MÙA A LÒNGĐỀ TÀI: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC H
Trang 1MÙA A LÒNG
ĐỀ TÀI:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2016 – 2021
Trang 2Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3MÙA A LÒNG
ĐỀ TÀI:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K48 Thú y N07 Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2016 – 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Mai Anh Khoa
Trang 4Thái Nguyên, năm 2021
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông lâm TháiNguyên cũng như thời gian học hỏi, trải nghiệm tại trại lợn Bảy Tuân, xã TiênPhương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của nhà trường, thầy cô, bạn bè và tất cả các anh chị, cô chú tại cơ sở thực tập
để em hoàn thành tốt khóa luận thực tập của mình Em xin bày tỏ lòng kính trọng vàlòng biết ơn sâu sắc nhất đến Ban giám hiệu nhà trường, các phòng bạn chức năng,cùng các thầy cô trong khoa chăn nuôi thú y và bạn bè
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn đến thầy giáo TS Mai Anh Khoa, người
đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn, động viên em vượt qua mọi khó khăn trong quátrình thực tập tại cơ sở và hoàn thành khóa luận Em xin gửi lời cảm ơn đến côNguyễn Thị Bảy (chủ trại) và các cô chú, anh chị tại nơi cơ sở em thực tập đã tạođiều kiện giúp đỡ em rất nhiều trong công việc, học tập cũng như sinh hoạt khi emđến thực tập tại cơ sở
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới sự giúp đỡ, động viên, khích
lệ của các thầy cô, gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành cùng em trong cuộc sống,học tập và đặc biệt là trong thời gian em hoàn thành khóa luận vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 03 năm 2021
Sinh viên Mùa A Lòng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội
qua 3 năm 2018 – 2020 30
Bảng 4.2: Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 32
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái đẻ nuôi tại trại 33
Bảng 4.4 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn tại trại 35
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sảntại trại 36
Bảng 4.6: Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 37
Trang 7TB: Trung bình
TT: Thể trọng
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại 3
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.2 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2.1.Thuận lợi 5
2.2.2 Khó khăn 6
2.3 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6
2.3.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6
2.3.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở 9
2.3.3.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 17
2.3.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 19
2.4.Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 23
2.4.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
Trang 93.4.Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu 27
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi và tính toán số liệu 28
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội qua 3 năm từ 2018 – 2020 30
4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 31
4.2.1 Kết quả trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 31
4.2.2 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội 33
4.2.3 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 34
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội 34
4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 34
4.3.2 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái 35
4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 36
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết Luận 39
5.2 Đề Nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
HÌNH ẢNH MINH HỌA CỦA ĐỀ TÀI 1
Trang 10PHẦN 1:
MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của nhà nước chăn nuôi lợnđang ngày càng phát triển, chăn nuôi lợn cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giátrị dinh dưỡng cao, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn địnhđời sống người dân Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũngchuyển từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ
đó đã giúp cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả vềchất lượng và số lượng Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi chophát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn như có nguồn nguyên liệu dồi dàocho chế biến thức ăn, sự đầu tư của nhà nước…
Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái làmột trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trongngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta để có đàncon nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính làmắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng
Để cho lợn nái sinh trưởng, phát triển và tạo ra những giống con chất lượngthì khâu chăm sóc, phòng và trị bệnh đặc biệt quan trọng Việc chăm sóc, nuôidưỡng tốt giúp cho đàn lợn nái có sức đề kháng cao tránh một số tác nhân gây bệnhgiúp cho đàn lợn phát triển tốt tạo ra những đàn con khỏe mạnh và ta có thể pháthiện ra những dấu hiệu bất thường của lợn nái để điều trị kịp thời Phòng và điều trịbệnh là khâu nhăn chăn bệnh xảy ra đối với đàn lợn nái
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoaChăn nuôi thú ý - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của
giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội”.
Trang 111.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Biết được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn
và cách
cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng
trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Ðánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và trị bệnh
Trang 12PHẦN 2:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Bảy Tuân thuộc thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ,thành phố Hà Nội Tổng diện tích xã Tiên Phương là 3,19 ki lô mét vuông, với tổngdân số 12.672 người (2005), xã gồm có 5 thôn: Cao Sơn, Quyết Tiến, Đồng Nanh,Tiên Lữ và Sơn Đồng
Xã Tiên Phương nằm gần trung tâm huyện Chương Mỹ (khoảng 8 km):
- Phía Đông Nam giáp thị trấn Chúc Sơn
- Phía Đông giáp với xã Phụng Châu
- Phía Nam giáp với xã Ngọc Hòa
- Phía Tây giáp với xã Phú Nghĩa
- Phía Bắc giáp với xã Tân Hòa (huyện Quốc Oai)
Địa hình xã một nửa là đồng bằng, một nửa là vùng đồi chạy dọc lên huyệnQuốc Oai
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Trang trại lợn Bảy Tuân thuộc huyện Chương Mỹ là một huyện ngoại thànhnằm ở phía Tây Nam thành phố Hà Nội Khí hậu huyện Chương Mỹ thuộc khí hậunhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, ít mưa và mùa hè nắng nóng, mưa nhiều.Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 22,9 – 24,5 độ C, lượng mưa trung bình 1407,3– 2135,2 mm/năm, độ ẩm trung bình khoảng 76 – 82%
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu tổ chức cảu trại:
Trang 13+ 14 công nhân
+ 2 sinh viên thực tập
+ 1 kế toán
+ 1 kỹ thuật điện nước
+ 1 công nhân nấu ăn
Với số lượng nhân viên như trên đã được phân chia vào các chuồng khácnhau như: chuồng bầu, chuồng đẻ,chuồng úm, chuồng thịt, nhà bếp, điện nước Tạimỗi chuồng, mỗi khâu đều được phân công việc đến từng người nhằm nâng caotrách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại Với đội ngũ trên, tất cả được thống nhấtvới sự quản lý của quản lý trại và kỹ thuật tại từng chuồng đem lại tính nhất quán vàthống nhất, sinh viên thực tập được làm tất cả các khâu trong trại để được học hỏi,trải nghiệm về quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh tại trại
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại
măng, ½ là rào khung sắt
- Chuồng trại được xây dựng hoàn toàn kép kín Phía đầu chuồng có hệ thốngdàn mát, cuối chuồng có các quạt thông gió và có dàn phun mái ở trên
Trang 14- Trại còn có phòng pha tinh riêng với các thiết bị như: Máy nâng nhiệt, kínhhiển vi, tủ lạnh
Trang 15- Có hệ thống đèn điện hồng ngoại để sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông và khi thời tiết lạnh về đêm.
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho
cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi khi mất điện
- Trong trại giữa các ô chuồng và các khu khác đều thường xuyên được quét vôi và phun sát trùng
- Nước sử dụng chủ yếu ở trại là nước giếng khoan được lọc và được lọc giữ
trong bể chứa Gồm 2 bể chứa lớn và 3 bể chứa nhỏ được bơm tới hệ thông cung cấp nước uống cho các chuồng cũng như cung cấp nước sinh hoạt
* Về cơ sở hạ tầng:
- Trại được xây dựng có 5 khu vựa gồm:
+ Khu phòng kế toán, phòng quản lý ở cổng trại
+ Khu nhà bếp và phòng ăn
+ Khu kho cám
+ Khu nhà ở cho công nhân và sinh viên
+ Khu chuồng trại
- Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoátnước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân gồm: 3 chuồng
đẻ, 1 chuồng úm, 2 chuồng bầu và 6 chuồng thịt
Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc đảm bảothoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Chuồng bầu gồm 2 chuồng với kiểuchuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện, dàn mát, quạt đểđiều chỉnh nhiệt độ, tốc độ gió trong chuồng nuôi
2.2 Thuận lợi và khó khăn
2.2.1.Thuận lợi
- Trang trại được đầu tư đầy đủ các trang thiết bị phục vụ chăn nuôi để phù hợp với hướng chăn nuôi dạng công nghiệp
Trang 16hưởng đến tình hình sản xuất của trại.
- Điều kiện thời tiết như nắng nóng, nhiệt độ cao, nóng ẩm trong mùa mưacũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển mạnh, dẫn đến vật nuôi dễmắc bệnh
- Do trại đã được xậy dựng lâu năm nên nhiều trang thiết bị xuống cấp mà chưa được khắc phục gây khó khăn trong công việc
- Kho cám cách quá xa 1 số chuồng nên việc vận chuyển cám mất nhiều côngsức và thời gian
- Xung quanh trại có nhiều ao mà nguồn nước ao không được quản lý dễ là nguồn lây bệnh vào trong chuồng
2.3 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.3.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.3.1.1 Phòng bệnh
Trong chăn nuôi ngoài giống và thức ăn thì công tác thú y luôn được trú trọng.Đây là điều kiện không thể thiếu để công tác chăn nuôi luôn bền vững và hiệu quả.Công tác thú y gồm phòng bệnh và trị bệnh cho vật nuôi, nếu phòng bệnh tốt thì có thểhạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp đượcđưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vây, việcphòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp ̣nhiều biên ̣pháp khác nhau
Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005), [17] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường
do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc
có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm
Trang 17kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đềunhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đềkháng của đàn lợn.
Theo Trần Văn Phùng (2004), [16] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồnglợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặcbằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa
hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trạisau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng cácloại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm,
30 ngày đối với vật nuôi sinh sản
Với những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổngthể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y,cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch)toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn,rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thảilỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cầnphun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày.Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảoquản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Phòng bệnh bằng vaccine:
Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất TheoNguyễn Bá Hiên (2012) [10] vaccine là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứachính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnhnày có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như 8 ARN, AND… ) đãđược làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hayphương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới - vaccine công nghệ gen) Lúc đóchúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ
Trang 18Theo Nguyễn Bá Hiên (2012), [10] nguyên tắc để điều trị bệnh là:
Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạnchế lây
lan
- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm
cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữalành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trịgia súc thì không nên chữa
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nênchữa
Theo Nguyễn Bá Hiên (2012), [10] các biện pháp chữa bệnh truyềnnhiễm là:
Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt(thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nướctiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ănuống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thườngđược dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng khánghuyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòamầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một sốhóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa
Trang 19dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứngvới liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc đượctruyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tănghiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loạithuốc khác tác dụng tốt hơn.
Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản
sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụng kháng sinh cóthể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệtnhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịchcủa cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làmgiảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy khi dùng thuốc cần theonhững nguyên tắc sau:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độctính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị
và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,dùng
thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.3.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở
2.3.2.1 Bệnh viêm tử cung
Nguyên nhân gây bệnh:
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng (2002) [11], bệnh viêm tử cung ở lơṇ nái thường do các nguyên nhân sau:
Trang 20- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phươngpháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được
vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn ná igây viêm
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tửcung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bịsát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặcmang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyềnsang cho lợn khoẻ
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻkhông sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâmnhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002), [7] cho biết: Nguyên nhân gâyviêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣cầu vàng (Staphylococcusaureus), liên cầu dung huyết(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…
Lê Văn Năm (1999), [14] cho rằng có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gâybệnh như : do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiêp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc
̣ ̣sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh duc ̣bi phạạ́ hủy
hoăc ̣kết tủa , kết hơp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hơp lý và thiếu vận động đã ̣ ̣làm chậm quá trình thu teo sinh lý của da ̣con (trong điều kiêṇ cai sữa bình thường
da ̣con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điềukiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến trứng nhiêmm̃ trùng do vikhuẩn xâm nhập vào dạ ̣con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở)
và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
Trang 22- Khoáng chất, vitamin cung ảnh hưởng đến viêm tử cung
- Theo F.Madec và C.Neva (1995) [9], bệnh viêm tử cung và các bệnhở đườngtiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âmđạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
- Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau (Nguyễn Thị Thuận, 2010), [21]
- Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơquan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phốinhưng đã bị viêm tử cung
Triệu chứng thể hiện qua các thể viêm sau:
- Viêm dạng nhờn là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi sinh 2 - 3 ngày, niêm mạc
tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn, trong hoặc đục lợn cợn có 12 mùi tanhvài ngày sau tiết dịch nhờn giảm lại đặc và hết hẳn Con vật không sốt hoặc sốt nhẹ,vẫn cho con bú bình thường
- Viêm dạng mủ là thể viêm nặng thường xuất hiện trên con vật có thể trạngxấu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều, cũng có thể viêm tử cung dạngnhờn kế phát Con vật thường sốt 40 - 41°C, khát nước, kém ăn, nằm nhiều, tiểu ít,nước tiểu vàng, phân có màng nhầy, mệt mỏi ít cho con bú hay đè con
- Viêm dạng mủ lẫn máu là phản ứng ăn sâu vào lớp tử cung, tổn thươngmạch mao quản gây chảy máu Các biểu hiện như : viêm sền sệt có mủ lẫn máu mùirất tanh Thân nhiệt rất cao sốt kéo dài Không ăn kéo dài
- Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thở nhiều khát nước, mệt mỏi kém phản
xạ với tác động bên ngòai đôi khi đè con Con vật có biểu hiện thần kinh suy nhược,thân nhiệt tăng, mạch tăng, thở hổn hển
Trang 23Theo Trần Tiến Dũng (2002) [8] và Trần Thị Dân (2004) [5], kh ilợn nái bịviêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai Lớp cơ trơn ở thành tử cung cóđặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng củaProgesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung Khi tử cung bị viêm cấptính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α(PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bàocủa thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thểvàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiếtProgesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tínhtrương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớpnội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai pháttriển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăngsinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chíkhông nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu Sau khi sinhcon lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường
bị tiêu chảy Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường cómặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kíchthích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữagiảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu
tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫntiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH,
do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thểđộng dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh
đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyênnhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫ
Trang 24đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tửcung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Chẩn đoán bệnh viêm tử cung:
- Để chẩn đoán bệnh viêm tử cung thường dựa vào các triệu chứng lâm sàngđiển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như thân nhiệt và dịchviêm
- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], lợn nái bị viêm tử
cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có dịch tiết không bình thường trong 3
-4 ngày sau khi đẻ, nếu sau khi đẻ kiểm tra âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt
- Cũng theo F.Madec và C.Neva (1995) [9], bệnh viêm tử cung thường biểu hiệnvào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm cóthể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định Tính chất mủ cũng khác nhau,
từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, cóthể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cungcấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy
mủ ở âm hộ có thể nghi bị viêm nội mạc tử cung
- Ngoài ra, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có nhữngmảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh củanước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là
do viêm bàng quang có mủ gây ra
- Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy rathì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bịnhầm lẫn
- Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Vớimột trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợpxét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợpvới đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Trang 25- Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnhhưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả doviêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ đó đưa ra phác đồđiều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất,chi phí điều trị thấp.
2.3.2.2 Bệnh viêm vú
Nguyên nhân:
- Theo Nguyễn Như Pho (2002) [15], nguyên nhân gây viêm vú thông thườngnhất là trầy xước vú do sàn, nền chuồng bị nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến sữa Hailoại vi trùng chính gây bệnh là staphylococcus aureus và streptococcus agalactiae.Các nguyên nhân khác gây viêm như số con quá ít, không đủ bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng do kỹ thuật cai sữa chưa hợp lý
- Do vệ sinh không đảm bảo chuồng trại quá nóng, quá lạnh, do lợn mẹ sát nhau, lợn con đẻ ra không được bấm nanh sớm
- Lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm cho lượngsữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập pháttriển mạnh mẽ về số lượng và động lực
- Với nguyên nhân chấn thương cơ học hoặc lơn con bú không hết sữa, bệnhviêm vú chỉ xuất hiện trên vài vú Trường hợp kế phát viêm tử cung hoặc cai sữakhông hợp lý, nhiều vú có khi toàn bộ bầu vú đều bị viêm
Triệu chứng:
- Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểuhiện đau sau khi sờ nắn, không tiết sữa nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều cặn lẫnmáu, sau 1 - 2 ngày thấy có mủ lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40,5°C - 42°C
- Tuỳ số lượng vú bị nhiễm, nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễmtrùng trựctiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm.Tuy vậy lợn nái
cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm lợn con dễ bị nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy toàn đàn Trường
Trang 26ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ.
- Theo Nguyễn Đức Lưu (2004) [12], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là do
kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục
2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình
trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bịgiảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chếthường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
- Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiềuchất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫnđến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
- Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
- Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng
đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
2.3.2.3 Bệnh sát nhau
Trong quá trình sinh đẻ bình thường, sau khi thai ra một thời gian nhấtđịnhtuỳ thuộc vào từng loài gia súc: Ngựa 20 - 60 phút, trâu, bò 4 - 6 giờ (bình thườngkhông quá 12 giờ), dê, cừu 30 phút - 2 giờ và ở lợn là 10 – 60 phút nhau thai sẽđược đẩy ra khỏi cơ thể mẹ Nếu quá thời gian trung bình trên nhau thai còn nằm lạitrong tử cung thì được gọi là bệnh sát nhau
Trang 28- Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [19], sau khi đẻ tử cung
co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vậnđộng phù hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị
sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ,nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
- Nhau mẹ và nhau con dính vào nhau: Do con mẹ bị viêm tử cung hoặc bịbệnh sảy thai truyền nhiễm làm cho các núm nhau bị viêm, làm phá vỡ mối quan hệgiữa nhau mẹ và nhau con nên dính vào nhau Do sự dính chặt này mà nhiều khi tửcung co bóp mạnh nhau thai cũng không bong ra được
Triệu chứng tuỳ thuộc vào mức độ xảy ra của bệnh, có thể chia ra các loại nhưsau:
Thể sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dính với niêmmạc tử cung mẹ ở cả hai sừng tử cung
Thể sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không thai, nhau thai contách ra khỏi niêm mạc tử cung mẹ
Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung hay một ít núm nhau concòn dính với niêm mạc tử cung, đa phần màng thai đã tách ra khỏi niêm mạc tử cung
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005), [18] biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sótnhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịchchảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho 18 lợn người
ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợncon sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
Hậu quả:
Khi gia súc bị bệnh sát nhau nếu không xử lý kịp thời và triệt để sẽ kế phát sangnhiều bệnh nguy hiểm khác: Viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, ảnhhưởng nhiều đến quá trình thụ tinh và khả năng sinh đẻ lần sau Có trường hợp gâyviêm tử cung tích mủ mãn tính, dẫn đến tình trạng lợn nái mất khả năng sinh sản
Ngoài ra bệnh thường kế phát gây nên chướng hơi, liệt dạ cỏ, sản lượng sữagiảm hoặc mất hẳn, ngay sau khi khỏi bệnh vẫn hoàn toàn mất sữa
Trang 29Sát nhau là bệnh gây nhiều tổn thất kinh tế, vì vậy việc đề phòng và điều trịbệnh kịp thời, tránh hiện tượng kế phát.
Chẩn đoán:
- Để chẩn đoán bệnh sát nhau chủ yếu dựa vào các triệu chứng cục bộ vàtoàn thân như: Lợn mẹ không yên tĩnh, đau nhẹ, thỉnh thoảng cong lưng rặn, thânnhiệt tăng, lợn hay uống nước Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch màu nâu
- Quan sát trực tiếp trực tiếp qua âm đạo: Trường hợp sát nhau hoàn toàn, chỉnhìn thấy màng mỏng và trong suốt (màng ối, màng niệu) còn ở trong âm đạo haycòn treo lòng thòng ở mép âm môn
- Trường hợp sát nhau không hoàn toàn nhìn thấy được các màng thai và một
số núm nhau con (trâu, bò) hay nhung mao trên bề mặt màng nhung (ngựa, lợn)
- Trường hợp sát nhau từng phần thì quan sát phần rau đã ra ngoài Trải nólên mặt đất có thể phát hiện được những phần mang thai đã bị đứt, phần màng thaicòn lại nằm trong tử cung
Điều trị:
- Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽgây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổnthương Tiêm Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lạiđẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cungtrong ba ngày liên tục
2.3.3.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài