Tình hình nghiên cứu trên Thế giới Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc chomục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia đượccác nhà khoa
Trang 1-BÙI THỊ HOÀI THƯƠNG
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC TẠI HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ NGÀNH: 8 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Thái Nguyên - 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là hoàn toàntrung thực Các số liệu và kết quả công bố trong Luận văn là công trìnhnghiêm túc của tôi Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệmtrước đơn vị đào tạo và trước pháp luật
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Học viên
Bùi Thị Hoài Thương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất, sâu sắc nhất tới TS.Nguyễn Thị Thu Hiền, người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi nhữngkiến thức cơ bản cũng như đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoànthành bản Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo tại Trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên và Khoa Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi cóthể tham gia học tập và hoàn thành tốt Luận văn Thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy thuốc, anh, em đang công tác tạihuyện Yên Sơn đã cung cấp thông tin, số liệu và trả lời phỏng vấn trong quátrình thực tế tại địa phương Xin cảm ơn phòng thí nghiệm của khoa Côngnghệ sinh học - Trường ĐH Khoa học Thái Nguyên đã giúp tôi tiến hành cácthí nghiệm phân tích hoạt tính kháng khuẩn cây thuốc để thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn các cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Yên Sơn, 02 sinh viênKhoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên khóa 2017 -
2021 đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành Luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, nhữngngười đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ và khuyến khích tôi trong suốtthời gian qua
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Học viên
Bùi Thị Hoài Thương
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu bảng điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc được 1 số cộng đồng
dân tộc thiểu số ở KVNC sử dụng 18
Bảng 3.1 Nguồn tài nguyên cây thuốc được phát hiện ở KVNC 22
Bảng 3.2 Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan 23
Bảng 3.3 Các họ cây thuốc đa đạng nhất ở KVNC 25
Bảng 3.4 So sánh các họ giàu loài ở KVNC (1) với họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam (2) 26
Bảng 3.5 Sự đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc ở KVNC 27
Bảng 3.6 Sự đa dạng về nơi sống của các loài cây thuốc ở KVNC 29
Bảng 3.7 Các cây thuốc thuộc diện bảo tồn ghi nhận ở KVNC 31
Bảng 3.8 Sự đa dạng về bộ phận loài cây được sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm của 1 số cộng đồng dân tộc thiểu số ở KVNC 34
Bảng 3.9 Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể 37
Bảng 3.10 Danh sách cây thuốc được cả 3 dân tộc Tày, Dao và Cao Lan ở KVNC sử dụng 40
Bảng 3.11 Danh sách cây thuốc được 1 số cộng đồng dân tộc thiểu số ở KVNC cùng sử dụng chữa bệnh xương khớp 44
Bảng 3.12 Danh sách cây thuốc được 1 số cộng đồng dân tộc thiểu số ở KVNC cùng sử dụng chữa bệnh dạ dày, gan, thận 46
Bảng 3.13 Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết 1 số loài cây thuốc được cộng đồng 1 số dân tộc thiểu số ở KVNC sử dụng 48
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài 19Hình 3.1 Hình ảnh một số loài cây thuốc ở KVNC 25
Hình 3.2 Hoạt tính ức chế E coli và S aureus của cao chiết 1 số loài cây thuốc
được cộng đồng 1 số dân tộc thiểu số ở KVNC sử dụng 50
Trang 6DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa từ viết tắt
Sách đỏ Việt Nam 2007
Số lượng
Ủy Ban nhân dânSắp nguy cấp
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
1.2 Tổng quan nghiên cứu và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc trên Thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 4
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 12
1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 12
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 14
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
Trang 82.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Phương pháp kế thừa 16
2.3.2 Phương pháp điều tra cộng đồng 16
2.3.3 Phương pháp thu mẫu 18
2.3.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc 19
2.3.5 Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp 20
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn 20
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 22
3.1.1 Sự đa dạng trong các bậc taxon 22
3.1.2 Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc 27
3.1.3 Đa dạng về nơi sống của nguồn tài nguyên cây thuốc 29
3.2 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được ở huyện Yên Sơn, Tuyên Quang 31
3.3 Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu số ở huyện Yên Sơn, Tuyên Quang 34
3.3.1 Kinh nghiệm về sử dụng bộ phận làm thuốc từ nguồn tài nguyên cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng dân tộc thiểu số ở KVNC 34
3.3.2 Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị từ nguồn tài nguyên cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở KVNC 37
3.3.3 Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc 40
3.4 Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở huyện Yên Sơn, Tuyên Quang 48
Trang 9KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
1 Kết luận 50
2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là nơi có nguồn tài nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cưtrú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người,chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần Thúy và cs 2005) Bên cạn đó mỗi cộngđồng dân tộc thiểu số có những văn hóa bản sắc, phong tục tập quán khácnhau cùng với sự khác biệt về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, đã tạo nên sự đadạng và phong phú trong vốn tri thức dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏxung quanh mình làm cây thuốc chữa bệnh
Với những kinh nghiệm của những người làm thuốc mỗi dân tộc, cónhững tri thức về bài thuốc khác nhau được truyền miệng và lưu truyền chocon cháu đời sau, từ thế hệ này sang thế hệ khác, trải qua thời gian lâu đời cácbài thuốc sẽ trở nên có tính độc đáo và thông dụng trong việc chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe của con người Tuy nhiên, hiện nay có nhiều loài cây thuốc quý,hiếm đang có nguy cơ bị chủng do nhiều nguyên nhân như: trình độ dân trícho nên công tác bảo tồn cây thuốc gặp nhiều khó khăn, tình trạng lạm dụngkhai thác quá mức dẫn đến suy giảm nguần tài nguyên cây thuốc là điềukhông thể tránh khỏi Dẫn đến tri thức dân gian sử dụng cây thuốc để chữabệnh đang bị mất dần đi Những người biết sử dụng cây thuốc đã già và mất
đi, họ sẽ mang theo những kiến thức, kinh nghiệm và những bài thuốc hay.Thế hệ trẻ hiện nay chỉ tiếp thu những cái mới, cái hiện đại lãng quên đinhững kiến thức bản địa khiến cho những cây thuốc, bài thuốc hay ngày càng
bị lãng quên đi Vì vây, cần phải biện pháp điều tra về thực trạng sử dụng câythuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về việc sử dụng cây cỏ xung quanh
để làm thuốc, đồng thời cần phải xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồnnguồn tài nguyên cây thuốc và bảo tồn những tri thức y học cổ truyền
Huyện Yên Sơn có diện tích tự nhiên là 1.067,74 km² là một trong nhữnghuyện có nguồn tài nguyên khá là phong phú và đa dạng, có nguồn tài nguyênrừng và đất rừng chiếm 61,05% diện tích đất canh tác của huyện Đồng bào dântộc ở nơi đây chủ yếu là Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Mông Mỗi dân tộc ở đây
Trang 11mang bản sắc và những kinh nghiệm chữa bệnh bằng nguồn tài nguyên thựcvật làm thuốc khác nhau và đa dạng Trong đó cộng đồng dân tộc Tày, Dao,Cao Lan là cộng đồng dân tộc có nhiều kinh nghiệm trong việc điều trị bệnhbằng thực vật làm thuốc Mặt khác, đến nay chưa có công trình nghiên cứunào về tri thức bản địa sử dụng cây thuốc trong các cộng đồng dân tộc đó ởhuyện Yên Sơn Do vậy để góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát triển những kinhnghiệm quý của bà con nơi đây và tránh khai thác nguồn tài nguyên cây thuốcbừa bãi, đồng thời để cung cấp cơ sở khoa học góp phần bảo vệ nguồn gencây thuốc và phát triển các bài thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện
Yên Sơn tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm
sử dụng cây thuốc của một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang
Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện
có ở khu vực nghiên cứu
Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại khu vựcnghiên cứu
3 Ý nghĩa của đề tài
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tựnhiên xung quanh con người Hệ thống tri thức là sản phẩm trí tuệ của loàingười được tích lũy từ những kinh nghiệm của quá trình lao động sản xuấtthực tiễn trong cuộc sống hàng ngày Hệ thống tri thức này hình thành trongthời gian dài lịch sử, tồn tại và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xãhội qua sự trải nghiệm của nhân dân lao động
Vậy tri thức bản địa là gì? Theo định nghĩa chung cuả tổ chức Di sản vănhóa thế giới (UNESCO), tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì, tồntại và phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi giữa conngười với môi trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang đời khác
và rất ít khi được ghi chép lại Tri thức bản địa là tri thức được tạo ra bởi mộtnhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong mộtvùng nhất định Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia giúp ích rất nhiềucho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém, có sự tham gia củangười dân và đạt được sự bền vững Các dự án phát triển dựa trên cơ sở tri thứcbản địa sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì nó hợp với suy nghĩ củanhân dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào Đó chính là cơ sở của sựthành công Đặc điểm quan trọng của tri thức bản địa là luôn thích ứng với sựthay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân địa phương luôn có ý thức bảnđịa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích hợp với cộng đồng
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến cácthành phần khác gỗ Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của các
dự án lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến các lâmsản khác ngoài gỗ Và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ là bao
Trang 13gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từrừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ ởtất cả các hình thái của nó.
Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ thuộc mộtphần của tài nguyên thực vật Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh quyểntrong một loạt các thảm thực vật Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuấtchính, để duy trì chu kỳ dinh dưỡng sinh quyển và cơ sở dòng năng lượng trêntrái đất Tài nguyên thực vật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộcsống của con người nói riêng và sinh vật nói chung Nhưng trong thời gian vừaqua tài nguyên này đã bị suy thoái nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của conngười, chính vì vậy, gần đây Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương,đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm
2013, Luật đa dạng sinh học năm 2008, Nghị định 06 của Chính phủ năm2019… cùng với hàng loạt các văn bản khác đã ra đời nhằm bảo vệ và sử dụngcác nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lí Đây là một cơ sở pháp lí quan trọng đểthực hiện thành công đề tài tri thức bản về khai thác và sử dụng cây thuốc củacộng đồng một số dân tộc thiểu số ở KVNC (Phạm Hoàng Hộ, 2006)
1.2 Tổng quan nghiên cứu và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc chomục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia đượccác nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên Thế giới:
Ở Châu Á: Có thể nói đây là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinhsống, với vốn tri thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốcphong phú và đa dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người,các khu vực khác nhau như:
- Manju Panghal và cs.(2010), công trình nghiên cứu kiến thức bản địa
về cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quận
Trang 14Jhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họđược người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu nàycây thuốc được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họFabaceae.
- Arshad Abbasi và cs.(2013) khi thẩm định về thực vật học và các giá trịvăn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học của Lesser dãyHymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc 38 chi và 24 họ đãđược người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau và tiêu thụ
- Mi-Jang Song và cs.(2013) khi khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, HànQuốc đã tìm thấy 171 loài thực vật thuộc 141 chi và 68 họ, 777 cách sử dụngcác loài cây thuốc của người dân bản địa được ghi lại
- Auemporn Junsongduang và cs.(2013) khi nghiên cứu về cây thuốc từnương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra 365loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong đó các câythuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng nhiều nhất
- Mi-Jang Song và cs.(2014) khi điều tra và phân tích các kiến thứctruyền thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốc gia(VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật thuộc
168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhaunhư: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết cắtvết thương
Ở Châu Âu: Đây là một Châu lục có lịch sử y học dân gian lâu dài,những tri thức dân gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việcghi chép lại và thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ (Cassandra L Quave
và cs., 2012) Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoahọc về việc sử dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dânbản địa được thực hiện:
Trang 15- Maria Leporatti và cs.(2007) khi thực hiện nghiên cứu về một số côngdụng của cây thuốc trong khu vực Alto Tirreno Cosentino, Calabria, miềnNam nước Ý đã chỉ ra 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người dân sử dụng
để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô hấp,đau răng, sâu răng và đau thấp khớp
- Montse Parada và cs.(2009) khi nghiên cứu thực vật dân tộc của khu vựcAlt Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia đã tìm thấy trên 518 loài thực vật thuộc
335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau
- Behxhet Mustafa và cs.(2012) khi nghiên cứu về các loài thực vậtđược sử dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98loài thực vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnhkhác nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họRosaceae, Asteraceae và Lamiaceae
Ở Châu Mĩ: Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa cũng được thực hiện:
- Rainer W Bussmann và Douglas Sharon (2006) trong một kết quảnghiên cứu về sử dụng cây thuốc cổ truyền ở miền Bắc Peru đã ghi nhận 510loài thực vật được người dân địa phương sử dụng để điều trị bệnh, các câythuộc các họ được sử dụng nhiều nhất là: Asteraceae, Fabaceae, Lamiaceae,Solanaceae, Euphorbiaceae và Poaceae
- Cecilia Almeida và cs.(2006) khi nghiên cứu cây thuốc phổ biến được
sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil
đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử dụng
để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim mạch,bệnh thận, viêm và an thần
- Gabriele Volpato và cs.(2009) trong một kết quả nghiên cứu sử dụngcây thuốc của người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba
Trang 16đã chỉ ra 123 loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti
sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau
- Gaia Luziatelli và cs.(2010) khi nghiên cứu cây thuốc của cộng đồngAshaninka, một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo Quimiriki, Junin,Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các loạibệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ:Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và Piperaceae
- Yadav Uprety và cs.(2012) khi nghiên cứu sử dụng cây thuốc trongrừng phương Bắc của Canada đã điều tra và thống kê 546 loài cây thuốc được
sử dụng bởi những người thổ dân của rừng phương bắc Canada, các loại câythuốc này được sử dụng để điều trị 28 bệnh và triệu chứng rối loạn khác nhau,trong đó các cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh rối loạn dạ dày – ruột, rốiloạn cơ xương là chủ yếu
- Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, NuevoLeón, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91
họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họđược sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón
và cs., 2014)
- Nghiên cứu “Cây thuốc trong bối cảnh văn hóa của một cộng đồngMapuche – Tehuelche trong thảo nguyên Datagonia Argentina” đã chỉ ra 121loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêuhóa, hô hấp, tim mạch, giảm đau, chống viêm, sản khoa, phụ khoa và sinh dục(Soledad Molares và Ana Ladio, 2014)
Ở Châu Phi: Đây là khu vực mà từ lâu nay người dân đã biết sử dụngcây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay để bảo vệ sức khỏe của họ, nhữngnghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của những người dân bảnđịa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú:
Trang 17- Tilahun Teklehaymanot và Mirutse Giday (2007) nghiên cứu về thựcvật học của cây thuốc được sử dụng bởi người dân ở Zegie Peninsula, TâyBắc Ethiopia đã ghi nhận 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ được ngườidân sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiên hóa, kí sinh trùng
và nhiễm trùng
- “Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng câythuốc của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61loài cây thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điềutrị các bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da,rắn cắn và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cs., 2011)
- Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biểnAgnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc được
sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi nhận 8 loàiđược sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng trong khi sinh,các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan đến tình dục nhưbệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cs., 2013)
- Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộngđồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài câythuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng đểđiều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cs., 2014)
Ở Châu Úc: Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa đượcthực hiện ở châu Úc còn rất ít Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được sửdụng bởi cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales, Australia,
đã ghi nhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử dụng để điềutrị các bệnh (Joanne Packera và cs., 2012)
Nhìn chung, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại nhữngcông trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dângian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú
Trang 181.2.1 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu đời, có thể nói nóxuất hiện từ buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thủy.Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã ngẫu nhiên phát hiện racông dụng của nhiều loại cây Suốt một thời gian dài như vậy tổ tiên chúng ta
đã dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của câyrừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày càng có nhiều côngtrình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam Năm 1976, để phục vụcho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đãcho ra đời cuốn sách “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” (Vũ Văn Chuyên,1967) Năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ taycây thuốc Việt Nam” giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mớiđược phát hiện (Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương, 1980) Viện dược liệu đãcho xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trìnhnghiên cứu về cây thuốc trong nhiều năm, cuốn “Danh lục cây thuốc miềnBắc Việt Nam”; “Danh lục cây thuốc Việt Nam”; “Atlas – Bản đồ cây thuốc”,
đã thống kê và công bố một danh sách về cây thuốc từ năm 1961 – 1972 ởmiền Bắc là 1.114 loài, từ năm 1977 – 1985 ở miền Nam là 1.119 loài (Dẫntheo Viện Dược Liệu, 1993)
Viện Dược liệu (1993), trong quá trình thu thập và nghiên cứu về câythuốc cho thấy, các cây thuốc hiện nay ở Việt Nam biết đến chủ yếu được sửdụng theo kinh nghiệm dân gian và trong số trên 2000 loài và dưới loài câythuốc có tới gần 90% cây thuốc là các cây mọc tự nhiên và được phân bố chủyếu trong các quần thể rừng với trữ lượng lớn, khoảng 10% là cây thuốc đượcđem về trồng ngay tại nhà
Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoahọc đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt
Trang 19Nam” (1993) của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Dẫn theoViện Dược Liệu, 1993) Công trình “1900 loài cây có ích” của Trần Đình Lý(1995), đã thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loàicho dầu béo, 160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây Lương ylão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với công trình “Cây thuốc Việt Nam”(1995) đã giới thiệu hơn 830 loài cây thuốc chính, phụ (Lê Trần Đức,1997).
Võ Văn Chi là một nhà thực vật lớn của Việt Nam, đã đóng góp rất nhiềutrong quá trình nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam và ông đã biên soạncuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các câyđược sử dụng làm thuốc ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây (1996) (Võ Văn Chi,1996) Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiềucây cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực, làm thuốc (Võ Văn Chi, 2012)
Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu
về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm tớicây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian gia truyền”(Âu Anh Khâm, 2001); “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữabệnh” (Tào Duy Cần, 2001) và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên khoa” (Tào DuyCần, 2006) “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược” (Nguyễn Thượng Dong,2006); “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp(Phạm Hoàng Hộ, 2006); “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp
và cs.(2000) đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến… Đồng thời, có nhiều công trìnhnghiên cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như:Đặng Quang Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ởhuyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau(Đặng Quang Châu, 2011) Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khi điều tra cácloài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93 loàithuộc 7 chi, 42 họ (Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải, 2003) Các tác giả đãphân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da,
Trang 20bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm Cư, Hà TuấnAnh, Trương Anh Thư khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông ởvùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực– thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả Trongnhóm này cây làm thuốc, các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc
118 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc(Lưu Đàm Cư và cs., 2004) Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) đãxây dựng các mô hình vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườnrừng, trang trại, vườn các hộ gia đình Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài câythuốc thuộc 28 họ, trong đó có nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 năm 2011 tại Hà Nội, đã
có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng các loàicây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc ở Việt Nam đượccông bố như: một số kết quả nghiên cứu “Các loài thực vật được đồng bàodân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụng làmthuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến (2011) đãchỉ ra 65 loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng làm thuốc chữabệnh về thận; “Những cây thuốc được sử dụng thay thế mật gấu theo kinhnghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả LêThị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận (2011) đã thu được 35 loài thuộc 27chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc chữa bệnhthay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên; “Điều tra các loài câythuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnhĐồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã (2011) đã điều tra
và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 186 chi, 90 họ tại các
xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc khôngnhững mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn đóng
Trang 21góp vào công tác bảo tồn nguồn dược liệu, bảo tồn những bài thuốc hay Nhằmgóp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Yên Sơn là một huyện nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam tỉnh Tuyên Quang,
là địa bàn bao quanh thành phố Tuyên Quang, huyện Yên Sơn luôn gắn bóchặt chẽ với thành phố trên nhiều phương diện và có nhiều tiềm năng pháttriển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Toàn huyện có 28 đơn vị hànhchính cấp xã với tổng diện tích tự nhiên theo ranh giới hành chính là 1060,70km2 Huyện có các vị trí tiếp giáp sau:
+ Phía đông giáp các huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn)
+ Phía tây giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Yên Bình(tỉnh Yên Bái)
+ Phía nam giáp huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ), huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang)
+ Phía bắc giáp huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang)
* Khí hậu: khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa,chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9
trong năm, nhiệt độ trung bình khoảng 280C; mùa đông hanh, khô từ tháng 10 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình khoảng 160C, độ ẩm trung bình 82%
* Địa hình, địa mạo
Địa hình Yên Sơn hình thành ba vùng rõ nét
+ Vùng thượng huyện (phía đông và đông bắc) là những dãy núi đá có
độ cao trung bình khoảng 600 m so với mặt biển
+ Vùng trung và hạ huyện là những dãy đồi bát úp, đất đai màu mỡ, thích hợp cho cây công nghiệp như chè, cà phê, hoa màu và chăn nuôi gia súc
Trang 22+ Phía tây huyện là nơi có những cánh đồng rộng phì nhiêu như HoàngKhai, Mỹ Bằng, Lang Quán thích hợp cho phát triển cây lương thực, câycông nghiệp và chăn nuôi Ôm lấy những cánh đồng này là dãy núi Là đồ sộ(có đỉnh cao hơn 900m so với mặt nước biển), núi Quạt, núi Nghiêm.
* Thủy văn
- Chảy qua địa bàn Yên Sơn có bốn con sông: sông Lô, sông Gâm, sôngChảy ở phía tây và tây bắc, sông Phó Đáy ở phía đông cùng mạng lưới suối,ngòi dày đặc Sông suối của huyện nhiều thác ghềnh, thường có lũ trong mùamưa, tuy gây một số khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội song cũng cónhững tiềm năng, giá trị về mặt kinh tế Ngoài cung cấp nước phục vụ đờisống, sản xuất, sông suối còn cung cấp nguồn thủy sản khá phong phú, có giátrị kinh tế cao phục vụ đời sống nhân dân, đồng thời là đường giao thông quantrọng giữa các vùng và tiềm năng phát triển thuỷ điện, du lịch
- Mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông tạo điều kiện thuận lợi choviệc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa miền núi với vùng trung du và đồng bằng TừYên Sơn có thể xuôi về Hà Nội, ngược lên Hà Giang trên quốc lộ số 2, sang TháiNguyên và Yên Bái trên quốc lộ 13A (nay là quốc lộ 37) Cũng có thể cơ độngbằng đường thủy đến các tỉnh lân cận như Phú Thọ, Hà Giang
tương đối thuận tiện, đặc biệt là vận chuyển tre, nứa, gỗ về xuôi Ngoài ra,Yên Sơn còn có nhiều đường liên xã, liên thôn, đường dân sinh nối các điểmdân cư, các vùng kinh tế với nhau
* Dân số: Dân số toàn huyện khoảng 158,818 người, gồm 06 dân tộcchính cùng sinh sống đó là các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa,Cao Lan…Đồng bào các dân tộc sống xen canh, xen cư ở tất cả các xã nhưngvẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của mình Nhân dân các dân tộc có truyềnthống đoàn kết giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, chống giặc ngoại xâm,chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây dựng quê hương đất nước
Trang 231.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Năm 2019, kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục phát triển Tổ chức thànhcông nhiều nhiệm vụ chính trị quan trọng Kinh tế tăng trưởng ổn định, côngtác lao động việc làm, giảm nghèo được triển khai thực hiện có hiệu quả, vănhoá, giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư, chăm lo và đạt được kết quảtích cực An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giữ vững, ổn định Công tácquân sự quốc phòng địa phương thường xuyên được chú trọng Đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện, an sinh xã hội đượcđảm bảo Triển khai nghiêm túc, hiệu quả các chương trình, dự án, kế hoạchcủa Tỉnh và Huyện; các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 cơ bảnđều đạt và vượt kế hoạch
Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế cơ bản đạt được trong năm 2019:Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm bình quân trong năm 11% (mục tiêuNghị Quyết 7÷8%)
Cơ cấu các ngành kinh tế: Dịch vụ 34,28% (mục tiêu Nghị quyết34,2%); công nghiệp và xây dựng 35,34% (mục tiêu Nghị quyết 33,8%); nônglâm nghiệp và thuỷ sản 30,38% (mục tiêu Nghị quyết 32%)
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 2.685 tỷ đồng (mụctiêu Nghị quyết 1.880 tỷ đồng)
Giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng đạt 3.123 tỷđồng (mục tiêu Nghị quyết 776 tỷ đồng)
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật được được một số cộng đồng dân tộc thiểu số tạihuyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang sử dụng làm chuốc chữa bệnh; kinhnghiệm sử dụng cây thuốc của một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyệnYên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn địa điểm: đề tài tiến hành điều tra phỏng vấn tại khu vực huyện Yên Sơn, Tuyên Quang
- Giới hạn thời gian: đề tài thực hiện từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2021
- Giới hạn nội dung: đề tài thực hiện nghiên cứu tri thức bản địa sửdụng cây thuốc tại huyện Yên Sơn, Tuyên Quang; và phân tích hoạt tínhkháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại huyện Yên Sơn, Tuyên Quang
2.2 Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trongmột số cộng đồng dân tộc tại huyện Yên Sơn, Tuyên Quang:
+ Đa dạng bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc
+ Đa dạng về dạng sống của nguồn tài nguyên cây thuốc +
Đa dạng về nơi sống của nguồn tài nguyên cây thuốc
(2) Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam có tại khu vực huyện Yên Sơn, Tuyên Quang
(3) Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồngdân tộc thiểu số ở huyện Yên Sơn, Tuyên Quang:
+ Kinh nghiệm sử dụng bộ phận cây làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện Yên Sơn
Trang 25+ Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện Yên Sơn.
+ Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc
(4) Kiểm chứng bằng đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loàicây thuốc có giá trị cao được các cộng đồng dân tộc thiểu số sử dụng tạihuyện Yên Sơn, Tuyên Quang
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp điều tra cộng đồng
- Đánh giá nhanh nông thôn trong tiếng Anh được gọi là Rapid Rural Appraisal - RRA
Thuật ngữ "Đánh giá nhanh nông thôn" trong khuôn khổ phát triểnnông nghiệp có thể được dùng để miêu tả bất kì phương pháp luận mới nào sửdụng nhóm nghiên cứu nhiều chuyên ngành cùng làm việc với nông dân vàlãnh đạo của cộng đồng để phát triển một cách nhanh chóng và hệ thống
- Đánh giá nông thôn có sự tham gia (tiếng Anh: Participatory RuralAppraisal - PRA) là một hoạt động học hỏi kinh nghiệm được tiến hành trongcộng đồng, có tính tập trung, hệ thống, bán cơ cấu, trong một thời gian ngắn
Hoạt động này được thực hiện bởi một nhóm chuyên viên liên ngành vàbao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng
Đánh giá nông thôn có sự tham gia giúp cho người dân nông thôn cóthể chia sẻ, củng cố và phân tích kiến thức hiểu biết của họ về cuộc sống, điềukiện sống; cũng như lập kế hoạch, thực hiện và giám sát và đánh giá
Trang 26Người ngoài đóng vai trò là người hỗ trợ hay người thúc đẩy trong toàn
bộ tiến trình đánh giá
+ Công tác điều tra thực địa được thực hiện tại 05 xã trên địa bàn huyệnYên Sơn bao gồm: xã Xuân Vân, Chân Sơn, Trung Sơn, Hùng Lợi và xãTrung Minh Tổng số thầy lang, bà mế được điều tra phỏng vấn là 35 người,trong đó: xã Xuân Vân 6 người, xã Chân Sơn 10 người, xã Trung Sơn 6người, xã Hùng Lợi 7 người và xã Trung Minh 6 người
+ Nghiên cứu thực nghiệm (xác định hoạt tính kháng khuẩn) được tiếnhành tại phòng thí nghiệm Khoa Công nghệ sinh học - Trường Đại học Khoahọc Thái Nguyên
+ Nghiên cứu tri thức của cộng đồng dân tộc: Dao, Tày, Cao Lan
- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: tại KVNC, phỏng vấn các thầylang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử dụng các bàithuốc gia truyền của 1 số cộng đồng dân tộc thiểu số Dao, Tày, Cao Lan ởhuyện Yên Sơn, Tuyên Quang Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tracây thuốc trong cộng đồng và phiếu điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dượcliệu, 1993)
- Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: tên phổ thông, tên dântộc, số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ phận sử dụnglàm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt); công dụng Đồng thời ghi chép những đặcđiểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ thời gian, địa điểm vàngười thu thập thông tin
- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh tạithực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn tàiliệu tin cậy đã công bố giám định lại
+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực hiệnngay ở lần điều tra đầu tiên Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi chú để
Trang 27kiểm định lại ở bước sau Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá, hoa,
quả ) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2 để giám định
+ Bước 2: tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây
thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và
nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,
1999), Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012), Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam
(Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện ST&TNSV,
2006) Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở bước này
Bảng 2.1 Mẫu bảng điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc được 1 số cộng
2.3.3 Phương pháp thu mẫu
Tiến hành thu mẫu ở thực địa theo nguyên tắc và phương pháp thu mẫu
theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt
cây, giấy báo, giây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy theo Nguyễn
Nghĩa Thìn (1997)
Nguyên tắc thu mẫu: mỗi cây thuốc thu từ 3 - 10 mẫu và được gắn nhãn
ghi rõ các thông tin về kí hiệu mẫu, thời gian, địa điểm và người thu mẫu (các
mẫu cùng cây đánh số cùng một số hiệu mẫu) Mẫu thu thập sẽ được xử lý
theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) như sau:
Trang 28+ Bước 1: sau mỗi ngày thu mẫu, mẫu vật sẽ được mang về nơi ở, xếpmẫu ngay ngắn vào một tờ báo cỡ 28 x 42 cm, để mẫu ở trạng thái tự nhiên,
có lá sấp – lá ngửa, vuốt cho thẳng mẫu và đeo etyket cho mẫu
+ Bước 2: xếp khoảng 15 - 20 mẫu thành một chồng, dùng dây dứa buộc
lại
+ Bước 3: cho mẫu vào túi nilon và tẩm cồn cho chồng mẫu để bảo quản
Hình 2.1 Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài
2.3.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồngdân tộc thiểu số thiểu số ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang sử dụng phươngpháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997):
- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài
- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi…
- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi cây bụi, trảng cỏ, đất trống, xung quang làng xóm, vườn, ven sông
- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: cả cây, thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, nhựa…
- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động; bệnh về gan; tim mạch; hệ thần kinh; hệ tiết niệu; đường tiêu hóa…
Trang 292.3.5 Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp
Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những câythuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phầnthực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007), Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Chính phủnước Việt Nam, 2019), Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang câythuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007)
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn
- Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu
Nguyên liệu lá, thân, rễ cây thuốc sau khi thu hái được rửa sạch, để ráonước sau đó đem sấy khô ở 900C đến khối lượng không đổi
- Nguyên liệu sau khi sấy khô được nghiền trong máy xay đa năng loạinhỏ thành bột dạng mịn, bảo quản nơi khô ráo để sử dụng trong các nghiêncứu tiếp theo
- Bước 2: Tạo cao chiết
Nguyên liệu được tách chiết theo phương pháp ngâm nóng Nguyên liệudạng bột khô được đem đi chiết với tỷ lệ 10 g/100 ml bằng dung môimethanol, sau đó cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút (để các chất cóhoạt tính sinh học tan đều trong dung môi) ở các điều kiện thời gian 24 giờ,sau đó tiến hành lọc qua giấy lọc, 80 ml dịch lọc được đem đi cô đặc bằngmáy cô quay (hoặc sấy khô) đến khi có khối lượng khô không đổi và đượcbảo quản ở 40C để sử dụng trong các nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn
- Bước 3: Chuẩn bị giống vi khuẩn
Sử dụng 2 chủng vi khuẩn gồm 1 chủng gram dương là S.a
(Staphylococcus aureus) và 1 chủng gram âm là E.coli (Escherichia coli), lấy
từ phòng thí nghiệm Vi sinh - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên Bảoquản giống trên môi trường thạch nghiêng: vi sinh vật được hoạt hóa trongmôi trường LB, sau đó được cấy chuyển sang môi trường thạch nghiêng, nuôi
24 giờ ở 370C, giữ trong tủ lạnh để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
- Bước 4: Thử khả năng kháng khuẩn
Trang 30Kiểm tra khả năng kháng khuẩn của cao chiết bằng phương phápkhuếch tán trên đĩa thạch, thí nhiệm được bố trí 3 lần nhắc lại trên một chủng
vi khuẩn 3 đĩa petri trên 1 lần nhắc lại
Pha cao chiết của toàn thân cây thuốc với nước ở nồng độ 100 mg/mlsau đó dùng cao đã pha để thử hoạt tính kháng khuẩn
Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô trùng Khi mật độ vi khuẩnđạt đến nồng độ 106 tế bào/ml, lắc đều ống nghiệm chứa vi khuẩn Môi trường
LB đã được hóa lỏng trong lò vi sóng, khi còn lỏng đổ đều môi trường vào cácđĩa Petri, sau đó để nguội để môi trường đông đặc lại tạo thành mặt phẳng Dùngmicropipet hút 100μl dịch vi khuẩn vào giữa đĩa thạch chứa môi trường LB(Thành phần của môi trường LB là như sau (g/l): Peptone - 10; Cao nấm men - 5;NaCl -10; pH: 7,0), dùng que cấy tam giác trang đều cho đến khi mặt thạch khô.Sau 15 phút đục giếng trên môi trường thạch với đường kính 6 mm, đục 2 giếng,mỗi giếng cách nhau 2 - 3 cm Mỗi giếng thạch nhỏ 100μl dịch cao chiết cầnnghiên cứu bằng micropipet, sử dụng đối chứng dương là kháng sinh Kanamycin
và Akamicin với nồng độ 5 mg/ml để so sánh, để các đĩa thạch trong tủ lạnh 30phút để dịch cao chiết khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sau đó nuôicấy trong tủ ấm 370C, sau 24h mang ra đo kích thước vòng kháng khuẩn Hoạttính kháng khuẩn được xác định bằng cách đo kích thước vùng kháng khuẩn(BK) bằng công thức: BK = D - d, trong đó D là đường kính vòng kháng khuẩn,
d là đường kính giếng thạch
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.1.1 Sự đa dạng trong các bậc taxon
3.1.1.1 Đa dạng ở bậc ngành
Kết quả điều tra ghi nhận được 228 loài thực vật bậc cao, phân bố ở 4ngành: ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Dương xỉ (Pteridophyta),ngành Dây gắm (Gnetophyta), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), sự phân bốcác taxon của các ngành được tổng hợp tại Bảng sau:
Bảng 3.1 Nguồn tài nguyên cây thuốc được phát hiện ở KVNC
Trang 33Sự phân bố không đồng đều nhau của các taxon không chỉ được thểhiện giữa các ngành mà còn thể hiện qua sự chiếm ưu thế của các lớp trongngành Ngọc lan (Magnoliophyta) như sau:
Bảng 3.2 Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan
kể đến như: cây Chùa dù - Elsholtzia blanda Benth được sử dụng làm thuốc tắm, giải cảm, trị mụn; cây Cỏ cỏ mật gấu - Isodon lophanthoides Hara có tác dụng xương khớp, giải độc gan; cây Lưu ký nô - Hypericum sampsonii Hance được sử dụng chữa đai ra máu, ho, kinh nguyệt không điều; cây Gấc - Momordica cochinchinensis được sử dụng để điều trị mụn nhọt, bệnh ngoài da; cây Câu đẳng
- Uncaria acida Roxb chữa kinh giật ở trẻ em, chóng mặt, huyết áp cao Lớp
Hành (Liliopsida) chiếm tỉ trọng thấp hơn với 44 loài,
38 chi và 20 họ Có thể kể đến một số loài thuộc lớp Hành là: cây Dây ba mươi
-Stemona tuberoso Lour được sử dụng để chữa viêm phế quản mãn tính, ho lâu
này, trị ngứa ghẻ; cây Muồng muồng - Phoenix loureiri S C Barow được sử dụng chữa bệnh về táo bón, viên da, đau thân kinh; cây Chuối hoa - Canna
indica L có công dụng chữa sốt, khó tiêu; cây Gừng đen - Distichochlamys citrea M F Newman được dùng hỗ trợ điều trị ung thư, tăng cường miễn dịch,
Trang 35Tỉ lệ họ giữa lớp Ngọc lan với lớp Hành là 3,9 nghĩa là trung bình cứ 3đến 4 họ thuộc lớp Ngọc lan thì sẽ có 1 họ thuộc lớp Hành; tương tự tỉ lệ cácbậc chi và bậc loài lần lượt là 4,29 và 4,09 có nghĩa là: trung bình cứ 5 chi và
5 loài thuộc lớp Ngọc lan sẽ có 1 chi và 1 họ thuộc lớp Hành
Dưới đây là một số hình ảnh về một số loài cây thuốc ở KVNC:
Ba chạc - Melicope pteleifolia Vàng đắng - Arcangelisia flava (L.) Merr
Cối xay - Abutilon indicum L Cam thảo đất - Abrus precatorius L.
Khổ Sâm - Croton tonkinensis Gagnep Mía dò - Costus speciosus Smith
Trang 36Thầu dầu - Ricinus communis L Hoàng đằng - Fibraurea tinctoria Lour
Hình 3.1 Hình ảnh một số loài cây thuốc ở
KVNC 3.1.1.3 Các họ đa dạng nhất
Kết quả đánh 10 họ đa dạng nhất của nguồn tài nguyên cây thuốc được
sử dụng theo kinh nghiệm của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tày, Dao, CaoLan ở KVNC được ghi nhận tại bảng kết quả sau:
Bảng 3.3 Các họ cây thuốc đa đạng nhất ở KVNC
Trang 37(Lamiaceae) đều có 12 loài và 8, 10 chi, họ Hòa thảo (Poaceae) có 11 chi và 11loài, họ Ô rô (Acanthaceae) có 8 chi và 9 loài, họ Gừng (Zingiberaceae ) có 5
Trang 38chi và 7 loài,…Kết quả về các họ giàu loài cây thuốc cũng được ghi nhậntrong các nghiên cứu về cây thuốc ở nhiều khu vực trên thế giới.
Các họ cây thuốc giàu loài của khu vực nghiên cứu có 6 họ nằm trong 10
họ đa dạng nhất của hệ thực vật Việt Nam là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họCúc (Asteraceae), họ Hòa thảo (Poaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đậu(Fabaceae), Ô rô (Acanthaceae); 3 họ còn lại không nằm trong 10 họ lớn nhất
ở Việt nam đó là họ Bạc hà ( Hoa môi) - Lamiaceae, họ Ngũ gia bì ( Nhânsâm) - Araliaceae, họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae Điều này chứng minh rằngnguồn cây thuốc ở KVNC tuy phong phú nhưng vẫn có nét khác biệt so vớitính đa dạng chung của hệ thực vật Việt Nam
Kết quả so sánh các họ giàu loài của nguồn cây thuốc ở KVNC với họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam được ghi nhận tại Bảng 3.4
Bảng 3.4 So sánh các họ giàu loài ở KVNC (1) với họ giàu loài của
10 Cỏ roi ngựa - Verbenaceae
Chú thích: (1) Loài thực vật ở khu vực nghiên cứu; (2) Loài theo nguồn Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện ST&TNSV, 2006)
Từ Bảng kết quả cho thấy, trong 10 họ giàu loài của khu vực nghiên cứu
có 6 họ có tỉ lệ phần trăm loài so với tổng số loài của họ tương ứng trong hệ
Trang 39thực vật Việt Nam lớn hơn 3,05%: gồm họ Cúc (Asteraceae) có 26 loài chiếm6,84% tổng số loài trong họ Cúc của hệ thực vật Việt Nam; họ Bạc hà (Hoa môi)
- Lamiaceae có 12 loài chiếm 7,64% tổng số loài trong họ Bạc hà của hệ thực vậtViệt Nam; họ Gừng - Zingiberaceae có 7 loài chiếm 5,19%; họ Ô rô -Acanthaceae có 9 loài chiếm 3,25%; họ Ngũ gia bì (Nhân sâm) - Araliacea với
6 loài chiếm 3,80% tổng số loài trong họ Ngũ gia bì của hệ thực vật Việt Nam
và Cỏ roi ngựa - Verbenaceae chiếm 3,09% tổng số loài
3.1.2 Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc
Đánh giá về dạng sống của cây có thể định hướng được việc bảo vệ,gây trồng, sử dụng và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc Cácloài cây được cộng đồng các dân tộc thiểu số ở KVNC sử dụng làm thuốc códạng cây rất đa dạng và phong phú (Bảng 3.5)
Bảng 3.5 Sự đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc ở KVNC
1 2 3 4 5 6 7
Dữ liệu trên cho thấy, nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng theokinh nghiệm của 3 cộng đồng dân tộc Tày, Dao, Cao Lan tại KVNC tập trungvào 7 dạng sống, trong đó tập trung nhiều nhất vào 4 dạng sống cây thân thảo,bụi, dây leo và cây gỗ nhỏ
Với dạng sống cây thân thảo số loài nhiều nhất với 111/228 so với tổng
số loài (chiếm 48,68% so với tổng số loài) Các cây thuộc nhóm này tập trungchủ yếu vào họ Cúc (Asteraceae) được dùng để chữa các bệnh đau đầu, giải
Trang 40độc, cao huyết áp, chữa mụn nhọt, cầm máu, thanh nhiệt, giảm đau, kinhnguyệt, xương khớp, gan, ăn kiêng, đái tháo đường, tiêu chảy, sỏi thận, đáidắt, cảm cúm, sát trùng, sưng đau, phong thấp, dạ dày, ho, nhiệt miệng, nóngruột, mần ngứa; họ Hòa thảo (Poaceae) dùng để chữa trị viêm khớp, ung thư,
bổ, chữa ỉa chảy lau ngày, viêm đại tràng, bồi dưỡng cơ thể, vàng da, tiêuchảy, giải nhiệt, tiêu độc, lợi tiểu, chữa huyết áp cao, kinh nguyệt không điều,chống nôn, gan Ngoài ra có họ Bạc hà (Lamiaceae) được dùng để chữa cảm,
ho, nôn mửa, đau bụng kinh, tắm, giải cảm, trị mụn, gan, giải nhiệt, hạ huyết
áp, chữa cảm cúm, dạ dày, chữa thủy đậu, dị ứng, ho, đau đầu
Đứng thứ hai dạng cây bụi với 52/228 loài (chiếm 22,81%), dạng câynày tập trung chủ yếu các loài thuộc họ Ô rô (Acanthaceae) Một số loài cây
thuốc thuộc nhóm này như sau: cây Xuân hoa vòng - Pseuderanthemum palatiferum Radlk được dân tộc Dao dùng để trị chữa bệnh giải độc gan, giải rượu, điều trị ung thư; loài Justicia ventricosa Wall (cây Dòng xanh) có tác
dụng trị độc rắn cắn; họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có những loài sau; cây
Bỏng nổ - Flueggea virosa Voigt với công dụng chữa suy thận, hỗ trợ chữa thoái hóa, gai đốt sống, đau thần kinh tọa, bổ; cây Thầu dầu (Ricinus communis L.) có tác dụng chữa táo bón, chữa trị, xương khớp, họ Dâu tằm (Moraceae) như cây Vú chó - Ficus simplicissima Lour (cây Ba lá) được dân
tộc Cao Lan dùng chữa dạ dày…
Đứng thứ ba là dạng sống cây dây leo và gỗ nhỏ đều cùng với số lượng lầnlượt là 35 và 18 loài (chiếm 15,35%, 7,89%) Trong đó các loài cây thuộc nhómcây dây leo tập trung chủ yếu thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), họ Bí(Cucurbitaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Bầu bí Cucurbitaceae; các loài câythuộc nhóm cây gỗ nhỏ tập trung trong các học họ Cam (Rutaceae), họ Long não(Lauraceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae) Có thể kể đến một số loài đại diện như:
cây Chanh - Citrus aurantifolia Swingle được cộng đồng dân tộc Cao Lan dùng
để chữa bệnh dạ dày, gan; loài Litsea cubeba Pers (Màng tang) cộng đồng