Slide 1 CHƯƠNG II THUỐC TÁC ĐỘNG LÊN HỆ THẦN KINH 04/19/22 2Nguyễn Văn Chào Thuốc tác dụng lên hệ thần kinh Thuốc tác dụng tới hệ thần kinh trung ương Nhóm thuốc ức chế thần kinh trung ương Nhóm[.]
Trang 1CHƯƠNG II: THUỐC TÁC ĐỘNG LÊN HỆ THẦN KINH
Trang 2Thuốc tác dụng lên hệ thần kinh
Trang 3Thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương
trong một thời gian nhất định, sau đó cơ thể hồi phục trở lại bình
Thuốc gây mê
Thuốc gây tê
Thuốc ngủ
Thuốc trấn tĩnh
Thuốc giảm đau
Trang 4Thuốc mê
Thuốc mê là những thuốc có tác dụng làm ngừng tạm thời sự hoạt động của các cơ quan chịu sự chi phối trực tiếp của thần kinh trung ương (trừ trung khu hô hấp và tuần hoàn ở hành tủy)
Trong những ca đại phẫu người ta gây mê với mục đích tạm thời làm cho con vật mất cảm giác đau, mất các phản xạ khác có thể gây tai biến nguy hiểm như choáng
Phân loại:
Thuốc bay hơi: ether, chloroform, chlorure ethyl,…
Thuốc mê không bay hơi như: chloralhydrat, uretan, pentotal,…
Trang 5Thuốc mê
mạnh mà còn làm mất các phản xạ và gây giãn cơ mạnh
các dụng cụ gây mê)
Trang 6Tác dụng dược lý của thuốc mê
Thuốc mê có tác dụng ức chế vỏ não, người ta cho rằng đó là
sự ức chế hoạt động điện sinh học của vỏ não
Do vậy đã chế ngự một cách tổng quát và có thứ tự các lớp thần kinh trung ương từ vỏ não xuống và từ tủy sống lên, cuối cùng hợp điểm ở hành tủy
Chính vì vậy mà tác dụng của thuốc mê thể hiện qua 4 giai đoạn như sau:
Trang 7Các giai đoạn mê khi dùng thuốc
đau
các trung khu dưới vỏ não được giải phóng Biểu hiện của con vật dãy dụa, nuốt, nôn, Giai đoạn này dễ gây nguy hiểm
Giai đoạn phẫu thuật: giai đoạn này con vật bị ức chế sâu, việc phẫu thuật được tiến hành ở giai đoạn này
ngại, dễ nguy hiểm
Trang 8Cơ chế tác động của thuốc mê
Nhiều thuyết cho rằng, thuốc mê là một chất trơ dễ hấp thu bởi các tế bào chứa nhiều lipid và trạng thái mê sẽ sảy
ra khi có một chất trơ thâm nhập vào lipid của tế bào thần kinh ở mức độ tới hạn
Một trong những bằng chứng của lý thuyết này là xenon là một chất có tác dụng gây mê Mà bản chất xenon là một khí trơ nên nó không thể tham gia vào bất cứ một phản ứng hóa học nào với các cấu tử trong cơ thể.
Trang 9Cơ chế tác động của thuốc mê
Tác dụng chung của thuốc mê là làm tăng ngưỡng kích thích,
vì vậy làm giảm tính hoạt động của nơron
Ức chế recepter sau sinap làm giảm cảm thụ với acetylcholin, giảm kênh dẫn ion của acetylchlin (kênh Na+)
Tại màng tế bào thần kinh: thuốc làm giảm tính thấm với ion
Na+ nên chậm khử cực do màng tế bào giữ nước.
Trang 10Cách gây mê
nửa hở, máy gây mê kín hoàn toàn
thủy tinh, buồng gỗ,…) có diện tích bề mặt bốc hơi rộng để ether bốc hơi được nhanh, rồi dùng vải gạc thầm ether đặt vào trong
chúng ta có thể sử dụng những chiếc túi nilon để làm buông hở để gây mê cho gia súc nhỏ
Trang 12Tác dụng dược lý & cơ chế tác dụng
giác và tiếp theo là thần kinh vận động
phóng chất dẫn truyền thần kinh và ngăn cản tương tác của nó với các thụ thể sau synap Nồng độ ở phế nang sau khi hít vào đạt độ gây mê chậm, nên khởi mê chậm và tỉnh lại cũng chậm
sống ít hơn và ít nhất ở hành tủy, trình tự tê liệt cũng xảy ra như vậy Khi hành tủy đã bị tê liệt, con vật rất dễ chết
Trang 13Dược động học
Thuốc phân bố đầu tiên vào các cơ quan có lưu lượng máu cao (não, tim, gan và thận) và sau đó vào các cơ quan ít được tưới máu hơn (cơ và mỡ)
Khoảng 2 - 3% lượng thuốc được chuyển hóa trong gan thành acetaldehyd, alcol, acid acetic và carbon dioxyd, và 85 - 90% lượng hít vào vẫn ở dạng ban đầu khi thải qua phổi
Các chất chuyển hóa được thải ra nước tiểu.
Trang 14Liều lượng và phương pháp gây mê
mà gia súc hít vào Thần kinh bị tê liệt tạm thời ở nồng độ tối thiểu của ether là 0,10 - 0,13% trọng lượng của khối khí gia súc hít vào
đủ để duy trì mê sâu nhưng không gây ngộ độc Phạm vi đó gọi là
“vùng nồng độ ether” hay “phạm vi mê ether” Ở người cũng như
gia súc, phạm vi này nằm trong khoảng 3- 6% thể tích
Trang 15Liều lượng và phương pháp gây mệ
các cơ hoàn toàn giãn ra (mất trương lực) Mất phản xạ mi mắt hoàn toàn, đồng tử mắt co nhỏ lại Tim có tăng hoạt động nhưng không
có biểu hiện rối loạn, con vật thở đều
bộ
gia súc có bệnh đường hô hấp
Trang 17Tác dụng không mong muốn
Nôn và buồn nôn (> 50%), ADR >1/100
Tim mạch: Lưu lượng tim tăng 20%, giãn mạch vành Khi gây mê sâu, làm giảm lưu lượng máu và huyết áp
Hô hấp: Kích thích đường hô hấp, tiết nhiều đờm, rãi Mê sâu sẽ ức chế hô hấp, mê nông có thể có ngừng thở và gây ho nếu hít vào quá nhanh.
Thần kinh trung ương: giãn mạch não, tăng lưu lượng máu não.
Tiêu hóa: Giảm nhu động dạ dày - ruột, gây tăng tiết dịch và nước mắt.
Tiết niệu - sinh dục: Giảm dòng máu qua thận và mức lọc cầu thận, nước tiểu cô đặc gây albumin niệu Giảm trương lực tử cung ở gia súc mang thai.
Trang 18Quá liều và xử lý
Triệu chứng quá liều cấp tính: Triệu chứng đầu tiên là suy hô hấp
và sau đó ngừng tim Thông thường sẽ hồi phục hô hấp nếu tiến hành ngay thông khí không liên tục áp suất dương có oxy Ether kích thích tân tạo glucose và có thể gây tăng đường huyết
Trang 19 Ngay trong giai đoạn mê, chloroform đã làm liệt các cơ trơn, cản trở hoạt động của trung tâm vận mạch, do đó dễ dàng dẫn tới trụy tim mạch Có thể hạn chế hậu quả này bằng cách tiêm dung dịch glucoza dự phòng.
Ứng dụng lâm sàng: Trong thú y chỉ dùng cho ngựa và lợn Không dùng cho loài nhai lại, mèo.
Chú ý: không dùng cho gia súc bị bệnh tim mạch và gia súc sắp mổ thịt.
Trang 20 Tên chung quốc tế: Halothane, tên khác fluothan
Dịch không màu, có mùi gần như chloroform, tan rất ít trong nước, không cháy, nổ, dễ bay hơi, không kích ứng niêm mạc.
Vì có chất ổn định là thymol không bay hơi, nên chất này đọng lại trong bình bốc hơi và sau một thời gian sẽ làm phần thuốc còn lại trở thành màu vàng.
Halothan có thể hòa lẫn với ethanol tuyệt đối, cloroform, ether, tricloroethylen và các dung môi béo khác
Halothan không bị vôi soda phân hủy và có thể gây mê hệ thống hở, nửa
hở, nửa kín hoặc kín.
Trang 22 Halothan chuyển từ máu vào các mô (đặc biệt là các mô mỡ) Các mô mỡ
có ái lực mạnh với halothan nên tránh được sự tích lũy halothan trong máu tuần hoàn, thậm chí sau một trường hợp gây mê kéo dài.
Trang 23Ứng dụng điều trị
Chỉ định
Dùng gây mê tốt cho nhiều loài gia súc như ngựa, trâu, bò, chó, mèo, lợn,
…Gây mê đường hô hấp.
Chống chỉ định
Tiền sử hoặc nghi ngờ có hội chứng sốt cao ác tính Tiền sử có sốt hoặc vàng da không rõ nguyên nhân sau khi gây mê bằng halothan (chống chỉ định tuyệt đối).
Trong vòng 3 tháng sau gây mê bằng halothan thì chưa nên dùng lại, trừ khi thật cần thiết Không nên gây mê bằng halothan trong sản khoa trừ trường hợp cần giãn tử cung.
Trang 24Chú y: Cũng giống như các thuốc ức chế thần kinh khác, sau khi
dùng halothan ngày hôm đó, người bệnh không được lái xe và vận hành máy.
Trang 25Liều lượng & phương pháp gây mê
Dùng thiết bị cho kêt quả mê tốt, và tiết kiệm được thuốc Chỉ cần nồng độ thuốc 2 - 4% thể tích đã bắt đầu mê
Tiếp theo, duy trì nồng độ 0,8 - 1,2% thể tích là tốt (với ether phải duy trì nồng độ 4% thể tích, còn chloroform 1,5%)
Phối hợp morphine, thì nồng độ duy trì mê 0,4 - 0,5%, phối hợp barbiturate nồng độ là 0,2 - 1,2%
Với thiết bị mê kín, dùng liều cho ngựa 40 - 60ml; chó, mèo khoảng 10ml, con vật sẽ mê trong nửa giờ
Sau khi ngừng cho thuốc 30 - 60 phút, gia súc đứng dậy được, không có dấu hiệu bất thường sau khi mê
Trang 26Liều lượng và phương pháp gây mê
Với chó có thể phối hợp thêm morphine, còn với các động vật khác có thể phối hợp thêm các dẫn xuất của barbiturate.
Halothan là thuốc mê đảm bảo nhất hiện nay, để phòng rối loạn nhịp tim,
có thể dùng thêm atropin Hoặc đề phòng hạ huyết áp, có thể dùng thêm các thuốc tác dụng trấn tĩnh loại phenothiazine làm thuốc tiền mê với liều thấp và thận trọng.
Trang 27Thuốc tê
Thuốc tê là thuốc khi đưa vào cơ thể có khả năng gây tê đầu mút thần kinh, làm ngăn chặn sự dẫn truyền xung động thần kinh và tạm thời làm mất cảm giác đau
cũng như mọi loại sợi dây thần kinh
Sau thời gian gây tê, tổ chức mô cũng như tổ chức thần kinh, dây thần kinh được phục hồi hoàn toàn
tương tự nhau, nên thuốc tê không chỉ gây tác động trên thần kinh,
mà còn tác động đáng kể lên cả các tổ chức mô cơ
Trang 28Phân loại thuốc tê
Dựa vào cấu trúc hóa học thuốc tê được chia ra làm 4 loai:
Trang 29Tính chất lý hóa học
Novocain được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học,
là chất kết tinh không màu, không nùi
Novocain là chất dễ hỏng lúc tiếp xúc với tanin, các chất kiềm mạnh, các chất oxy hóa mạnh và muối của kim loại nặng.
Novocain là thuốc thuộc nhóm chất độc bảng B
Trang 30Tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng
Tác dụng của novocain là gây tê các đầu mút thần kinh cảm giác, có tác dụng găn cản sự dẫn truyền các kích thích đau từ cục bộ đó về thần kinh trung ương Kết quả là làm giảm đau tại cục bộ trong một thời gian nhất định.
Novocain không được hấp thu qua niêm mạc, nên không dùng
để gây tê bề mặt.
Trang 31Một số phương pháp gây tê
Gây tê thẩm thấu: là cách tiêm thẳng novocain vào mô gây tê
Gây tê vùng (gây tê thấm) là phương pháp tiêm novocain vào dưới
da, vừa bơm vừa rút kim theo các nhánh vào tận cùng của thần kinh
Gây tê phóng bế: là phương pháp tiêm dung dịch thuốc thẳng vào dây thần kinh, khoảng giữa các dây thần kinh, hay đám rối thần kinh
Gây tê cột sống: tiêm novocain 1 - 3% vào xoang ngoài màng cứng cột sống ở vị trí hông khum, phương pháp này gọi là saccaralis cao Hoặc tiêm thuốc vào vị trí khum đuôi phương pháp này gọi là saccaralis thấp
Trang 32Những chú ý khi dùng novocain
Trong cơ thể, novocain bị phân hủy thành PABA (para aminobenzoic acid),
do vậy làm mất tác dụng của sulfamid.
Để kéo dài tác dụng của novocain, ta phối hợp với các thuốc có tác dụng co mạch quản ngoại biên như adrenalin, rượu, phenol, dầu (dầu lạc tinh kiết).
Ví dụ: cho 10 – 40 gọt adrenaline 0,1% vào 100ml novocain sẽ kéo dài thời gian tác dụng của novocain lên 3 - 5lần, pha thuốc trong dầu lạc có nồng độ
2 - 10% thì thời gian gây tê kéo dài được trên 10 giờ.
Bình thường thời gian bắt đầu tê từ 10 - 15 phút sau khi cho thuốc, và thời gian tê kéo dài từ 15 phút đến 1 giờ Tuy nhiên, thời gian này còn chịu ảnh hưởng của liều lượng thuốc
Trang 33Ứng dụng điều trị
Gây tê thấm: dùng dung dịch 0,25%.
Gây tê dây thần kinh: dùng để chẩn đoán bệnh què của gia súc, gây tê lúc cần phẫu thuật dùng dung dịch 3 – 6%.
Phóng bế các đám rối thần kinh để giảm đau và điều trị các bệnh ngoại khoa khác nhau.
Gây tê cột sống: tiêm dung dịch novocain 1 - 3% Mục đích của gây tê cột sống là giảm đau vùng sau của con vật.
Novocain còn được dùng để kéo dài thời tác dụng của thuốc kháng sinh
Ví dụ: procaine benzilpenicilline là hỗn hợp giữa procain với benzylpenicilline, còn gọi là penicilline chậm.
Trang 34Tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng
Lidocain thuộc nhóm amid, thời gian tác dụng trung bình Thuốc tê phong
bế sự phát sinh và dẫn truyền xung động thần kinh bằng cách giảm tính thấm của màng tế bào thần kinh với ion Na + , làm giảm lan truyền hiệu điện thế hoạt động dẫn truyền xung động thần kinh
Lidocain hiện được dùng rộng rãi nhất, gây tê nhanh hơn, mạnh hơn, rộng hơn và thời gian dài hơn so với novocain cùng nồng độ
Lidocain được chọn cho các ca mẫn cảm với thuốc tê loại este
Lidocain là thuốc chống loạn nhịp, chẹn kênh Na + , được dùng tiêm tĩnh mạch để điều trị loạn nhịp tâm thất.
Trang 35Dược động học
Lidocain hấp thu tốt khi uống (35 ± 11%), nhưng bị chuyển hóa bước đầu ở gan, do đó kém hiệu quả khi uống Có thể dùng tiêm bắp cách quãng, nhưng tiêm tĩnh mạch được ưa dùng hơn
Nồng độ lidocain trong huyết tương giảm nhanh sau một liều tiêm tĩnh mạch Sau khi tiêm tĩnh mạch, nửa đời ban đầu (8 - 10 phút); nửa đời sau (100 - 120 phút) biểu thị sự chuyển hóa thuốc ở gan
Thải trừ trong nước tiểu: 2 ± 1% gắn với protein huyết tương: 70 ± 5% Nồng độ có tác dụng: 1,5 - 6 microgam/ml Nồng độ độc: 10 microgam/ml
Trang 36Chỉ định
Gây tê tại niêm mạc trước khi khám, đặt thiết bị kỹ thuật, hoặc tiến hành các thủ thuật khác và để làm giảm đau trong nhiều bệnh
Gây tê lớp và các kỹ thuật gây tê phong bế thần kinh bao gồm gây
tê thần kinh ngoại vi, gây tê hạch giao cảm, gây tê ngoài màng cứng, gây tê khoang cùng, và gây tê tủy sống
Tiêm để điều trị cấp tính các loạn nhịp tâm thất sau nhồi máu cơ tim hoặc trong khi tiến hành các thao tác kỹ thuật về tim như phẫu thuật tim hoặc thông tim
Trang 37Liều lượng và phương pháp gây tê
Liều lượng được tính theo lidocain hydroclorid Thuốc tiêm:
Trang 38Một số phương pháp gây tê bằng lidocain
Gây tê tại niêm mạc mũi, miệng, dùng lidocain hydroclorid (2% - 10%)
Gây tê từng lớp: dùng lidocain hydroclorid (0,5% - 1%); khi pha thêm adrenalin có thể tăng liều thêm một phần ba (7mg/kg)
Gây tê phong bế vùng: Tiêm dưới da dung dịch lidocain hydroclorid với liều như trên
Gây tê phong bế thần kinh: dùng lidocain (1% - 1,5%) với liều khuyến cáo ở trên (xem gây tê từng lớp)
Trang 39Không được tiêm thuốc tê vào những mô bị viêm hoặc nhiễm khuẩn
và không cho vào niệu đạo bị chấn thương vì trong điều kiện như vậy, thuốc sẽ được hấp thu nhanh và gây phản ứng toàn thân thay vì phản ứng tại chỗ
Trang 40Tác dụng không mong muốn (ADR)
Cùng với tác dụng phong bế dẫn truyền ở sợi trục thần kinh tại hệ thần kinh ngoại vi, thuốc tê ảnh hưởng đến chức năng của tất cả những cơ quan mà sự dẫn truyền xung động tới
Do đó thuốc có tác dụng quan trọng trên hệ thần kinh trung ương Thường gặp, ADR > 1/100, triệu chứng: hạ huyết áp, lạnh run, khó thở, suy giảm hoặc ngừng hô hấp, ngủ lịm, hôn mê hoặc kích động, cơn co giật, sảng khoái hoặc ảo giác
Da, ngứa, ban, phù da, tê quanh miệng và đầu lưỡi, buồn nôn, nôn
Trang 41Tương tác thuốc
Adrenalin phối hợp với lidocain làm giảm hấp thu, độc tính, do đó kéo dài thời gian tác dụng của lidocain Có nguy cơ quá liều nếu đồng thời bôi, đắp lidocain trên niêm mạc với lượng lớn, dùng nhiều lần, dùng ở vùng miệng và họng, hoặc nuốt.
Thuốc chẹn beta: Dùng đồng thời với lidocain có thể làm chậm chuyển hóa lidocain do giảm lưu lượng máu ở gan, dẫn đến tăng nguy cơ ngộ độc lidocain.
Cimetidin có thể ức chế chuyển hóa lidocain ở gan, dẫn đến tăng nguy cơ ngộ độc lidocain.
Sucinylcholin: Dùng đồng thời với lidocain có thể làm tăng tác dụng của sucinylcholin.
Trang 42Quá liều và xử lý
Thuốc có chỉ số điều trị hẹp, xảy ra ngộ độc với liều cao hơn liều điều trị
Triệu chứng quá liều: hôn mê, cơn co giật, ngừng hô hấp và giảm huyết áp, chóng mặt, dị cảm, run, mất điều hòa, và rối loạn tiêu hóa.
Ðiều trị chỉ là hỗ trợ bằng những biện pháp thông thường truyền dịch, đặt
ở tư thế thích hợp, thuốc tăng huyết áp, thuốc chống loạn nhịp, thuốc chống co giật.
Thành phẩm giảm độc: Thuốc viên có hàm lượng tối đa là 250 mg; thuốc tiêm có hàm lượng tối đa là 200 Khí dung phân liều có hàm lượng tối đa
là 10%/lần phun; dung dịch nhớt lỏng có nồng độ tối đa là 2%; gel bôi niêm mạc có nồng độ tối đa là 2%.
Trang 43Thuốc ngủ
Giấc ngủ là một hiện tượng sinh lý có chu kỳ của sự sống Là sự ức chế của bán cầu đại não, giúp cho cơ bắp, và các quá trình chuyển hóa khác trong cơ thể được nghỉ ngơi
Thuốc ngủ sẽ có tác dụng ức chế, trấn tĩnh thần kinh trung ương, lấy lại sự thăng bằng giữa hai qua trình hưng phấn và ức chế
Thuốc ngủ nếu dùng liều nhỏ có tác dụng an thần, gây ngủ, nếu dùng liều cao sẽ gây mê hoặc hôn mê
Trong lâm sàng thú y, các thuốc ngủ ít có ý nghĩa vì ít được sử dụng với mục đích gây ngủ Người ta thường dùng liều cao để gây mê