tế thị trường như hiện nay, cũng như đứng trước xuhướng toàn cầu hoá, các doanh nghiệp Việt Nam muốn có được năng lực cạnhtranh mạnh mẽ không có cách nào khác là phải tự hoàn thiện mình Một trongnhững nhân tố được đặt lên hàng đầu trong quá trình phát triển của mỗi doanhnghiệp là chất lượng sản phẩm Có chất lượng sản phẩm tốt, doanh nghiệp sẽ cóđiều kiện để khẳng định vị thế của mình trên thương trường và giành được sự tínnhiệm của khách hàng Ngược lại, nếu như chất lượng sản phẩm kém, dù doanhnghiệp có giỏi giang đến đâu, có thể lừa được khách hàng một vài lần, song kếtquả cuối cùng vẫn là sự thất bại Chất lượng sản phẩm mang hình ảnh của doanhnghiệp đến với khách hàng mục tiêu của mình, có tính chất quyết định đối với
sự tồn tại của các doanh nghiệp, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong lĩnh vựccung cấp dịch vụ
Đối với một Công ty, chất lượng sản phẩm tốt không chỉ tạo điều kiện choCông ty có điều kiện tốt để có thể phát triển và đứng vững trên thị trường, màviệc hoàn thiện chất lượng sản phẩm còn có tác dụng to lớn đối với hoạt độngcủa Công ty Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp Công ty giảm được chi phí,tăng năng suất và hiệu suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, tăng tính cạnhtranh của sản phẩm trên thị trường và mang lại hình ảnh tốt đẹp cho Công ty.Hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm là con đường mà bất kì doanhnghiệp nào muốn tồn tại và phát triển buộc phải tính đến trong quá trình cạnhtranh kinh tế thị trường gay gắt như hiện nay
Công ty Thương mại và Sản xuất vật tư thiết bị Giao thông vận tải (têngiao dịch là TMT) đã sớm nhận ra vai trò quan trọng của chất lượng trong việcphát triển của mình Ban lãnh đạo của Công ty đã đầu tư vào hoàn thiện chấtlượng sản phẩm của Công ty như một sự đảm bảo cho sự phát triển toàn diện vàbền vững của mình Nhưng Công ty TMT đã thành công hay chưa? Việc hoànthiện chất lượng sản phẩm của Công ty đã được thực hiện như thế nào? Liệucông tác quản lý chất lượng của Công ty còn tồn tại thiếu xót nào hay không?Thực trạng áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2000 của Công tyhiện nay như thế nào? Công ty đã làm gì để hoàn thiện hệ thống quản lý chấtlượng của mình? Và nhiều vấn đề khác nữa sẽ được làm rõ phần nào trong đề tàicủa em
Trang 4Nhận thấy vai trò quan trọng của chất lượng sản phẩm đối với một Công
ty vừa thực hiện sản xuất vừa thực hiện thương mại như của Công ty TMT, emquyết định chọn đề tài tìm hiểu về chất lượng sản phẩm, đề tài của em có tên là
“GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÔTÔ CỬU LONG TẠI NHÀ MÁYSẢN XUẤT VÀ LẮP RÁP ÔTÔ - CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀ SẢN XUẤTVẬT TƯ THIẾT BỊ GIAO THÔNG VẬN TẢI (TMT)” Với kết cấu nội dungcủa đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu về Công ty TMT và Nhà máy ôtô Cửu Long Chương 2: Thực trạng chất lượng sản phẩm ôtô lắp ráp tại Nhà máy
ôtô Cửu Long.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ôtô Cửu
Long tại Nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô Cửu Long.
Đề tài tổng kết những kiến thức em đã tìm hiểu được trong thời gian thựctập về hoạt động quản trị chất lượng của Nhà máy, và em xin đưa ra một số ýkiến riêng của mình hi vọng có thể đóng góp phần nào cho việc phát triển hoànthiện khâu quản lý chất lượng tại Nhà máy Em xin chân thành cảm ơn PGS.TSNguyễn Ngọc Huyền, giảng viên hướng dẫn của em Thầy đã rất tận tình hướngdẫn cũng như chỉ bảo cho em để hoàn thiện đề tài Em cũng xin chân thành cảm
ơn các anh chị ở phòng Quản lý chất lượng, phòng Kế hoạch kinh doanh, phòng
Tổ chức hành chính và Nhà máy ôtô Cửu Long đã giúp đỡ em trong việc cungcấp tài liệu để làm bài Tuy đã rất cố gắng song do vấn đề quản lý chất lượng làmột vấn đề phức tạp và rộng lớn, không thể tìm hiểu hết trong một thời gianngắn, cùng với năng lực bản thân có hạn nên đề tài chưa thể hoàn thiện toàn bộcác vấn đề được đề cập
Em xin chân thành cảm ơn sự góp ý của các thầy, cô để đề tài được hoànthiện hơn
Trang 5ÔTÔ CỬU LONG
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
1.1.1 Giới thiệu về Công ty
Công ty Thương mại và Sản xuất vật tư thiết bị GTVT, tên giao dịch viếttắt là TMT, là một Công ty nhà nước, trực thuộc Tổng công ty Công nghiệp ôtôViệt Nam
tmt
c«ng ty th ¬ng m¹i & s¶n xuÊt vËt t thiÕt bÞ giao th«ng vËn t¶i
trading and manufacturing equipment materials for transportation
company
Head Office: 199B Minh Khai Street, Hai Ba Trung District, Hanoi, Vietnam
tmt
Tel: 84 - 4 - 8628 205 / 8628 334
E.mail: tmtxnkgtvt@hn.vnn.vn
Fax: 84 - 4 - 8628 703 Website: http://www.tmt-corp.com
Trang 6triệu đồng, bao gồm vốn Ngân sách nhà nước cấp 115 triệu đồng và vốn doanhnghiệp tự bổ sung là 75 triệu đồng Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản xuất
và cung ứng vật tư thiết bị cơ khí GTVT, mã số đăng kí kinh doanh 0704.Doanh nghiệp được tổ chức theo hình thức quốc doanh, là tổ chức sản xuất kinhdoanh hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ Từ khi mới thànhlập, Công ty mỗi năm tiếp nhận 30.000 m3 gỗ và 100.000 tấn sắt thép phục vụviệc sản xuất ôtô, tàu biển của các nhà máy trong Cục, đồng thời khai thác cácvật tư mà các nhà máy này không khai thác được Năm 1993, Công ty đã hoànthành chỉ tiêu được giao, nhưng sau đó, Công ty gặp phải rất nhiều khó khăn doxoá bỏ cơ chế bao cấp, sản xuất bị đình trệ “ Công ty không thể đương đầu nổivới sự thay đổi của thị trường, hai phần ba số nhân viên làm thêm ở ngoài” Tínhđến trước năm 1997, Công ty TMT vẫn làm ăn thua lỗ, sản xuất trì trệ, tình trạng
nợ đọng kéo dài và liên tục bị ngân hàng thúc nợ, chỉ còn 14 công nhân đi làmvới đồng lương ít ỏi
Trước tình hình đó, tháng 10/1997, ông Bùi Văn Hữu được cử về nhậnchức giám đốc Công ty Ông Hữu đã có những cải tổ quan trọng trong công tácchính trị và tư tưởng, đi vào kiện toàn bộ máy nhân sự và tiến hành kế hoạch 5năm đầu tiên 1997 – 2001 Theo quyết định số 2195/1998/QĐ-BGTVT của Bộtrưởng bộ GTVT Lê Ngọc Hoàn ngày 1 tháng 9 năm 1998 về việc đổi tên và bổsung nhiệm vụ cho doanh nghiệp nhà nước, Công ty vật tư thiết bị cơ khí GTVTđược đổi tên thành “Công ty Thương mại và Sản xuất vật tư, thiết bị GTVT”trực thuộc Tổng công ty cơ khí GTVT Nhiệm vụ của Công ty được bổ sung:kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, phụ tùng, phương tiện vận tải , nôngsản và hàng tiêu dùng; Đại lý, kinh doanh vật tư thiết bị, phụ tùng, vật liệu xâydựng và dịch vụ vận tải hàng hoá Số đăng ký kinh doanh: 108563
Ngày 15/12/1998, bộ GTVT lại có quyết định số 3377/1998/QĐ-BGTVT
về việc bổ sung ngành nghề kinh doanh cho Công ty Thương mại và Sản xuấtvật tư thiết bị GTVT: Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng nông, lâm, thổ sản, hảisản, kinh doanh tái nhập, tái xuất, chuyển khẩu hàng hoá được phép kinh doanh;
Trang 7Đại lý xăng dầu, nhiên liệu, xây dựng công trình giao thông Tháng 12/ 1998Công ty đã trả hết nợ và lãi một tỷ đồng, nộp ngân sách là 4,4 tỷ đồng so vớinăm trước là 14 triệu đồng Năm 1999, Công ty đầu tư vào xe gắn máy, giá trịtổng sản lượng đạt 75 tỷ đồng, tăng hơn 70% so với năm 1998, nộp ngân sách10,6 tỷ đồng, tăng 150 % so với năm 1998 Bên cạnh sản xuất xe gắn máy, công
ty còn hợp tác chặt chẽ với các đơn vị thành viên, tạo nguồn lực ổn định như sảnxuất khung xe, bình xăng, ghi đông và nhiều chủng loại linh kiện của xe gắnmáy Từ năm 2000, Công ty đã chủ động đa dạng hình thức kinh doanh Công ty
đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để đổi mới trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, vănphòng phục vụ sản xuất công nghiệp, nâng cao tỉ lệ nội địa hoá theo định hướngcủa chính phủ Sản phẩm của Công ty đã được sự tin dùng của người tiêu dùng
và bạn hàng
Ngày 28/2/2000, Công ty đã chuyển trụ sở chính đến 199B, Minh Khai,
Hà Nội Tổng vốn kinh doanh của Công ty được xác định tại thời điểm đó là1.292.000.000đ
Đứng trước nhu cầu thực tế của thị trường, Công ty đã chủ động chuyểnhướng kinh doanh Theo quyết định số 4000/QĐ-BGTVT ngày 27-11-2001 của
Bộ GTVT, Công ty đã đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh là sản xuất, lắpráp xe ôtô, xe gắn máy hai bánh, kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị, phụ tùngôtô, xe gắn máy hai bánh
Bên cạnh việc không ngừng tìm tòi sáng tạo, cải tiến kĩ thuật, ứng dụngcông nghệ mới, nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, Công ty còn xâydựng chiến lược phát triển thương hiệu và kiểu dáng công nghiệp cho toàn bộsản phẩm của Công ty Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng thương hiệu, Công
ty còn chú ý đến việc chăm sóc thương hiệu với phương châm “ chỉ bán nhữngsản phẩm khách hàng cần chứ không bán những sản phẩm có sẵn” Sau một thờigian đầu tư xây dựng mới và lắp đặt thiết bị hoàn chỉnh, ngày 25/10/2002 Công
ty đã khánh thành xưởng sản xuất bộ ly hợp xe gắn máy tại 199B, Minh Khai,
Hà Nội Đây là bước đi đột phá về công nghệ kĩ thuật, giúp Công ty chủ động
Trang 8hơn trong việc duy trì động cơ xe gắn máy Sang năm 2003, nắm bắt chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước là “ Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn”, bên cạnh lắpráp xe gắn máy, công ty nhanh chóng xây dựng nhà máy lắp ráp xe ôtô nôngdụng tại khu công nghiệp huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Ngày 29/5/2004,Công ty khánh thành nhà máy ôtô nông dụng Cửu Long, với tải trọng xe từ 730– 5000 kg, với nhiều kiểu dáng khác nhau Công ty đã chủ động thiết kế kiểudáng riêng cho sản phẩm của mình Từ 2001- 2004, giá trị các chỉ tiêu doanhthu, giá trị tổng sản lượng, nộp Ngân sách, lãi gộp, thu nhập của người lao độngđều tăng trưởng ở mức cao Có được thành công là do TMT đã chọn đúnghướng đi và mạnh dạn đầu tư vào sản xuất công nghiệp Hiện nay, hai nhà máycủa Công ty hoạt động ổn định với sản lượng hàng năm là 50.000 xe gắn máy và
5000 xe ôtô tải các loại
Tính đến thời điểm hiện tại, Công ty TMT đang hoạt động kinh doanhtrong những lĩnh vực chủ yếu sau:
- Xuất khẩu lao động đi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc với các ngành nghềchủ yếu như: công nhân kĩ thuật cao, may mặc, xây dựng, chế tạo lắp ráp
cơ khí, điện tử và lao động phổ thông
- Sản xuất và lắp ráp xe gắn máy hai bánh dạng IKD
- Sản xuất và lắp ráp động cơ và khung xe gắn máy hai bánh
- Sản xuất và lắp ráp ôtô khách và ôtô tải nhẹ dạng CKD
- Sản xuất và kinh doanh vật tư, thiết bị chuyên ngành GTVT, hàng điện,điện tử, hàng trang trí nội thất, vật liệu xây dựng
- Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng nông, thổ, hải sản, tạm nhập, tái xuất,chuyển khẩu hàng hoá, đại lý xăng dầu, nhiên liệu xây dựng công trình Định hướng kinh doanh sắp đến của Công ty chủ yếu tập trung vào hailĩnh vực sản xuất và kinh doanh ôtô tải và xe gắn máy Hoạt động sản xuất vàkinh doanh của Công ty trong những năm qua không ngừng lớn mạnh và được
Bộ GTVT tặng bằng khen tại Quyết định số 662/QĐ-BGTVT ngày 22-3-2000.Công ty TMT trên con đường hội nhập và phát triển luôn không ngừng phấn đấu
Trang 9để trở thành một Công ty vững mạnh và phát triển không ngừng, xứng đáng làcon chim đầu đàn của ngành ôtô tải nhẹ của Việt Nam
Nhà máy ôtô Cửu Long trực thuộc Công ty TMT, được khởi công xâydựng từ ngày 20/3/2003 trên diện tích 20 ha, nằm trong khu Công nghiệp huyệnVăn Lâm, tỉnh Hưng Yên Nhà máy chính thức đi vào sản xuất hàng loạt từ ngày29/5/2004 Tổng vốn đầu tư cho Nhà máy là 350 tỷ đồng, trong đó, giai đoạn 1
là 180 tỷ đồng, giai đoạn 2 là 170 tỷ đồng Công suất của Nhà máy khi đi vàohoạt động là 10.000 xe/năm( giai đoạn 1), 20.000 xe/năm( giai đoạn 2) Hiện tạiNhà máy ôtô Cửu Long đang sản xuất và lắp ráp ôtô tải nhẹ có tải trọng từ 730đến 5000 kg Đáp ứng nhu cầu phát triển không ngừng của Công ty TMT, Nhàmáy ôtô Cửu Long luôn phấn đấu để hoàn thành chỉ tiêu đặt ra và không ngừngcải tiến nhằm phát triển tốt hơn nữa trong tương lai
1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty và Nhà máy ôtô Cửu Long
1.2.1 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Công ty
1.2.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị
( Sơ đồ 1: bảng đính kèm)
Mô hình làm việc của bộ máy quản trị của Công ty TMT là Giám đốcgiao việc trực tiếp cho các Trưởng phòng thông qua các cuộc họp, các Trưởngphòng có nhiệm vụ nắm bắt chỉ thị của Giám đốc và phối hợp với các phòng bankhác để tổ chức thực hiện nhiệm vụ Nhiệm vụ cũng có thể được chuyển đến cáctrưởng phòng thông qua các phó Giám đốc, các phó Giám đốc nhận trách nhiệmsau đó phân bổ nhiệm vụ cho các phòng, các phòng sẽ có sự phối hợp với nhau
để cùng thực hiện nhiệm vụ được giao
1.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các chức danh chính trong bộ máy quản trị
1.2.1.2.1 Giám đốc Công ty
a Chức năng
Giám đốc Công ty là người lãnh đạo cao nhất trong Công ty, là đại diện phápnhân của Công ty, chịu trách nhiêm tổ chức điều hành Công ty theo đúng chức
Trang 10năng, quyền hạn đã được giao và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị,Tổng giám đốc và pháp luật về mọi hoạt động của Công ty.
b Nhiệm vụ
- Nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Hội đồng quản trị vàTổng giám đốc Tổng công ty giao để quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triểnvốn theo mục tiêu, nhiệm vụ của Công ty
- Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn và hàng năm Phương ánđầu tư liên doanh, liên kết trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Phê duyệt các kế hoạch của Công ty hàng tháng, quí, năm
- Giám đốc kí ( hoặc uỷ quyền bằng văn bản) trong việc kí kết các hợp đồngmua, bán, sản xuất hàng hoá với các đối tác trong và ngoài nước
- Phê duyệt báo cáo tài chính, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, phê duyệtcác khoản thu chi của Công ty
- Xét duyệt nâng bậc lương hàng năm cho cán bộ, nhân viên, công nhân trựctiếp sản xuất theo phân cấp của Tổng công ty
- Xây dựng bộ máy quản lý, tổ chức định biên theo qui mô phát triển, kí hợpđồng lao động tuyển dụng CBCNV
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý, trưởng, phó phòng ban và tươngđương theo phân cấp quản lý của Tổng công ty
- Chủ trì các cuộc họp xem xét của lãnh đạo
- Xây dựng các mục tiêu chính sách chất lượng, chỉ đạo thực hiện việc áp dụngISO 9000 vào Công ty
c Báo cáo
Giám đốc Công ty chịu trách nhiệm báo cáo Hội đồng quản trị, Tổng giámđốc Tổng công ty về kết quả sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động của Công tytheo qui định, định kì hoặc theo yêu cầu đột xuất
d Quyền hạn
Giám đốc Công ty có quyền ra lệnh trực tiếp với các Phó giám đốc và cácTrưởng phòng về công việc cần thực hiện
Trang 111.2.1.2.2 Phó giám đốc Công ty
a Chức năng
Phó giám đốc Công ty là người giúp việc Giám đốc, điều hành quản lý một
số lĩnh vực hoạt động của Công ty theo sự phân công, uỷ quyền của Giám đốc,chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được giao
b Nhiệm vụ
- Triển khai, chỉ đạo thực hiện các công việc được Giám đốc giao
- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giải quyết các công việc hàngngày thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
- Ký các văn bản, tài liệu, hợp đồng, hoá đơn v.v khi được Giám đốc Công typhân công và uỷ quyền
Phụ trách lãnh đạo Công ty trong việc xây dựng và triển khai hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, thực hiện việc áp dụng ISO 9000 vàohoạt động của Công ty
Trang 12Nhà máy ôtô Nông dụng Cửu Long là đơn vị trực thuộc Công ty Thươngmại và Sản xuất vật tư thiết bị GTVT, thực hiện chế độ hạch toán phụ thuộc, có
tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại ngân hàng và sử dụng con dấu riêng,theo sự uỷ quyền của Giám đốc Công ty và theo đúng qui định của Luật doanhnghiệp Nhà nước Tổ chức thực hiện công tác sản xuất, lắp ráp xe tải nhẹ, sảnxuất khung xe, phụ tùng, phụ kiện của xe ôtô, tổ chức kinh doanh xe ôtô tải vàphụ tùng ôtô
Qui trình hoạt động của Nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô tải Cửu Long:các vật liệu thô sẽ được đưa đến Nhà máy và tập hợp tại kho vật tư Tại đây vậtliệu đầu vào sẽ chia ra làm hai quá trình
Quá trình thứ nhất: bộ phận Cabin sẽ được đưa vào hàn, ghép sơ bộ, gòsửa và hoàn thiện bề mặt Sau đó phần thô này sẽ được chuyển sang phân xưởngsơn Tại đây, Cabin sẽ được xử lý bề mặt, sau đó phốt phát hoá và sơn lót Côngviệc cuối cùng của giai đoạn sơn là sơn phủ bề mặt Sau khi được sơn phủ bềmặt, Cabin sẽ được chuyển sang để lắp ráp, hoàn thiện Các phần điện của ôtô,nút bịt Cabin sẽ được lắp vào, sau đó ghế sẽ được trang trí và gắn bảng điềukhiển là công đoạn cuối cùng để hoàn thiện Cabin
Quá trình thứ hai: Sátxi từ kho vật tư sẽ được hoàn thiện, lắp ráp khung,gầm bánh xe và chuyển sang gắn hộp số máy
Hai sản phẩm từ hai quá trình trên sẽ được kết hợp để hoàn thiện thànhmột chiếc xe hoàn chỉnh ban đầu Sản phẩm này sẽ được kiểm tra nghiêm ngặt
từ khâu hiệu chỉnh chạy thử và kiểm tra lại bằng bộ thử hiệu chỉnh Cuối cùng sẽ
là khâu đăng kiểm và dán tem bán Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là mộtsản phẩm hoàn thiện, có thể giao cho khách hàng
1.2.3 Cơ cấu bộ máy quản trị của Nhà máy ôtô Cửu Long
1.2.3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị Nhà máy ôtô Cửu Long
Sơ đồ bộ máy quản trị của Nhà máy ôtô Cửu Long được thể hiện qua sơ
đồ 3 Nhà máy ôtô Cửu Long bao gồm một Giám đốc phụ trách lãnh đạo chung
và hai Phó giám đốc giúp việc Mô hình tổ chức hoạt động theo kiểu trực tuyến,
Trang 13Giám đốc Nhà máy giao nhiệm cụ trực tiếp cho các quản đốc và các trưởng bộphận, các trưởng bộ phận nhận nhiệm vụ và tổ chức thực hiện
Sơ đồ 3: Sơ đồ bộ máy quản trị Nhà máy ôtô Cửu Long
1.2.3.2 Chức năng, nhiệm vụ các chức danh chính trong bộ máy quản trị của Nhà máy
1.2.3.2.1 Giám đốc nhà máy
a Chức năng
Chỉ đạo điều hành toàn bộ mội mặt hoạt động của Nhà máy dưới sự chỉ đạocủa Giám đốc Công ty Chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Giám đốc Công ty vàpháp luật về mọi mặt hoạt động của Nhà máy
Quản Đốc phân xưởng
Cơ điện
Quản Đốc phân xưởng lắp ráp
Trưởng
bộ phận vật tư
Kế toán trưởng
Trưởng
bộ phận hành chính
Trưởng
bộ phận điều độ
Trang 14- Được ký một số hợp đồng kinh tế theo sự uỷ quyền của Giám đốcCông ty.
- Phụ trách công tác kĩ thuật, định mức, an toàn lao động, quản lý vật tư, thiết
bị, quản lý chất lượng sản phẩm của Nhà máy
- Đại diện Nhà máy cùng với Công ty làm việc với các nhà cung cấp của nướcngoài, giải quyết các vấn đề về vật tư, linh kiện, phụ tùng nhập khẩu để đảm bảophục vụ sản xuất kịp thời
- Kí xuất hoá đơn GTGT của Nhà máy khi được sự uỷ quyền của Giám đốcNhà máy và theo lệnh xuất hàng của Công ty
- Ký phiếu nhập, xuất: vật tư, phụ tùng, thiết bị (kể cả hàng nội địa hoá), trangthiết bị bảo hộ lao động
- Thực hiện các hoạt động khác do Giám đốc Nhà máy phân công
c Báo cáo
Thực hiện chế độ báo cáo với Giám đốc Công ty, Giám đốc Nhà máynhững công việc đã giải quyết, đang và sẽ giải quyết thật đầy đủ, cụ thể và kịpthời thuộc lĩnh vực mình phụ trách
1.2.3.2.3 Phó Giám đốc Nhà máy - Phụ trách tổ chức hành chính
Trang 15* Cảnh quan, môi trường.
* Phòng chống cháy, nổ trong Nhà máy
- Ký xuất hoá đơn GTGT của Nhà máy khi được sự uỷ quyền của Giám đốcNhà máy và theo lệnh xuất hàng của Công ty
- Ký các phiếu đăng kiểm xe ôtô
- Hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Nhà máy thực hiện theo đúng các nộiquy, qui định của Công ty và Nhà máy
- Thực hiện một số công việc khác do Giám đốc Nhà máy phân công
c Báo cáo
Thực hiện chế độ báo cáo với Giám đốc Công ty, Giám đốc Nhà máynhững công việc đã, đang và sẽ giải quyết kịp thời, cụ thể và thật đầy đủ thuộclĩnh vực mình phụ trách
1.3 Những thành tựu chủ yếu mà Công ty đã đạt được
1.3.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
1.3.1.1 Kết quả về sản phẩm
Dựa vào biểu 1 ta thấy tình hình sản xuất và lắp ráp xe gắn máy hai bánhcủa Công ty TMT giảm dần qua các năm Ban đầu, năm 2001, xe máy là dòngsản phẩm chủ đạo của Công ty, sức mua trên thị trường lớn, xe máy giá rẻ thu
Trang 16hút được người tiêu dùng lựa chọn nên Công ty đã đầu tư tăng thêm sản lượngvào sản xuất và lắp ráp xe máy
Biểu 1 : Kết quả sản phẩm của Công ty qua các năm
Thứ
tự Chỉ tiêu
Thực hiện
%hoàn thành kế hoạch
Thực hiện
%hoàn thành kế hoạch
Thực hiện
%hoàn thành kế hoạch
Thực hiện
%hoàn thành kế hoạch
Thực hiện
%hoàn thành kế hoạch
Đến thời điểm 2002, nhu cầu vẫn rất cao, và thực hiện sản xuất của Công
ty đã vượt xa so với kế hoạch Nhưng bắt đầu từ năm 2003, khi sức mua của thịtrường giảm dần, Công ty cũng chuyển hướng chủ đạo sang sản xuất và lắp rápôtô, vì thế lượng xe máy được sản xuất và lắp ráp giảm dần Năm 2005, số
lượng xe máy của Công ty chỉ bằng 42,57% số lượng xe máy của năm 2001 Số
lượng xe ôtô của Công ty lắp ráp tăng lên và tỷ lệ thực hiện so với kế hoạchcũng tăng theo Năm 2005, số lượng xe ôtô sản xuất đã tăng 91% so với năm
2004 Nhựa đường và phôi thép được kinh doanh đến hết 2003, sau đó tạmngưng
1.3.1.2 Sự phát triển về thị trưòng
Với phương châm không ngừng sáng tạo trong sản xuất kinh doanh,Công ty TMT luôn tìm tòi, phát triển các sản phẩm và các lĩnh vực kinh doanhmới Từ năm 2001, nhận thấy nhu cầu đi lại của người dân tăng cao, Công ty đãchủ động mạnh dạn đầu tư vào sản xuất xe gắn máy Ban đầu thị trường chínhcủa Công ty là Hà Nội Ban lãnh đạo Công ty nhận thấy rằng mật độ dân số của
Hà Nội rất đông và nhu cầu đi lại rất lớn, nhưng không phải ai cũng có đủ điềukiện để mua xe đắt tiền Vì vậy Công ty đã chủ động phát triển mạng lưới đại lý
Trang 17rộng khắp Hà Nội Sau đó, Công ty còn mở rộng thị trường xuống Hải Phòng vàThị xã Hưng Yên Năm 2003, Công ty đã mạnh dạn đầu tư, mở rộng hệ thốngđại lý vào các tỉnh phía Nam, tập trung trước mắt ở TP.HCM, nơi có sức tiêu thụ
xe máy cũng rất mạnh Hiện tại, các đại lý hoạt động rất hiệu quả và Công tyđang xem xét để mở thêm các đại lý ở các tỉnh miền Trung và miền Nam
Năm 2004, sau khi Nhà máy sản xuất và lắp ráp Ôtô Cửu Long chính thức
đi vào hoạt động, Công ty TMT đã phát triển thị trường rộng khắp cả nước,nhằm tranh thủ chớp thời cơ kinh doanh, đến trước sự có mặt của các liên doanhlắp ráp xe tải nhẹ của Trung Quốc tại các vùng miền của tổ quốc Công ty đã cóđại lý ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêudùng Xe tải nhẹ Cửu Long sớm được người tiêu dùng chấp nhận và thị trườngcủa nó phát triển rất nhanh
Biểu 2: Sự phát triển thị trường xe ôtô tải của Công ty TMT
Thứ
Số lượng (chiếc )
Tỷ lệ (%)
Số lượng (chiếc)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (chiếc)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (chiếc)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: phòng Kế hoạch kinh doanh
Năm 2004, sản lượng tiêu thụ của xe ôtô tải Cửu Long là 927 chiếc thìsang năm 2005, con số này đã là 1970 chiếc, tăng hơn gấp đôi so với năm 2004(tăng 2,13 lần so với năm 2004) và tăng 6,25 lần so với năm 2003 Công ty đangtập trung khai thác hai thị trường chủ yếu ở miền Bắc và miền Nam, sau đó sẽ
mở rộng thị trưòng tại các tỉnh miền trung Các thị trường ở miền Trung sau khiCông ty có đại lý đã phát triển rất nhanh, đây là một tín hiệu tốt cho Công ty vìngười tiêu dùng ở miền Trung đã chấp nhận sản phẩm ôtô Cửu Long của Công
Trang 18ty một cách nồng nhiệt Công ty đang rất thận trọng trong việc tìm và giữ cáckhách hàng do tiến trình hội nhập ngày càng tiến gần, khả năng mất các kháchhàng quen thuộc sẽ rất lớn khi họ chuyển sang dùng các sản phẩm của TrungQuốc với giá rẻ hơn.
1.3.1.3 Sự phát triển về doanh thu
Dựa vào biểu 3 ta thấy các giá trị sản xuất và giá trị sản lượng đều cóphần trăm hoàn thành kế hoạch vượt mức chỉ tiêu đề ra Các giá trị này có trị sốgiảm dần nhưng về số tuyệt đối, các giá trị thực hiện qua các năm đều tăng, nhưvậy chứng tỏ các chỉ tiêu mà Công ty đặt ra sát với thực tế hơn Năm 2005, giátrị sản lượng tăng gấp 1,53 lần so với năm 2001, còn giá trị sản xuất tăng đến1,72 lần so với năm 2001 Năm 2005, con số hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêugiá trị sản lượng và giá trị sản xuất đã sấp xỉ so với kế hoạch đề ra Công ty cần
có biện pháp điều chỉnh kịp thời để hai chỉ tiêu này không thụt giảm hơn nữa
Biểu 3: Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm
so với kế hoạch (%)
Thực hiện (tr.đ)
Hoàn thành
so với kế hoạch (%)
Thực hiện (tr.đ)
Hoàn thành
so với kế hoạch (%)
Thực hiện (tr.đ)
Hoàn thành
so với kế hoạch (%)
Thực hiện (tr.đ)
Hoàn thành
so với kế hoạch (%)
Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm
Doanh thu của Công ty tuy có tăng nhưng cũng biến động thất thường.Tính đến năm 2005 thì doanh thu của năm 2005 đã tăng 1,2 lần so với năm
2001, điều này chứng tỏ qui mô của Công ty đã được mở rộng Con số 1,2 lầnnày không lớn, Công ty không chỉ cần phải tiếp tục duy trì tình hình sản xuấtnhư hiện nay mà còn phải cải tiến nhằm tăng thêm doanh thu
1.3.1.4 Thu nhập bình quân của người lao động và đóng góp cho ngân sách nhà nước
Trang 19Cùng với sự tăng lên một cách nhanh chóng về số lao động, tiền lươngcủa người lao động cũng được cải thiện Ban Giám đốc Công ty luôn quan tâmđến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, với phương châm lấy việcnâng cao đời sống của các cán bộ, công nhân viên trong Công ty làm cơ sở đểthực hiện các mục tiêu chiến lược của Công ty Đồng thời không quên nhiệm vụsản xuất kinh doanh và thực hiện nộp Ngân sách theo đúng qui định Tình hìnhthu nhập bình quân và các khoản nộp Ngân sách được phản ánh qua biểu 4
Biểu 4: Thu nhập bình quân của người lao động và nộp ngân sách
Nguồn: Báo cáo Đại hội công nhân viên chức
So sánh năm 2005 với năm 2001, tốc độ tăng của tiền lương(107,8%) chậm hơn tốc độ tăng của số lao động (477%) Nhưng xét về số tuyệtđối thì số lao động năm 2005 gấp 8.4 lần so với số lao động năm 2001, tuynhiên, lương bình quân của người lao động không những không giảm xuống màcòn tăng 1,078 lần Điều này chứng tỏ đồng lương của cán bộ công nhân viêntrong Công ty đã được cải thiện, cũng có nghĩa là mức sống của mỗi người kháhơn và Công ty hoạt động kinh doanh có lãi Mức tăng của doanh thu tăngnhanh hơn mức tăng của lương năm 2005 so với năm 2001 (120% so với107,8%) chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động rất tốt, Công ty cần phát huy hơnnữa
Các khoản nộp ngân sách phản ánh doanh thu của Công ty qua các năm.Trong những năm qua Công ty TMT luôn thực hiện nộp ngân sách đầy đủ, chấphành đúng qui định của pháp luật Khi Công ty chuyển sang hình thức cổ phầnthì các khoản nộp Ngân sách này sẽ chuyển sang hình thức đóng thuế thu nhậpdoanh nghiệp
1.3.1.5 Thực hiện quản lý chất lượng đồng bộ theo ISO 9001: 2000
Trang 20Công ty TMT đã được cấp chứng nhận quản lý điều hành tổ chức sản xuấttheo tiêu chuẩn ISO và chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và công bố tiêuchuẩn chất lượng hàng hoá sản phẩm Ban lãnh đạo của công ty rất quan tâmđến công tác quản lý chất lượng và xem đây là một khâu quan trọng trong quátrình phát triển vững mạnh của công ty Năm 2002, công ty đã áp dụng hệ thốngquản lý chất lượng ISO 9001:2000 cho các mặt hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty và được tổ chức BVQI của Anh quốc cấp giấy chứng nhận Xét trênphương diện khu vực và quốc tế, công ty TMT liên tục được tổ chức BID (Tổchức bình chọn Thế giới) bình chọn và trao giải Năm 2002, công ty giành đượcgiải vàng về uy tín và chất lượng tại lễ trao giải tổ chức tại NewYork Năm
2003, công ty được trao cúp bạch kim tại Pari Tháng 2/2005, công ty lại đượccông nhận với giải đặc biệt “cúp Kim Cương” biểu trưng cho sự cam kết về uytín và chất lượng trong kinh doanh
Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty luôn cố gắngphấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được giao và không ngừng hoàn thiện bộ tiêuchuẩn chất lượng ISO 9000
3.1.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy ôtô Cửu Long
Dựa vào biểu 4 về kết quả sản phẩm của Công ty qua các năm, ta có tìnhhình sản xuất và kinh doanh của Nhà máy ôtô Cửu Long qua các năm như biểu 5
Trang 21Biểu 5: Tình hình sản xuất kinh doanh ôtô qua các năm
Thứ
(chiếc)
Tỷ lệ (%)
SL (chiếc)
Tỷ lệ (%)
SL (chiếc)
Tỷ lệ (%)
SL (chiếc)
Tỷ lệ (%)
1 Số xe sản xuất 6 100 552 100 1600 100 3058 100
2 Số xe tiêu thụ 6 100 315 57 927 58 1930 63
Nguồn: Báo cáo của phòng Kế hoạch kinh doanh qua các năm
Năm 2002 và 2003, Công ty TMT thực hiện lắp ráp thủ công ôtô với tínhchất lắp ráp và tiêu thụ thử, việc tổ chức lắp ráp được tổ chức tại Nhà máy sảnxuất và lắp ráp xe gắn máy, khi đó Nhà máy ôtô Cửu Long chưa đi vào hoạtđộng Đến tháng 5 năm 2004, Nhà máy ôtô Cửu Long chính thức đi vào hoạtđộng
Dựa vào biểu 5 ta thấy số lượng xe tải sản xuất của Nhà máy ôtô CửuLong qua các năm đã tăng rất nhanh, năm 2005, số lượng xe sản xuất đã gấp2,47 lần so với năm 2004, và gấp 509,667 lần so với năm 2002 Điều này chothấy tốc độ phát triển của dòng xe tải nhẹ trên thị trường là rất lớn và tình hìnhsản xuất kinh doanh của Nhà máy ôtô Cửu Long gặp nhiều thuận lợi
Sơ đồ 4: Tình hình sản xuất kinh doanh ôtô qua các năm
Bước sang năm 2006, một năm được dự báo là sẽ có nhiều biến động trênthị trường đối với các loại xe ôtô, Công ty TMT và Nhà máy ôtô Cửu Longquyết tâm thực hiện những mục tiêu đã định và ngày càng phát triển hơn nữa
Trang 22LẮP RÁP TẠI NHÀ MÁY ÔTÔ CỬU LONG
2.1 Các đặc điểm kinh tế - kĩ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm ôtô của Nhà máy
2.1.1 Đặc điểm sản phẩm
Hiện tại Nhà máy ôtô Cửu Long đang sản xuất và lắp ráp các loại xe tảisau: xe có trọng tải 750kg – CL1010G, trọng tải 1,5 tấn – CL2815D, trọng tải 2tấn – CL4020D, trọng tải 3 tấn – CL5830D, trọng tải 4 tấn – CL5840D, trọng tải
5 tấn 2 cầu chủ động – CL7550D, xe thùng 10 tấn – Cl28010PD, xe tự đổ 12 tấn– CL28012PD Tất cả các chủng loại xe của Nhà máy đều được sản xuất dựatrên thiết kế có sẵn theo dây chuyền công nghệ và theo yêu cầu của khách hàng(có thể thêm bớt những chi tiết phụ) Với đặc điểm là dòng xe tải chủ yếu được
sử dụng để phục vụ sản xuất, nên các thông số kĩ thuật về tải trọng, kích thướcthùng hàng, khả năng leo dốc, cơ chế vận hành… của các loại xe phải đảm bảođúng với thiết kế Hơn thế nữa, vì xe tải của Công ty chủ yếu phục vụ cho nhữngvùng có điều kiện đồi núi, hiểm trở nên các tính năng của xe như công suất máy,vận hành trục đẩy phải được đảm bảo Do dây chuyền sản xuất và lắp ráp ôtôcủa Nhà máy là một dây chuyền khép kín và được kiểm tra kĩ lưỡng trong quátrình sản xuất, nên các sản phẩm ôtô của Nhà máy trong thời gian qua đáp ứngđược rất tốt nhu cầu của khách hàng, đảm bảo chất lượng đề ra
Bên cạnh đó, số lượng các nhà sản xuất và lắp ráp ôtô tải trên thị trườngngày càng đông nên người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn Hiện tại đã có 13 liêndoanh sản xuất và lắp ráp ôtô tải trong nước, sắp đến, với việc tham gia WTO,thị trường Việt Nam sẽ có nhiều nhà sản xuất và lắp ráp ôtô tải gia nhập Mộttrong những tiêu chí quan trọng để người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm ôtô tảiphục vụ sản xuất là chất lượng sản phẩm Trên thị trường, xu hướng sử dụng ôtôcủa người tiêu dùng không phải là những loại xe rẻ tiền, cũng không phải lànhững loại xe đắt tiền mà là những loại xe có hiệu quả sử dụng cao nhất, tức là
Trang 23loại xe đó chất lượng phải đảm bảo trong một thời gian nhất định cùng với chiphí sử dụng vừa phải Về đặc điểm này, sản phẩm ôtô của Nhà máy ôtô CửuLong đã được người tiêu dùng đánh giá cao, đây là một lợi thế của Công ty cầnphát huy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
2.1.2 Đặc điểm về công nghệ sử dụng
Dựa vào sơ đồ 2 về dây chuyền bố trí công nghệ của Nhà máy ôtô CửuLong, ta có thể thấy toàn bộ dây chuyền của Nhà máy được bố trí một cách liênhoàn để thực hiện việc lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe ôtô tải Công nghệ sửdụng là một trong những nhân tố quyết định chính đến chất lượng sản phẩm.Nhà máy ôtô Cửu Long được thiết kế và đầu tư trang thiết bị, công nghệ vàphương tiện sản xuất lắp ráp ôtô theo công nghệ tiên tiến của khu vực Xe ôtô tảiđược sản xuất, lắp ráp từ cụm tổng thành – CKD Hiện tại, tại Nhà máy có haidây chuyền lắp ráp Phân xưởng lắp ráp I bán tự động công suất 10.000/nămchuyên lắp ráp xe tải từ 500kg đến 4 tấn Phân xưởng lắp ráp 2 bán tự động,chuyên lắp ráp xe có trọng tải từ 5 đến 12 tấn
Biểu 6: Dây chuyền máy móc thiết bị của Nhà máy ôtô Cửu Long
B Phân xưởng sơn
1 Băng tải hình tròn và bể tiền xử lý 1 Chiếc 34,5 34,5
Trang 24Nguồn: Phòng Kế hoạch kinh doanh
Tại phân xưởng Cabin Nhà máy ôtô Cửu Long, các mảnh Cabin đượcđịnh vị trên thiết bị tiêu chuẩn đảm bảo độ chính xác cao Thiết bị gá hàn Cabin
Trang 25chuyên dụng do TMT sản xuất theo bản vẽ và công nghệ Hàn Quốc Công nghệhàn điểm (hàn bấm) đảm bảo độ vững chắc, tính đồng nhất và nâng cao tuổi thọcủa sản phẩm trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Việt Nam Đây cũng là ưuđiểm vượt trội của xe ôtô Cửu Long
Sau quá trình gá hàn Cabin, Cabin sẽ được đưa sang phân xưởng sơn Tạiphân xưởng sơn Thùng, Cabin được xử lý hoá chất bề mặt, tẩy gỉ và loại bỏ toàn
bộ các tạp chất dầu mỡ…Toàn bộ 100% Thùng, Cabin đều được phốt phát hoá
và sơn tĩnh điện Tại công đoạn này, kỹ thuật công nghệ được áp dụng triệt đểnhằm nâng cao tuổi thọ kim loại, đồng thời màu sơn sẽ rất bền, đẹp trong quátrình sử dụng
Đồng thời hoạt động với dây chuyền hàn và sơn còn có hai dây chuyềnlắp ráp khung xe và Cabin Nhà máy ôtô Cửu Long được trang bị dây chuyềnlắp ráp linh hoạt và hiện đại phù hợp với các loại xe tải trọng từ 500kg đến trên
10 tấn Tất cả các mối ghép quan trọng của xe đều được kiểm tra lực xiết bằngthiết bị chuyên dụng ngay tại thời điểm xiết chặt bằng súng dẫn động khí nén
Với dây chuyền công nghệ tiên tiến, các sản phẩm ôtô sau quá trình sảnxuất và lắp ráp đều đảm bảo được chất lượng đồng bộ và có hệ số an toàn cao.Bên cạnh đó, Nhà máy liên tục cải tiến quá trình và hợp lý hoá sản xuất, vừa rútngắn được thời gian sản xuất, vừa nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm
2.1.3 Đặc điểm đội ngũ lao động
Đội ngũ lao động là một nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộhoạt động của Công ty Đặc biệt đối với một Công ty vừa sản xuất vừa kinhdoanh thương mại như Công ty TMT thì điều này càng quan trọng hơn Sốlượng và cơ cấu lao động của Nhà máy ôtô Cửu Long được thể hiện qua biểu 7
và biểu 8
Dựa vào biểu 7 và 8 ta có thể thấy số lượng lao động của Nhà máy khálớn, trong đó tập trung chủ yếu là lao động nam (93,4% số lao động của Nhàmáy trong năm 2004 và 92,2% số lao động trong năm 2005) Điều này là hợp lý
vì việc lắp ráp xe ôtô cần nhiều nam thanh niên khoẻ mạnh, khéo léo Chính đội
Trang 26ngũ lao động này quyết định rất lớn đến chất lượng sản phẩm của Nhà máy vì họ
Số lượng(người)
Tỉ lệ(%)
Số lượng(người)
Tỉ lệ(%)
Tỉ lệ (%)
Số lượng(người)
Tỉ lệ(%)
vì toàn bộ quá trình lắp ráp đều được thực hiện trên dây chuyền, cán bộ kĩ thuậtchỉ thực hiện việc kiểm tra và chỉnh sửa khi có vướng mắc Điều này có ưu điểmtrong việc tiết kiệm số lượng lao động, nhưng gặp khó khăn vì qui mô của Nhàmáy tương đối lớn, công việc của các cán bộ kĩ thuật khá nhiều, đôi khi quá tải,ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Nhìn chung, số lượng lao động được trang
Trang 27bị trình độ chuyên môn tốt của Nhà máy là tương đối nhiều (92,3% tổng số laođộng của Nhà máy trong năm 2004 và 91,2 % trong năm 2005), điều này là cơ
sở cho việc đảm bảo cho hoạt động sản xuất tại Nhà máy và chất lượng sảnphẩm ngày càng được nâng cao
2.1.4 Đặc điểm về nguồn cung ứng nguyên vật liệu và các nhà cung ứng
Để hình thành nên một chiếc xe tải hoàn chỉnh, trung bình phải cần từ 800đến 1200 loại nguyên vật liệu đầu vào khác nhau tuỳ vào loại xe Chính vì vậy,nguồn cung ứng nguyên vật liệu có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm,
vì nguyên vật liệu tốt là tiền đề dẫn đến chất lượng sản phẩm được đảm bảo
Hiện tại, nguồn vật tư, nguyên vật liệu của Nhà máy được hình thành từhai nguồn chính là mua trong nước và nhập ngoại Thực hiện chủ trương nội địahoá của Chính Phủ trong sản xuất ôtô, Nhà máy luôn tìm cách nâng cao tỉ lệ nộiđịa hoá của mình Các nhà cung ứng trong nước với chất lượng vật tư tốt, đượclựa chọn để đảm bảo cho sản phẩm ôtô được lắp ráp tại Nhà máy
Biểu 9: Nguồn vật tư trong nước và các nhà cung cấp
3 Vật tư phụ trợ - Công ty Thương mại và Sản xuất Vĩnh Lộc Phát
5 Khí các loại - Công ty GAZ OXY - Đất đèn Long Biên
- Chi nhánh Công ty Lê Long Việt Nam
- Công ty Cao su Đà Nẵng
9 Sơn - Công ty TNHH Nippon VN- Công ty TNHH Sơn liên hợp (PPG)
- Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh XNK Sơn ôtô
Trang 28Các loại nguyên vật liệu cần thiết còn lại như động cơ, hộp số, trục cácđăng, cầu trước và sau, khung xe,… được nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên,đối với các loại nguyên vật liệu nhập ngoại (chiếm hơn 60% cấu tạo của xe)luôn gặp những khó khăn vì không thể kiểm soát được chất lượng và nguồncung ứng, ảnh hưởng đến chất lượng của xe Dựa vào biểu 9 về các nhà cungứng trong nước, ta thấy các Công ty cung ứng vật liệu đầu vào này đều là nhữngnhà cung cấp có uy tín trên thị trường (hầu hết là các Công ty nhà nước hoặcliên doanh có qui mô tương đối lớn), với chất lượng vật tư đã đạt chuẩn quốcgia, điều này đảm bảo cho chất lượng ôtô của Nhà máy được sản xuất Nhìnchung sau gần ba năm hoạt động, nguồn nguyên liệu của Nhà máy luôn đượccung cấp đầy đủ và đảm bảo chất lượng, điều đó tạo điều kiện cho việc duy trì
và nâng cao chất lượng của sản phẩm ôtô lắp ráp tại Nhà máy Tuy nhiên, bêncạnh đó, cũng còn tồn tại những sai xót trong khâu mua vật tư như kiểm tra chưa
kĩ để lọt vật tư không đạt yêu cầu, xử lý vật tư sai hỏng chưa đạt…của nhà cungcấp cần được xử lý, khắc phục
2.2 Tình hình áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001: 2000 vào hoạt động sản xuất tại Nhà máy
2.2.1 Quản trị chất lượng trong khâu mua vật tư đầu vào
2.2.1.1 Lựa chọn nhà cung ứng và mua sắm vật tư
Mua vật tư là khâu quan trọng đầu tiên đảm bảo cho quá trình sản xuấtđược diễn ra thông suốt Tại Nhà máy ôtô Cửu Long, quá trình mua vật tư đượcthực hiện như lưu đồ 1 Nguồn vật tư chính của Nhà máy được mua tư hai nguồnchính là mua vật tư trong nước (công tác nội địa hoá) và nhập ngoại
Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh và các hợp đồng đã kí kết vớikhách hàng, căn cứ vào lượng vật tư tồn kho, Phòng Nội địa hoá xây dựngphương án mua hàng cho từng lô hàng trình Giám đốc Công ty xét duyệt Saukhi phương án được duyệt sẽ chuyển đến cho các phòng, ban liên quan thựchiện Tương tự như vậy, Phòng Xuất nhập khẩu cũng dựa trên những căn cứ trên
để lập phương án mua hàng, sau đó trình Giám đốc xét duyệt
Trang 29Sau khi các phương án đã được xét duyệt, các Trưởng phòng Nội địa hoá
và Xuất nhập khẩu sẽ tìm hiểu thông tin về các nhà cung cấp, xác định khả năngcung cấp của họ, giá cả, phương thức thanh toán và uy tín của nhà cung cấp trênthụ trường
Lưu đồ 1: Qui trình mua vật tư của Nhà máy ôtô Cửu Long
Trên cơ sở tìm hiểu các nhà cung cấp, các Trưởng phòng sẽ tiến hành lựachọn nhà cung cấp, lập hợp đồng hoặc đơn hàng Vật tư sẽ được giao nhận theohợp đồng đã kí Riêng với vật tư nhập ngoại, trước khi nhận hàng, Phòng Xuấtnhập khẩu phải mở L/C tại Ngân hàng Vật tư sau khi được nhập về kho hàng,Nhà máy phải tiến hàng kiểm tra về cả số lượng và chất lượng Các vật tư kémchất lượng bị phát hiện trong khi giao nhận sẽ được trả về nhà cung cấp ngay lập
Kế hoạch sản xuất kinh doanh đã duyệt Các hợp đồng đã ký
Phương án mua vật tư, linh kiện Vật tư tồn kho
Kế hoạch sản xuất của Nhà
máy ôtô Cửu Long
Thông báo cho nhà cung cấp (điện thoại, fax, đơn hàng)
Nhà cung cấp thông tin lại chào hàng, chấp nhận đơn hàng
Lựa chọn nhà cung cấp
Lập hợp đồng hoặc đơn hàng Chuyển hợp đồng hoặc đơn hàng đã kí
cho Nhà máy ôtô Đặt cọc, ứng tiền (nếu có) Nhận hàng
Kiểm tra hàng Thanh toán / Thanh lý
Thông báo nhà cung ứng
xử lý: Trả lại/ Xử lý
Trang 30tức hoặc thông báo cho nhà cung cấp để xử lý Đối với số lượng hàng không đạtyêu cầu hoặc tỉ lệ hỏng vượt quá tỉ lệ cho phép thì phải yêu cầu nhà cung cấpnhận lại hàng và phối hợp cùng tìm ra biện pháp khắc phục, sửa chữa.
Biểu 10: Phát hiện và xử lý vật tư, thiết bị không đạt yêu cầu
Thứ
tự Công đoạn Giới hạn mở Người mở phiếu Biện pháp xử lý
1 Mua vật tư- Nhập khẩu linh
kiện ôtô
Kiểm tra nếu có vật tư thành phẩm không đạt
- Phòng xuất nhập khẩu
- Báo cáo Giám đốc
- Thông báo Nhà cung cấp để xử lý
- Vật tư mua trong
nước
Vật tư sản phẩm không đạt của một nhà sản xuất không được lớn hơn 3%
- Phòng XNK
- Nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô Cửu Long
- Báo cáo Giám đốc
- Thông báo cho cơ sở sản xuất để xử lý
- Phòng Kế hoạch kinh doanh
- Nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô Cửu Long
- Sửa lại cho đạt hoặc đổi sản phẩm
- Đáp ứng nhu cầu của khách
5 Sản phẩm vật tư trong các công
đoạn sản xuất
Tỷ lệ hỏng trong công đoạn kiểm tra
- Nhà máy sản xuất và lắp ráp ôtô Cửu Long
- Thông báo cho Nhà cung cấp vật tư linh kiện và Nhà sản xuất.Tìm nguyên nhân
và sửa lại để cung cấp
- Báo cáo cho Giám đốc Công ty (nếu cần)
- Phòng QLCL báo lỗi sau lắp ráp
- Thông báo cho Nhà máy
- Thông báo cho Nhà cung cấp tìm nguyên nhân sửa chữa cho đạt yêu cầu
- Báo cáo Giám đốc Công ty
Nguồn: Phòng Quản lý chất lượng
Việc đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp sẽ chia làm hai bước
- Bước thứ nhất: đánh giá ban đầu Các trưởng phòng sẽ căn cứ vàolượng thông tin có được để chọn ra nhà cung cấp phù hợp với yêu cầu của Công
Trang 31ty Biểu 9 thể hiện những nhà cung cấp trong nước đã được Công ty lựa chọnsau khi đã phân tích kĩ lưỡng.
- Bước thứ hai: theo dõi nhà cung cấp Mỗi nhà cung cấp sẽ có một phiếutheo dõi quá trình thực hiện bao gồm: hỏi giá, báo giá, các tài liệu do họ cungcấp về sản phẩm, thư từ giao dịch đàm phán, tiến độ giao hàng, trên cơ sở đóđôn đốc việc giao vật tư, hàng hoá kịp thời Trong trường hợp nhà cung cấpkhông thực hiện đúng phải báo cho trưởng phòng Nội địa hoá, trưởng phòngXNK, Giám đốc, Phó giám đốc Công ty biết Định kì 6 tháng một lần cán bộtheo dõi mua vật tư tổng hợp tình hình thực hiện hợp đồng của các nhà cungcấp, trình Trưởng phòng xem xét có tiếp tục hay loại bỏ nhà cung cấp đó
2.2.1.2 Kiểm tra chất lượng vật tư
Tất cả vật tư mua về đều được kiểm tra đầy đủ tại kho Đối với vật tư muatrong nước, Công ty uỷ quyền cho Nhà máy kiểm tra Các vật tư nhập khẩuCông ty thuê giám định hoặc đơn vị phân tích kiểm tra Phòng XNK, phòng Nộiđịa hoá và Nhà máy kiểm tra chất lượng theo mẫu, số lượng lô hàng nhập mua
về theo đúng chức năng và quyền hạn đã được Giám đốc Công ty giao cho.Việckiểm tra vật tư sẽ được thực hiện theo hai bước
Bước 1: Kiểm tra số lượng: Việc kiểm tra số lượng vật tư sẽ được thựchiện bằng cách so sánh số lượng thực tế với số lượng qui định trong hợp đồng,hoá đơn và phiếu mua hàng (nếu có)
Bước 2: Kiểm tra chất lượng
- Với linh kiện mua trong nước: Sau khi nhập linh kiện về kho sẽ tiến hànhlắp ráp thử từ 2 – 5 xe hoàn chỉnh để xác định được sự đồng nhất giữa cáclinh kiện nhập khẩu với các linh kiện mua trong nước Việc các định chấtlượng linh kiện thực nhập so với các linh kiện mẫu do phòng Nội địa hoá,Nhà máy sản xuất, lắp ráp cùng tiến hành theo đúng chức năng của từng
bộ phận
- Với linh kiện nhập khẩu: Sau khi nhập linh kiện về kho, Nhà máy phảitiến hành cho lắp thử 2 – 5 sản phẩm và kiểm tra các chỉ tiêu theo đúng
Trang 32qui định Trong quá trình lắp ráp phát sinh chất lượng không đảm bảo,Nhà máy báo cáo lên Giám đốc Công ty để xem xét giải quyết.
Các số liệu kiểm tra sẽ được ghi chép và xử lý với các vật tư không phù hợp
Biểu 11: Tỷ lệ vật tư hỏng và xử lý vật tư hỏng tại Nhà máy
Thứ
tự Chỉ tiêu 2003 2004 2005 Quí I năm 2006
Xử lý
Nguồn: tính toán từ số liệu của Nhà máy
Năm 2003, Nhà máy chưa có các thiết bị kiểm tra vật tư mà chủ yếu kiểmtra bằng tay và quan sát nên tỷ lệ vật tư chưa phù hợp bị phát hiện còn thấp (6%vật tư trong nước và 5% vật tư nhập ngoại) Bước sang năm 2004, Nhà máy đivào hoạt động, với sự đầu tư bài bản hơn, đầy đủ các thiết bị kiểm tra hơn nên tỷ
lệ vật tư chưa đạt yêu cầu có tăng lên (10% vật tư trong nước và 8% vật tư nhậpngoại), nhưng tỷ lệ này luôn ở mức chấp nhận được và Nhà máy có biện pháp
xử lý kịp thời với các vật tư hỏng, đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất Tuynhiên Nhà máy cần có biện pháp hạn chế đến mức tối đa mức độ nhập các vật tưhỏng để giảm chi phí xử lý Đa phần vật tư hỏng Nhà máy đều có sự kết hợp vớinhà cung cấp có biện pháp sửa chữa tại chỗ (chiếm trên 60% các vật tư nhập).Các vật tư này sau khi sửa chữa có thể được nhập kho và sử dụng Các vật tưphù hợp được nhập kho và sẵn sàng cho việc tham gia vào quá trình sản xuất
Như vậy, với việc kiểm tra gắt gao vật tư đầu vào đảm bảo cho vật tư khitham gia sản xuất có chất lượng đạt yêu cầu Nhà máy đã đặt ra
2.2.2 Quản trị chất lượng sản phẩm ôtô
2.2.2.1 Qui trình kiểm tra chất lượng sản phẩm và các thiết bị kiểm tra chất lượng sản phẩm