NÔNG THỊ ÁNHTên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM - LƯƠNG SƠN - HÒA BÌNH’’ KH
Trang 1NÔNG THỊ ÁNH
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM - LƯƠNG SƠN - HÒA
BÌNH’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2NÔNG THỊ ÁNH
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM - LƯƠNG SƠN - HÒA
BÌNH’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Thị Mai Lan
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thànhcảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủnhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo Khoa Chăn nuôiThú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện khóa luận
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn TS Đặng Thị Mai Lan người đã trực tiếp
hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Đồng thời em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo,cùng toàn thể cán bộ, anh chị em công nhân ở trang trại Lợn Ngô Thị HồngGấm - Lương Sơn - Hòa Bình về sự hợp tác giúp đỡ, tạo điều kiện về cơ sởvật chất, chỗ ăn, chỗ ở, môi trường làm việc… để em được yên tâm học hỏi
Trong quá trình thực tập, bản thân em còn nhiều hạn chế nên bài báo cáokhóa luận không tránh được những sai sót, em rất mong nhận đươc sự góp ý củathầy cô và các bạn để bài báo cáo khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình
và bạn bè trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thực tập tại cơ sở
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Nông Thị Ánh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ 29
Bảng 3.2 Lịch phun thuốc sát trùng của trại 30
Bảng 3.3 Lịch phòng vắc xin của trại lợn nái 31
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại (2018 - 2020) 34
Bảng 4.2 Kết quả số lượng lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại trong 6 tháng thực tập 37
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái 38
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu số lượng lợn con của đàn lợn nái 39
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu khối lượng lợn con của đàn lợn nái 40
Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh bằng sát trùng cho đàn lợn 41
Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh bằng thuốc cho đàn lợn con 42
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh và kết quả điều trị khỏi ở lợn nái sinh sản, lợn con con theo mẹ tại trại 46
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện một số công tác khác 49
Trang 5Số thứ tựThành phốThể trọng
nông thôn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ sở 5
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 6
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 6
2.2 Cơ sở khoa học liên quan đến chuyên đề 7
2.2.1 Những hiểu biết về quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 7 2.2.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 11
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho lợn 15
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ 19
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 22
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 23
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 27
3.1 Đối tượng thực hiện 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung thực hiện 27
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 27
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.2 Phương pháp thực hiện 28
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 32
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4 KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tình hình chăn nuôi của trang trại trong 3 năm gần đây (2018 - 2020) 34
4.2 Kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 35
4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái 37
4.3.1 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 37
4.3.2 Số lượng lợn con của đàn lợn nái 38
4.3.3 Khối lượng lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 40
4.4 Kết quả phòng bệnh cho lợn 41
4.4.1 Kết quả phòng bệnh bằng vệ sinh sát trùng 41
4.4.2 Kết quả phòng bệnh bằng thuốc 41
4.4.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 42
4.5 Kết quả các công tác khác 47
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC TẬP TẠI TRẠI
Trang 8Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả cao thì việc thực hiện tốt quy trìnhnuôi dưỡng và chăm sóc là biện pháp kỹ thuật vô cùng quan trọng, ngoài ranhững biện pháp phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh không thể thiếu được bởi
vì khi lợn bị mắc bệnh sẽ ảnh hưởng tới việc tăng số lượng lợn, gây thiệt hạikinh tế lớn
Vì vậy, các bệnh sinh sản ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng đàn lớn giống nói riêng, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất chất lượng
và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung
Xuất phát từ tình hình đó, để nắm bắt được quy trình chăm sóc nuôidưỡng và phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong điều kiện chăn nuôi hiện nay,
em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Ngô Thị Hồng Gấm - Lương Sơn - Hòa Bình".
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình
Trang 9- Tìm hiểu và thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản nuôi tại cơ sở.
- Rèn luyện tay nghề, kinh nghiệm thực tế, nâng cao hiểu biết
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao chất lượng sản xuất chăn nuôi
1.2.2 Yêu cầu
- Chăm chỉ học hỏi để nâng cao kỹ thuật cũng như tay nghề của bảnthân
- Thực hiện tốt các quy định, các yêu cầu tại cơ sở
- Nắm vững quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại cơ sở
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận của thôn Dẻ Cau, xãThanh Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Trang trại là trại lợn gia côngcủa Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trạixây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty cung cấp giống lợn, thức ăn,thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấmlàm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Namchịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
Lương Sơn là huyện cửa ngõ phía Đông của tỉnh Hòa Bình, tiếp giápvới Thủ đô Hà Nội và với vùng Tây bắc của Tổ quốc, gần với khu Công nghệcao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hóacác dân tộc Việt Nam Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ 105025’14” -105041’25”Kinh độ Đông; 20036’30” - 20057’22” Vĩ độ Bắc,
Phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn
Phía Nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy
Phía Đông giáp các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ
Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai (thành phố Hà Nội)
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 36.488,85 ha; Được chia thành 20 đơn
vị hành chính, bao gồm 19 xã và 1 thị trấn (Cao Răm, Cư Yên, Hòa Sơn, HợpHòa, Lâm Sơn, Liên Sơn, Nhuận Trạch, Tân Vinh, Thành Lập, Tiến Sơn, TrườngSơn, Trung Sơn, Tân Thành, Cao Dương, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn,Thanh Lương, Hợp Thanh và Thị trấn Lương Sơn) Trung tâm huyện đóng tại thịtrấn Lương Sơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện cách
Trang 11Thủ đô Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây và cách thành phố Hòa Bìnhkhoảng 30 km về phía Đông Có đường quốc lộ số 6A, đường Hồ Chí Minh điqua, có tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào.
Lương Sơn có lợi thế về vị trí địa lí, là đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa
-xã hội giữa miền núi Tây Bắc với vùng đồng bằng sông Hồng (cũng như Thủ đô Hà Nội)
Ngoài ra, trên địa bàn huyện Lương Sơn có những danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ hàng năm có thể thu hút một lượng đáng kể khách du lịch như hangTrầm, hang Rổng, hang Tằm, hang Trâu, mái đá Diềm, núi Vua Bà
- Điều kiện khí hậu
Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, cóđịa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện
so với mực nước biển là 251m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây Bắcxuông Đông Nam, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng vàmiền núi Tây Bắc Bắc Bộ Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có nhữngdãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động Cónhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo đan xen tạo nên cảnh sắc thơ mộng
Khí hậu Lương Sơn mang đặc trưng khí hậu của vùng nhiệt đới giómùa Mùa Đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, mùa Hè bắt đầu từ tháng 4đến tháng 10 Lượng mưa trung bình là 1.769 mm Do có nhiều tiểu vùng khíhậu khác nhau nên huyện có thể phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú, đadạng theo hướng tập đoàn
- Giao thông thủy lợi
Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 11/5/2012 của Tỉnh ủy HòaBình, huyện Lương Sơn sẽ phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở quy hoạch, kếhoạch, quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinhthái Với mục tiêu tổng quát là huy động các nguồn lực, xây dựng vùng trungtâm huyện Lương Sơn thành đô thị loại IV vào năm 2020, tạo tiền đề để
Trang 12sớm trở thành thị xã Lương Sơn vào năm 2025 Thu hút mạnh mẽ các nguồnlực trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn huyện, mở mang các ngành nghềSXKD đa dạng, tạo thêm sức mạnh mới cho kinh tế của Hòa Bình nói chung,huyện Lương Sơn nói riêng Nghị quyết đã đưa ra các chỉ tiêu phát triển đô thịđến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, các chỉ tiêu định hướng trở thànhthị xã đến năm 2025 Theo đó, quy hoạch chung đô thị Lương Sơn là trungtâm tổng hợp, đầu mối giao thông, giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội, có vai tròthúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh, khẳng định vị thế của Hòa Bình trong chiếnlược phát triển Thủ đô
Ngoài ra hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh tế, rấtthuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với tướitiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp cung cấp nước cho sinh hoạt và đời sốngnhân dân, tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và pháttriển nguồn lợi thủy sản
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ sở
Trang trại có tổng diện tích 6 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà
ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếmdiện tích 3 ha Diện tích còn lại là đồi núi
Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và chăn nuôi
gà Trong đó, khu chăn nuôi lợn chuyên chăn nuôi lợn nái sinh sản với các giốngsản xuất chính như: lợn nái lai giữa 2 dòng giống Landrace với Yorshire
Trại chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hànhgồm: nơi ăn, ở của công nhân và nơi làm việc của quản lý trại Khu sản xuấtgồm 3 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng cai sữa, kho thức
ăn chăn nuôi, kho thuốc, nhà sát trùng Trại được chia làm nhiều phân khuchuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụngchế độ nuôi dưỡng phù hợp với từng loại lợn Thức ăn cho lợn ở mỗi giai đoạn
Trang 13dinh dưỡng cũng phải khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệthống quạt gió, hệ thống dàn mát tự động đủ yêu cầu về nhiệt độ.
Mỗi con lợn có một thẻ nái riêng về việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, caisữa Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Từnhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệthống sát rùng, tắm gội, thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dùng Xungquanh trang trại được trồng cây xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môitrường thông thoáng cho lợn sinh trưởng Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xảgầm được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm và đưa vào hệ thống xử lýBiogas Mô hình chăn nuôi của trại Ngô Thị Hồng Gấm, không chỉ đem lại hiệuquả kinh tế cao, mà còn là mô hình phát triển bền vững, hiện đại Đây cũng lànơi rất tốt cho sinh viên đến thực tập, trải nghiệm nâng cao tay nghề
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 32 người trong đó có: 1 quản lý trại, 2 kỹ sư chính củacông ty, 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ), 22 công nhân, 1 cấp dưỡng,
1 cơ khí, 3 sinh viên thực tập
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
* Khó khăn
- Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn
Trang 14- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữabệnh
cao
- Vào khoảng thời gian cuối năm 2017, giá lợn giảm thấp, năm 2019bùng phát Dịch tả lợn Châu Phi, năm 2020 dịch bệnh vẫn còn diễn biến phứctạp khiến cho trang trại gặp nhiều khó khăn hơn
2.2 Cơ sở khoa học liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con.Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải
là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ănthức ăn có hệ số choáng cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thaichết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thểcủa lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước 2 -
3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì khônggiảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường
cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thểtrạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡngcho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặckhông cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể khôngcho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng
Trang 15Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột màtăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt,dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái.
* Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs.(2004) [21] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trườnghợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cầnchuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nềnchuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo,
ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng
từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn náisạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùngkhăn thấm nước muối lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy
cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có
vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chuyển lợn nhẹ nhàng
từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và quan trọng
đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con, ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó cótác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinhlợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô
úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợncon đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ổ úm tạo điều kiện thuận lợi choviệc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngàytuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến
đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm:
Trang 161,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21] thức ăn cho lợn nái nuôi conphải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cholợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ănhỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo
đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêuchuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 -1,0%; phospho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng vàảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡngcho lợn mẹ, trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại
+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức
ăn từ
2 - 2 - 3 kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn
hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
Trang 17+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày.
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%.
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
* Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], vận động tắm nắng là điềukiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữacủa lợn mẹ Do vậy, sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chănnuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thờigian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên.Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong cáccũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinhdưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
Ngoài ra, yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảmbảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, chuồng lợn nái nuôi con phải có ô
úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
là 18 - 20oC, độ ẩm 70 - 75%
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trongnhững giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ vàkhối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ
có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại Dovậy, việc áp dụng các biện pháp để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ là rấtquan trọng Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu phải nắm được quy luật tiếtsữa và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái, từ đó đề rabiện pháp kỹ thuật có hiệu quả
Trang 18* Sinh lý tiết sữa
Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phứctạp, do có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có
bể sữa nên lợn nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữatùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ, do những kích thích vàobầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từtrước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh giữ vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc
vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng hypothalamus, từ đókích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào trong máu, kích tốnày đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytoxintrong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau,những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau
Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con
có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúclợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu
vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rấtngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ
so với nhu cầu Trong những ngày đầu, sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lầntrên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra 25 - 35 gam/con
Lượng sữa của lợn nái tiết ra cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như
giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, số con đẻ ra/lứa, nuôi dưỡng và chăm sóc
2.2.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìmhiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp
Trang 19* Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể
mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếunuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn
mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưahồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giaiđoạn này để giảm tỷ lệ chết
* Thời kỳ 3 tuần tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ởgiai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng,phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫnnày, cần tập ăn sớm cho lợn con
* Thời kỳ ngay sau khi cai sữa
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,
do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủyếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giaiđoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc,mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiếnhành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau,hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau:
- Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con.
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn
Trang 20là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho nhữngcon đẻ trước bú trước.
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng proteintrong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin Cgấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượngglobulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụngtẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thuchất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy với tỷ lệ chết cao
Việc cố định đầu vú cho lợn con sẽ đảm bảo được tất cả lợn con đều được
bú sữa đầu, nhất là trong trường hợp số lợn đẻ ra vượt quá số vú thì cần thựchiện cho bú luân phiên Đồng thời, việc cố định đầu vú cũng góp phần làm nângcao tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con, vì do giữa các vú khác nhau sẽ có sản lượngsữa khác nhau Theo bản năng thông thường thì những con to khỏe nhất đàn baogiờ cũng chiếm được những vú tốt nhất và luôn bú cố định ở đó, còn những connhỏ hơn thì phải bú ở những vú ít sữa, do đó tỉ lệ đồng đều thấp
Mặt khác, cố định vú cho lợn con cũng là cách tập cho lợn con có phản
xạ trong khi bú nhằm nâng cao sản lượng sữa mẹ, vì sản lượng sữa tiết ra phụthuộc vào sức bú của lợn con, vào trạng thái thần kinh của lợn mẹ khi cho con
bú, nên khi không có sự tranh dành thì lợn mẹ sẽ ổn định tinh thần giúp sữatiết nhiều hơn Hơn nữa, công tác này cũng tạo điều kiện cho người chăm sóccan thiệp kịp thời với những trường hợp lợn mẹ đè chết con, giúp nâng cao tỷ
lệ nuôi sống trên lợn con
Cách làm rất đơn giản nhưng đòi hỏi tỷ mỉ và kiên trì Sau khi lợn mẹ đẻxong, đánh dấu lợn con theo số vú của lợn mẹ qui định rồi đặt những con nhỏvào bú những vú phía trước bên phải và những con to bú ở vú phía sau hoặcnhững vú phía trước bên trái Mỗi ngày làm khoảng 5 lần, làm cho tới khi lợncon tìm được vú của mình mà không bị nhầm lẫn thì thôi, thông thường phải
Trang 21làm trong 3 - 4 ngày đối với những lợn mẹ hay thay đổi cách nằm (lúc nằmbên phải, lúc nằm bên trái).
Trường hợp lợn mẹ đẻ số con nhiều hơn số vú thì tập cho bú luân phiênđối với những con bú các vú phía trước, còn những con bú ở vú phía sau cóthể cho bú tất cả các lần và lúc này nên tiến hành biện pháp nuôi gửi
- Bổ sung sắt cho lợn con
Nhu cầu sắt (Fe) của lợn con giai đoạn 1 - 20 ngày tuổi rất cao Nguồncung cấp sắt cho lợn con giai đoạn này chủ yếu là từ sữa mẹ, trong khi đó sữa mẹchỉ đáp ứng được 10 - 30% lượng sắt cơ thể cần Lợn con càng lớn, sự thiếu hụtsắt càng cao Cường độ và tốc độ sinh trưởng khác nhau nhu cầu cũng khácnhau Nhu cầu Fe cho lợn con cần 7 - 16 mg/ngày hoặc 21 mg/kg tăng trọng
Nếu lợn con chỉ nhận sắt qua sữa mẹ thì cơ thể sẽ bị thiếu sắt, dẫn đếnthiếu máu, suy dinh dưỡng, còi cọc, chậm lớn và tiêu chảy… Vì vậy, phải bổsung sắt cho lợn con ngay từ ngày thứ 3 trở đi là tốt nhất
- Tập cho lợn con ăn sớm
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cholợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn consinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụtdinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khicai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoànthiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cholợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôikém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm(tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)
Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nhiều nghiên cứu chothấy: khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong
Trang 22khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5%.Những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắcbệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn để tạo điềukiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vikhuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 -
10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấmnháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung
Lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêngcho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thànhdạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho lợn.
2.2.3.1 Phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [22], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là
vikhuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trườngquá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E.coli,
bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trongphòng bệnh Trong chăn nuôi, việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rấtcần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khảnăng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinhtiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30oC đốivới lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, khôngthấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầuxuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngàythời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả caotrong chăn nuôi
Trang 23Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [20] bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với nhữngchuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cầnphải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng vàphun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng
cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trongchăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửachuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phunsát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng
Trang 24các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắcxin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả nănggây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây
ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễmgây bệnh của mầm bệnh tương ướng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
* Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
Trang 25- Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằngkháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụngtrung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố).
- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian
để phát huy tác dụng của kháng sinh
+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, nước sinh lý…
Trang 262.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chứcnăng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự dichuyển của tinh trùng, tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc
tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bàotích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trongmôi trường dạ con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [18]
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộphận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất làtrong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kémthì bệnh dễ xảy ra
Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinhsản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay cáctầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái, làm ảnh hưởng lớn, thậm chílàm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái (Trần Tiến Dũng và cs 2002) [7]
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], triệu chứng viêm tử cung thểhiện qua 3 thể viêm: Viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12], Nguyễn Xuân Bình (2000) [2],
Lê Minh và cs (2017) [17] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do cácnguyên nhân sau:
- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường
- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàngquang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột,protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu
Trang 27dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm.
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên 620 lợn náingoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung
ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung
ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [23]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [16], yếu
tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc viêm tử cung: Mùa Hạ có
tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%; mùa Đông 46,05%; mùa Thu 43,70%
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái, nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Hoài Nam (2016) [24], viêm tửcung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm
tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiếtProstagladin F2α và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậmsinh và vô sinh
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh vàhiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, tácgiả Trần Ngọc Bích và cs (2016) [1], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêmđường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
Trang 282.2.4.2 Bệnh viêm vú
Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes (Christensen R V và cs 2007) [27].
Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,
Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú.
Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợnnái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sauvài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E.coli, streptococus, staphylococus, klebsiella…(Đỗ
Duy Hùng, 2011) [11]
Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú sẽ làm xây sát vú
mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú
Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm
Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khótiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
2.2.4.3 Bệnh sót nhau
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [25], sau khi đẻ tửcung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật khôngđược vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P.Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai,thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặcnhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung
Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau
Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau Lợnnái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41°C trong vòng 1 -
2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục, lẫn máu
Trang 29Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn
sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránhnhững tổn thương Tiêm oxytocin để kích thích co bóp tử cung cho nhau cònsót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% đểrửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh,2010) [25]
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
2.2.5.1 Hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ởđường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân
có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiếtdịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đangthích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Hội chứng tiêu chảy xảy ra
ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù
- Do thời tiết khí hậu: Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thayđổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơthể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thíchnghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [6]
- Do nhiễm khuẩn: Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [13], bệnh hội chứng
tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E.coli, Salmonella trong đó Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng
hội chứng tiêu chảy (Radosits và cs., 1994) [31]
- Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
Bệnh hội chứng tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ
độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi
và 7 - 14 ngày tuổi (Nagy và Fekete, 2005) [30]
Trang 30Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [8], ở các tháng có nhiệt độ thấp và ẩm
độ cao, tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy thường cao (26,98 - 38,18%)
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [9], lợn con ở 1 số tỉnh phía Bắc mắc hộichứng tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%; tỷ lệ mắchội chứng tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giaiđoạn từ 21 - 40 ngày (30,97 và 4,93%) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày
2.2.5.2 Viêm khớp
Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm
khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con
1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thươngkhi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nềnchuồng, qua vết thiến (Nagy và cs 2005) [30]
Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày
7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thườngthấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chânlợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắnvào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [34]
2.2.5.3 Viêm phổi
Do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên lợn con ngay từ
khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể dođiều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh
Viêm phổi thường xuất hiện ở giai đoạn sau của quá trình chăn nuôi, nhất là khi lợn sắp xuất chuồng dẫn đến thiệt hại nặng nề về kinh tế cho người chăn nuôi.
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đànlợn nái: Có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, làm cho náimất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Trang 31Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cho biết ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng).
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung
ởthể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chấtsát trùng với thể tích lớn, vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu,các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm.Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với khángsinh điều trị toàn thân và cục bộ
Còn Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12] thì: Bệnh viêm tử cung do vi
khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng
gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], bệnh viêm đường sinh dục ở lợnchiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ20%, còn lại 80% là viêm tử cung Viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy
ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của cáclớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn,thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Trong quá trình mang thai lợn
ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm
như: Bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis)
và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảythai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung
Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [5] cho biết: Trước khi đẻ lau, xoa
vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợncon Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh:Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú
bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các
vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục
Trang 32Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh viêm tử cung
ở đại gia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dướinhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiệntượng rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súccái
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [6] cũng cho rằng: Tỷ lệ lợn mắc hội chứngtiêu chảy cũng giảm theo tuổi, lợn giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng tuổi mắcnhiều nhất (18,61%), tỷ lệ lợn mắc bệnh giảm chỉ còn 8,04% ở lợn trên 6 thángtuổi Cũng theo tác giả, lợn nuôi ở vụ Xuân, Hè mắc hội chứng tiêu chảy nhiều(14,44 và 17,09%), tỷ lệ lợn mắc thấp hơn ở 2 mùa Thu, Đông (11,84 và
10,72%) Lợn nuôi ở nền xi măng tỷ lệ mắc bệnh là 11,30%; nền gạch là 10,35%; nền đất là 20,34%
Theo Nguyễn Văn Điệp và cs (2014) [4] cho biết: Tỷ lệ lợn hội chứngtiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng(13,90%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi
Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh viêm tử cung đối với lợn nái bịviêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracylin vào âmđạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ.Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi cao (Nguyễn Văn Điền, (2015) [3])
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ
Điều trị toàn thân có thể dùng một trong các loại kháng sinh tổng hợpnhư sau: ampisep, aenorfcoli, gentamicin, ampicillin, kết hợp với thuốc trợlực như: vitamin C, B.complex
Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [19], vệ sinh chuồng trại sạch sẽmột tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạchbằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục
và bầu vú
Trang 33Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [24] cho biết tỷ lệ viêm tử cung sau
đẻ của lợn nái là 76,38%, biến động từ 62,10 - 86,96% Hầu hết lợn nái phảican thiệp bằng tay khi đẻ đều bị viêm tử cung (96,47%) Trong khi đó lợnkhông cần can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung là 69,06% Tỷ lệviêm tử cung ở nái có thai chết lưu và lợn nái không có thai chết lưu lần lượt
là 81,63% và 73,91% Ở lợn nái đẻ lứa đẻ từ 1 - 6, tỷ lệ viêm tử cung biếnđộng từ 70,07 - 93,33%
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, cácnước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biệnpháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuynhiên, vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết,đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiêncứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho ngườichăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnhviêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo Katri Levonen (2000) [29] việc chẩn đoán M hyopneumoniae có
thể dựa trên phương pháp chẩn đoán truyền thống là: Phát hiện những biểuhiện lâm sàng của hội chứng viêm phổi và việc kiểm tra những tổn thương sau
khi giết mổ dùng phản ứng kết tủa và phản ứng phân lập Pasteurella multocida thành 12 type (được ký kiệu từ 1 đến 12).
Theo Waller và cs (2002) [33] cho biết khi lợn mẹ bị viêm đường sinhdục có tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra ở lứa sau thấp hơn so với lợn mẹ không
bị viêm
Trang 34Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
3.1 Đối tượng thực hiện
- Lợn nái sinh sản tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm - Lương Sơn - Hòa Bình.
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm - Dẻ Cau - Thanh Sơn - LươngSơn - Hòa Bình
- Thời gian: Từ ngày 28/05/2020 đến ngày 28/11/2020
3.3 Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm - Lương Sơn - Hòa Bình
- Áp dụng quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn contheo
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Ngô Thị Hồng Gấm - huyện Lương Sơn
- tỉnh Hòa Bình trong 3 năm (2018 - 2020)
- Cơ cấu của đàn nái sinh sản tại trại
- Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại
Trang 35theo mẹ
của trại
- Kết quả thực hiện một số công tác khác
Trang 363.4.2 Phương pháp thực hiện
3.4.2.1 Phương pháp thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn
- Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm - huyện
Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình em tiến hành thu thập thông tin từ các cán bộ kỹ thuật, kết hợp với kết quả theo dõi tình hình thực tế tại trang trại
- Kiểm tra số lượng đàn con bằng cách đếm tất cả các con sinh ra ở ổ
đó, 21 ngày tuổi, cai sữa
- Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn thực hiện theo quy định và hướngdẫn của trang trại
- Để xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn, chúng em tiến hành
theo dõi hàng ngày, thông qua phương pháp chẩn đoán lâm sàng Quan sát cácbiểu hiện như: trạng thái cơ thể, bộ phận sinh dục ngoài, dịch rỉ viêm, phân ghi chép vào nhật ký thực tập hàng ngày Từ các triệu chứng thu thập được tiến hành chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn dưới sự hướng dẫn của kỹ sư trại
* Quy trình chăm sóc lợn nái mang thai
- Trước khi chuyển nái sang chuồng đẻ cần vệ sinh sát trùng chuồng đẻ sạch sẽ, khô ráo
- Lợn nái bầu được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 10 - 14ngày Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ôchuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn ăn 4 kg/ngày,chia làm 2 bữa sáng, chiều
Đối với lợn hậu bị sẽ cho ăn với tiêu chuẩn 2,5kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng và chiều
Trang 37Bảng 3.1 Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ
Ngày trước đẻ (ngày)
321
Qua bảng 3.1 ta thấy trước khi đẻ 3 ngày mỗi ngày giảm
0,5kg/con/ngày đến ngày đẻ cho ăn 2kg/con/ngày và sau khi đẻ tăng
1kg/con/ngày đến khi cho ăn 5kg/con/ngày thì không tăng nữa mà cho ăn đến
ngày cai sữa Ngày cai sữa sẽ cho lợn mẹ nhịn ăn
* Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa
Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn
Lợn con 1 2 ngày tuổi được cắt số tai, bấm nanh, cắt đuôi và tiêm Fe
-B12 10%, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng
Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh 550SF
Lợn con được 21 - 25 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn con
3.4.2.2 Phương pháp thực hiện công tác thú y
- Hàng ngày, trước khi vào chuồng làm việc kỹ sư, công nhân cũng như
sinh viên đều phải đi qua phòng sát trùng và tắm sạch gội sẽ, mặc quần áo lao
động riêng, đi ủng chuyên dùng rồi mới vào chuồng
- Việc đầu tiên vào chuồng là kiểm số lượng lợn con để giao ca nhận
bàn giao và cào phân để tránh lợn mẹ nằm đè phân
- Rắc vôi lối đi giữa, xung quanh chuồng và dưới gầm chuồng
- Lau sàn nhựa bằng nước pha loãng với dung dịch sát trùng
Trang 38- Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ quanh chuồng.
Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ, chuồng được tiêu độc bằng thuốc sát trùng APA clean 2 lần hàng ngày, pha với tỷ lệ 320ml sát trùng/1000 lít nước.
Ở chuồng đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển lên chuồng nái chửa
1 hoặc chuồng cách ly (khu vực sau cai sữa) Sau khi xuất lợn con, các tấmđan chuồng này được tháo mang ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH10%, ngâm trong 1 ngày sau đó được cọ sạch, phơi khô Khung chuồng cũngđược cọ sạch, xịt bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng, sau đó xịt lạibằng dung dịch vôi xút Gầm chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ, tiêu độc khửtrùng kỹ sau đó rắc vôi bột Để khô 1 ngày rồi tiến hành lắp đan vào, sau đóđuổi lợn chờ đẻ từ chuồng nái chửa 2 xuống
Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 3.2
Bảng 3.2 Lịch phun thuốc sát trùng của trại
Thứ
Thứ 2
Thứ 3
Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 Thứ 7