1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận LDS2 vũ mạnh tuân VB2 k3

20 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 902,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI  TIỂU LUẬN MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 2 ĐỀ TÀI Hình thức của hợp đồng theo quy địnhcủa pháp luật dân sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn Lớp VB2 K3 Học viên Vũ Mạnh Tuân Hà Nội, tháng 3 năm 2022 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 I Khái niệm, đặc điểm hợp đồng 2 1 Khái niệm hợp đồng 2 2 Đặc điểm hợp đồng 2 II Hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật hiện hành 4 1 Hình thức miệng 5 2 Hình thức văn bản 6 3 Hình thức.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

- -TIỂU LUẬN MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 2

ĐỀ TÀI:

Hình thức của hợp đồng theo quy địnhcủa pháp luật dân sự Việt Nam

Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Học viên: Vũ Mạnh Tuân

Hà Nội, tháng 3 năm 2022

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

PHẦN NỘI DUNG……… ….….………2

I Khái niệm, đặc điểm hợp đồng ……… 2

1 Khái niệm hợp đồng………2

2 Đặc điểm hợp đồng……… 2

II Hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật hiện hành……… ………4

1 Hình thức miệng……….……….5

2 Hình thức văn bản……… 6

3 Hình thức hành vi cụ thể……….8

4 Hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử)……… 8

III Thực tiễn và kiến nghị…….……… ……… …10

PHẦN KẾT LUẬN………… ……….……….…… 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ….………… ……18

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hàng ngày một yếu tố không thể thiếu được là phải có giao lưu dân sự, đó là sự chuyển giao tài sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa người này với người khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa pháp nhân này với pháp nhân khác Sự giao lưu dân sự đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đó Sự thỏa thuận đó gọi là hợp đồng

Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy định của nhà nước, trong đó có các quy định về hình thức của hợp đồng Với mục đích đi sâu tìm hiểu về các quy

định của pháp luật về hình thức của hợp đồng, em xin lựa chọn đề tài: “ Hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

Trong quá trình làm bài em đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu biết vấn đề còn hạn chế nên bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, em rất mong có thể nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn

PHẦN NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG

Trang 4

1 Khái niệm hợp đồng

Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội Tuy nhiên việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải

là tự nhiên hình thành bởi tài sản, chúng không thể tự tìm tới nhau để thiết lập các quan hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Do đó chỉ khi nào có sự thể hiện

và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành Quan hệ đó được gọi là hợp đồng

Như vậy, hợp đồng chính là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (theo Điều 385 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015) Hợp đồng là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau Trên cơ sở định nghĩa về hợp đồng ta rút ra được các đặc điểm của hợp đồng

2 Đặc điểm của hợp đồng

Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về hợp đồng thì hợp đồng

có hai nét cơ bản đó là: Sự thỏa thuận giữa các bên và làm phát sinh hậu quả pháp lý

Hợp đồng trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các

Trang 5

bên Việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội

Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung (không bắt buộc phải được nhất trí hoàn toàn) được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi là hợp đồng viết hay hợp đồng thành văn Tuỳ theo từng trường hợp được gọi là hợp đồng hay hiệp định; vd hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí

Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và

sự thống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của luật dân sự so với các ngành luật khác

Về chủ thể tham gia hợp đồng : Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồngphải

có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…)

Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ trong phạm vi hợp đồng có phạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng ngày

Trang 6

29-4-1991 (Điều 1) quy định hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền

và nghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bên hướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ

để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, đó cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng và các hợp đồng kinh

tế, thương mại

Yếu tố này giúp phân biệt hợp đồng với hợp đồng kinh tế :

- Mục đích của hợp đồng kinh tế khi các bên chủ thể tham gia là mục đích kinh doanh (nhằm phát sinh lợi nhuận) trong khi đó hợp đồng các bên tham gia nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng

Chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế phải là các thương nhân, các công ty, đơn vị kinh doanh (nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đăng ký kinh doanh)

II HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dung của hợp đồng Đó là phương diện để ghi nhận lại các điều khoản mà các bên đã cùng nhau thống nhất cam kết Tuy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể

Để đảm bảo được tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhau trong hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng, chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 được xây dựng theo hướng là nền tảng chung cho

Trang 7

pháp luật về hợp đồng, có hiệu lực điều chỉnh đối với tất cả các quan hệ hợp đồng trong mọi lĩnh vực Về hình thức hợp đồng, luật dân sự 2015 không quy định cụ thể tại điều riêng như luật dân sự 2005 quy định về hình thức của hợp đồng tại điều 401 Bộ luật Dân sự 2005 mà coi đó là hoạt động giao dịch dân sự nên nó cũng phải thỏa mãn hình thức của giao dịch dân sự được quy định tại điều 119 luật dân sự 2015:

“1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó’’.

Vì hợp đồng cũng là một loại giao dịch dân sự, nên theo các quy định nêu trên có thể thấy, hình thức của hợp đồng bao gồm các loại sau: bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử)

Như vậy, hình thức của hợp đồng tương đối đa dạng tạo điều kiện cho các chủ thể ký kết thuận tiện Đối với những hợp đồng mà pháp luật đã quy định buộc phải giao kết theo một hình thức nhất định, thì các bên phải tuân theo các hình thức đó

1 Hình thức miệng

Thông qua hình thức bằng lời nói, các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng Hình thức miệng được coi là có độ xác thực thấp nhất Khi có tranh chấp giữa các bên về một hợp đồng đã được giao kết miệng với nhau, bất cứ bên nào cũng có thể phủ nhận tất cả những cam kết trước đây của mình Tuy nhiên, đối với tất cả các quốc gia trên thế giới thì hình thức miệng vẫn được coi là hình thức hợp đồng có lịch sử lâu đời và được áp dụng phổ biến nhất trong các giao dịch dân sự Trước đây điều đó được lý giải là

Trang 8

do số lượng những người biết đọc, biết viết còn rất ít Ngày nay, hình thức miệng vẫn giữ nguyên được vai trò to lớn của nó Các trường hợp cơ bản phổ biến áp dụng hình thức miệng là:

Thứ nhất, hình thức miệng được áp dụng trong những trường hợp các bên tham gia giao kết hợp đồng đã có độ tin cậy lẫn nhau Độ tin cậy giữa các chủ thể thường được xác lập thông qua các quan hệ ruột thịt, quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, cùng học tập … Sự tin tưởng giữa các chủ thể ở đây đóng vai trò như là một nhân tố chủ quan bổ xung thêm cho sự xác thực của hình thức miệng Trong nhiều trường hợp do thiếu độ tin cậy nên các chủ thể không thể áp dụng được hình thức miệng

Thứ hai, hình thức miệng được áp dụng với những hợp đồng có giá trị nhỏ Đối với những hợp đồng có giá trị quá nhỏ (ví dụ: mua mớ rau, bao diêm, mượn cái bút chì,…) thì các bên không có cách nào khác ngoài cách áp dụng hình thức miệng, nếu áp dụng các hình thức khác sẽ có thể tạo nên những chi phí quá lớn, mà giá trị hợp đồng quá nhỏ nên các chi phí đó làm cho việc ký kết hợp đồng trở nên vô nghĩa

Thứ ba, hình thức miệng được áp dụng đối với những hợp đồng mà có thể được thực hiện và chấm dứt ngay sau khi giao kết Ví dụ như đa số các hợp đồng bán lẻ đều được thực hiện dưới hình thức miệng Sau khi thỏa thuận miệng xong

về giá cả, số lượng và chất lượng …thì hai bên thực hiện ngay thỏa thuận đó (bên bán cân đong và bàn giao hàng, bên mua nhận lấy hàng và trả tiền) Đến đây hợp đồng coi như đã thực hiện xong và chấm dứt

2 Hình thức văn bản

Các bên có thể ký kết hợp đồng dưới hình thức cùng nhau lập một văn bản viết Hình thức hợp đồng bằng văn bản mang tính xác thực hơn so với hình thức hợp đồng miệng Trong văn bản đó các bên ghi đầy đủ những nội dung đã thỏa thuận, cùng ký tên xác nhận vào văn bản Văn bản hợp đồng thường được soạn thành hai hay nhiều bản gốc giông nhau, đều phải có chữ ký của các bên,

Trang 9

mỗi bên được giữ một bản Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia Các trường hợp cơ bản áp dụng hình thức văn bản này là:

+ Đối với những hợp đồng có giá trị lớn

+ Đối với những hợp đồng mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp đồng có thể diễn ra trong một thời gian dài không cùng lúc với việc giao kết (ví dụ: hợp đồng gia công xây dựng nhà…)

+ Khi giữa các bên chưa đật được sự tin cậy nhất định

Đối với riêng dạng hợp đồng bằng văn bản thì khoản 2 Điều 119 Bộ luật

dân sự 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo các quy định đó” Thông qua chỉ dẫn này ta thấy rằng hợp đồng bằng văn

bản được chia tiếp ra làm hai loại là: Hợp đồng bằng văn bản thông thường và hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực được coi là hình thức mang tính xác thực cao nhất và thường được pháp luật quy định đối với các trường hợp như đối với các hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp hoặc với hợp đồng có đối tượng là những tài sản mà nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát Những trường hợp đó được quy định cụ thể cho từng loại hợp đồng Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật không có quy định thì các bên vẫn có thể thỏa thuận với nhau áp dụng hình thức văn bản có chứng nhận, chứng thực đó để giao kết hợp đồng Tuy nhiên nếu có vi phạm về hình thức thì cũng không bị coi là vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

3 Hình thức hành vi cụ thể

Ví dụ như: hợp đồng tặng cho tài sản như việc bỏ tiền vào hòm công đức, như người tiêu dùng mua nước tại các máy bán nước tự động, hợp đồng được coi là ký kết khi người tiêu dùng thả tiền vào máy tự động và thực hiện một số

Trang 10

các động tác cần thiết để nhận chai nước Đối với hình thức này thì chỉ cần các bên thực hiện một hoặc một vài (không bắt buộc phải tất cả) hành vi là nghĩa vụ của hợp đồng thì hợp đồng đã được coi là giao kết

4 Hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử)

Theo nội dung quy định tại Điều 33, 34 Luật Giao dịch điện tử 2005: Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu Trong đó thông điệp điện tử là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử

Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu

Bên cạnh đó Điều 14 Luật này cũng quy định: Thông điệp dữ liệu không

bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác

Trong giao kết hợp đồng điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu

- Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử:

+ Các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng

+ Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp luật về hợp đồng

+ Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó

Ngày đăng: 19/04/2022, 12:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức của hợp đồng theo quy địnhcủa pháp luật dân sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn - Bài tiểu luận LDS2  vũ mạnh tuân VB2 k3
Hình th ức của hợp đồng theo quy địnhcủa pháp luật dân sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w