Mối quan hệ đặc biệt giữa nhận thức và thực tiễn có mối quan hệ trao đổi, tác động lẫn nhau để hình thành nên hoạt động sản xuất vật chất, phản ánh mặt tinh thần và thực tiễn xã hội.. đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: TRIT HỌC M C - LÊNIN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NHẬN THỨC
VÀ THỰC TIỄN SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM NÀY TRONG THỰC TIỄN
GVHD: Bùi Xuân Dũng SVTH:
1 Nguyễn Thành Châu
2 Hồ Gia Kiệt
3 Phạm Ngọc Thạch
4 Nguyễn Minh Trí
5 Ngô Minh Thuận
Mã lớp học: LLCT130105_21_1_41CLC
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lí do chọn đề tài……….1
2 Mục tiêu nghiên cứu……… 1
NỘI DUNG………2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN……… 2
1 Quan điểm của triết học Mác-Lê nin về thực tiễn và nhận thức…… 2
1.1 Thực tiễn và tính chất thực tiễn……… 2
1.2 Nhận thức và tính chất nhận thức……… 4
2 Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn ……….10
2.1 Tác động của nhận thức đến thực tiễn……… 10
2.2 Tác động của thực tiễn đến nhận thức……… 11
3 Ý nghĩa phương pháp luận ………13
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐỂ GIẢI QUYT VẤN ĐỀ TRONG THỰC TIỄN……… 13
KT LUẬN……….16
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….17
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Từ thời xa xưa , để nhắc nhở , động viên con cháu chăm chỉ học hành , xây dựng đất nước , ông bà ta đã có câu “học đi đôi với hành” Điều này cũng đúng trong triết học Mác-Lênin , vấn đề quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn có một tầm quan trọng đặc biệt
Nước ta trong thời kì sau chiến tranh , nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ , tăng trưởng chậm , đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Đảng ta đã quyết định họp
và vận dụng lí luận về mối quan hệ giữa nhận thực và thực tiễn trong triết học Mác-Lênin Cuối cùng thì thành quả cũng đến khi chuyển được từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng của xã hội chủ nghĩa
Với mục đích tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này nên nhóm em chọn đề tài “Lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn –Sự vận dụng quan điểm này trong thực tiễn” Để xem thử quan điểm này trong thời đại công nghiệp hóa , hiện đại hóa , thời đại của công nghệ có còn đúng không
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Cống hiến vĩ đại,to lớn nhất của các nhà sáng lập triết học Mác - Lênin là lần đầu tiên trong lịch sử đã khám phá ra vai trò quyết định của thực tiễn xã hội đối với lý luận Họ đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng, thực tiễn của con người không những là cơ sở quan trọng nhất và mục đích cuối cùng của toàn bộ nhận thức, mà còn là tiêu chuẩn quyết định của chân lý Mối quan hệ đặc biệt giữa nhận thức và thực tiễn có mối quan hệ trao đổi, tác động lẫn nhau để hình thành nên hoạt động sản xuất vật chất, phản ánh mặt tinh thần và thực tiễn xã hội Có thể nhìn thấy, thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận , hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người, được tiến hành một cách tất yếu khách quan và
Trang 4được thực hiện trong các quan hệ xã hội, hoạt động mang tính năng động, sáng tạo
là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội loài người Đảng ta tìm hiểu, vận dụng một cách đúng đắn , triệt để vấn đề này của triết học Mác-Lênin để làm công cuộc xây dựng và đổi mới của đất nước ta , vận dụng những vấn đề đó để giải quyết những vấn đề thực tiễn
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA
NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN
1 Quan điểm của triết học Mác-Lê nin về thực tiễn và nhận thức
1.1 Thực tiễn và tính chất thực tiễn
Thực tiễn là tổng thể những hoạt động vật chất có mục đích, sáng tạo, có tính lịch sử-xã hội do con người thực hiện nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Không giống với các loại hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là hoạt động trong đó con người dùng công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất định và biến đổi chúng theo mục đích của mình Đây là những hoạt động đặc trưng và là bản chất của con người Đó là tất yếu và khách quan, là sự phát triển không ngừng của con người trong các thời kỳ lịch sử Vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn có mục đích, sáng tạo, mang tính lịch sử và xã hội
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản đó là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
1 Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn xuất hiện sớm nhất, cơ bản nhất và quan trọng nhất Bởi vì ngay từ khi loài người mới xuất hiện trên trái đất đã phải tiến hành sản xuất vật chất đơn giản để có thể tồn tại Sản xuất vật chất thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội loài người Không có sản xuất vật chất thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển Sản xuất vật chất còn là cơ sở cho các hình thức hiện thực khác và mọi hoạt động khác của con người
Trang 5Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động của lao động chân tay, lao động trí óc, cộng với tư liệu sản xuất, công cụ lao động, máy móc và công nghệ sản xuất các nguyên vật liệu (sản phẩm, hàng hoá) để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xã hội
Ví dụ hoạt động sản xuất ra các loại hàng hóa,sản phẩm tiêu dùng; sản xuất ra đồ
ăn, thức uống; hoạt động xây dựng như xây nhà cửa, công trình, Sáng chế ra các loại ô tô, xe máy, máy móc phục vụ cho nhu cầu sản xuất công nghiệp
2 Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động thực tiễn thể hiện tính tự giác cao của con người nhằm thay đổi, cải tạo xã hội, phát triển các hệ thống, quan hệ xã hội, nhằm tạo ra môi trường có lợi cho sự phát triển của con người Hoạt động chính trị - xã hội bao gồm đấu tranh giai cấp và các hoạt động khác; đấu tranh giải phóng dân tộc; đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; phấn đấu cải thiện các quan hệ chính trị, xã hội, tạo môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho sự phát triển của con người Nếu không có hình thức thực hành này, con người
và xã hội loài người không thể phát triển bình thường
Ví dụ hoạt động của các tổ chức: Phong trào đền ơn đáp nghĩa, Hoạt động của hội chữ thập đỏ, Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí minh
3 Hoạt động thực nghiệm khoa học là một dạng hoạt động thực tiễn đặc biệt
Vì trong hoạt động thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện mà tự nhiên và xã hội không có được, tiến hành thực nghiệm khoa học theo đúng mục tiêu đã xác lập Trên cơ sở đó, ứng dụng khoa học kỹ thuật và thành tựu công nghệ vào sản xuất vật chất, cải tạo chính trị xã hội, chính trị xã hội phục vụ nhân dân Dạng hoạt động này có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại…
Ví dụ việc trồng các loại thực vật trong nhà kính, xây dựng các công viên quốc gia, nuôi cấy mô tế bào, nghiên cứu vũ trụ, nghiên cứu thực nghiệm các môn học về khoa học tự nhiên…
Trang 6Kết luận: Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn đều có những chức năng quan trọng khác nhau Chúng không thể thay thế cho nhau, nhưng chúng có quan hệ mật thiết và tương tác với nhau Trong mối quan hệ này, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quan trọng nhất và có vai trò quyết định đối với các hoạt động thực tiễn khác Vì là hoạt động sơ khai, khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống của con người, tạo ra những điều kiện và của cải, quyết định nhất cho sự tồn tại và phát triển của con người Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể hình thành hoạt động thực tế nào khác Suy cho cùng, các hình thức hoạt động thực tiễn khác cũng bắt nguồn từ thực tiễn sản xuất vật chất và phục vụ cho thực tiễn sản xuất vật chất Tuy nhiên, hai hình thức hoạt động thực tiễn kia là hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất vì nếu không có chúng thì hoạt động sản xuất vật chất không thể phát triển được
Như vậy, thực tiễn là cầu nối con người với tự nhiên, xã hội, nhưng đồng thời thực tiễn cũng tách con người khỏi thế giới tự nhiên, để “làm chủ” tự nhiên, Nói khác đi, thực tiễn “tách” con người khỏi tự nhiên là để khẳng định con người với tư cách là chủ thể trong quan hệ với tự nhiên, nhưng muốn “tách” con người khỏi tự nhiên thì trước hết phải “nối” con người với tự nhiên đã Cầu nối này chính là hoạt động thực tiễn
1.2 Nhận thức và tính chất nhận thức
1.2.1 Nhận thức là gì?
Theo cách hiểu thông thường, nhận thức là một hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức thông qua giác quan, suy nghĩ và kinh nghiệm thực tế
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Trang 7Theo quan điểm của Triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ảnh hiện thức khách quan vào bộ óc người; là quá trình tạo thành tri thức về thế giới khách quan trong bộ óc con người
Nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn
Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực, chủ động, sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử cụ thể
1.2.2 Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khác quan bên ngoài và độc lập với
ý thức con người Đây là nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, cảm giác của con người mặc dù con người có thể chưa biết đến chúng
Hai là, công nhận cảm giác, tri thức, ý thức nói chung là hình ảnh chủ quan của thế giới khác quan Theo chu nghĩa duy vật biện chứng, cảm giác của con người đều là sự phản ánh của hiện thực khách quan, nhưng không đơn thuần là sự phản ánh thụ động, cứng đờ của hiện thực khách quan
Ba là, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra hình ảnh đúng, hình ảnh sai của cảm giác, ý thức nói chung Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng sai của cảm giác, ý thức nói chung, là tiểu chuẩn
để kiểm tra chân lý
1.2.3 Tính chất của nhận thức
a.Các giai đoạn của nhận thức
Lấy ví dụ, khi bạn ra ngoài và nhìn thấy một ai đó xinh đẹp, suy nghĩ đầu tiên trong đầu của bạn là “Ồ, người đó xinh đẹp quá” – đây là nhận thức lý tính, nhưng sau đó, bạn lại suy nghĩ theo một hướng khác “không biết tính cách của
Trang 8người này thế nào?”- đây là nhận thức cảm tính Để hiểu rõ hai khái niệm này, ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu những khái niệm bên dưới
Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, nhận thức của con người đi lên
từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức ấy được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong như sau:
Giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức là nhận thức cảm tính, hiểu một cách đơn giản thì nhận thức cảm tính là cái nhìn ban đầu về bên ngoài của sự vật hiện tượng Là giai đoạn mà con người sử dụng các gian quan của mình để tác động đến sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy Nhận thực cảm tính còn có thể được chia thành các hình thức như sau:
Cảm giác: là nguồn gốc của mọi nhận thức, là hình thức phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người, là kết quả của quá trình chuyển hóa từ năng lượng kích thích thành yếu tố ý thức
Tri giác: là hình thức nhận thức đầy đủ hơn so với cảm giác và là sự tổng hợp của các cảm giác, phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi sự vật đó tác động trực tiếp vào giác quan của con người Bên trong tri giác, bao gồm cả hai của thuộc tính của sự vật đó là đặc trưng và không đặc trưng Tuy nhiên nhận thức yêu cầu phải phân biệt rõ ràng giữa hai thuộc tính đó kể cả khi sự vật không tác động trực tiếp lên giác quan con người, chính vì vậy nhận thức phải phát triển thành hình thức nhận thức cao hơn
Biểu tượng: là hình thức nhận thức phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp lên giác quan con người, hay có thể nói đây
là sự hình dung lại sự vật, hiện tượng Hình thức này được hình thành nhờ sự kết hợp giữa cả hai thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng cùng với sự phối hợp,
Trang 9phân tích, tổng hợp giữa các giác quan với nhau Vì lẽ đó, biểu tượng có thể phản ánh các đặc trưng nổi bật của sự vật
Đặc điểm của các giai đoạn:
Phản ánh đối tượng một cách trực tiếp
Phản ánh bề ngoài của đối tượng, các yếu tố ngẫu nhiên và tất nhiên và cả bản chất của đối tượng
Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm đó vẫn tồn tại hạn chế nhất định đó là chưa thể khẳng định được các mối liên hệ bản chất tất yếu bên trong các đối tượng sự vật
Và để khắc phục được điều đó, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về nhận thức lý tính
Giai đoạn tiếp theo của quá trình nhận thức đó là nhận thức lý tính, là nhận thức được hình thành thông qua suy nghĩ, tư duy từ nhận thức cảm tính Đây là giai đoạn phản ánh khái quát sự vật một cách gián tiếp và trựu tượng, được thể hiện thông qua khái niệm ,phán đoán và suy luận Chính vì yếu tố trừu tượng nên giai đoạn này còn có thể được gọi là tư duy trừu tượng
Khái niệm: đây là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, phản ánh đặc tính , bản chất của sự vật hiện tượng Là cơ sở để hình thành phán đoán và tư duy khoa học
Phán đoán: là một hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, thuộc tính của đối tượng
Suy luận: là một hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra một phán đoán nhằm để kết luận tìm ra tri thức mới
Đặc điểm của giai đoạn:
Là quá trình có thể vừa nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng vừa có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng
Nhận thức cảm tính và lý tính luôn phải đi đôi với nhau, không thể tách rời nhau Nếu không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính, không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất của sự vật
Trang 10Giai đoạn cuối cùng của quá trình nhận thức đó là nhận thức trở về thực tiễn,
là quá trình kiểm nghiệm đúng hay sai của tri thức, đây chính là vai trò của thực tiễn Mục đích của nhận thức không chỉ để giải thích mà còn để cải tạo thế giới, vì thế nhận thức ở giai đoạn cuối cùng này hướng đến thực tiễn
b.Phân loại nhận thức
Theo chủ nghĩa duy vật Mác Lênin được phân chia dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng và dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất sự vật
Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức được chia thành hai loại:
Nhận thức kinh nghiệm: là nhận thức được hình nhờ sự quan sát trực tiếp sự vật hiện tượng trong tự nhiên, trong đời sống xã hội hằng ngày, hay trong các thí nghiệm khoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm gọi là tri thức kinh nghiệm: Tri thức kinh nghiệm thông thường: hình thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống, lao động sản xuất Loại tri thức này rất phong phú, nhờ có nó , con người có thể điều chỉnh, thích nghi với đời sống hằng ngày Ví dụ như những câu nói của ông cha ta thời xưa, “ đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối” hay “chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay rào thì râm”, tất cả những câu nói đó đều được đúc kết dựa trên kinh nghiệm của ông cha ta, và được truyền lại cho con cháu đời sau
Tri thức kinh nghiệm khoa học: là tri thức được hình thức sau khi khảo sát các thí nghiệm khoa học, các loại tri thức này rất quan trọng và là cơ sở để hình thành nhận thức khoa học
Hai tri thức này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, luôn đan xen vào nhau để tạo nên sự sinh động, phong phú cho nhận thức kinh nghiệm
Nhận thức lý luận: là nhận thức trừu tượng và khái quát bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng Nhận thức lý luận mang tính chất gián tiếp vì được hình