Đảng lãnh đạo thực hiện đối ngoại, hội nhập quốc tế và biện pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay...4 1.1.. Tình hình biển đảo hiện nay có những tranh chấp, phức tạpnhất l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục tiêu nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết cấu của đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 4
I Đảng lãnh đạo thực hiện đối ngoại, hội nhập quốc tế và biện pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay 4
1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo và một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng 4
1.1.1 Mục tiêu của Đảng 4
1.1.2 Nhiệm vụ 5
1.1.3 Tư tưởng chỉ đạo của Đảng 5
1.1.4 Một số chủ trương chính sách lớn về mở rộng kinh tế đồi ngoại hội nhập quốc tế của Đảng 6
1.2 Biện pháp trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Đảng và Nhà nước 8
KẾT LUẬN 12
II Vận dụng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay 14
2.1 Đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước hiện nay 14
Trang 32.1.1 Lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa 14
2.1.2 Tình hình chủ quyền biển đảo những năm gần đây (2005-2021), thái độ gây hấn làm leo thang căng thẳng của Trung Hoa 16
2.1.3 Đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước giai đoạn hiện nay, đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước 18
2.2 Quan điểm của các bên trong vấn đề tranh chấp biển, đảo 21
2.2.1 Quan điểm của Việt Nam 21
2.2.1.1 Góc nhìn của Đảng và Nhà nước 21
2.2.1.2 Quan điểm của Đảng về vấn đề tranh chấp biển, đảo 22
2.2.2 Quan điểm của quốc tế 24
2.3 Nhiệm vụ của sinh viên trong góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc 29
2.3.1 Nâng cao nhận thức của bản thân, nghiên cứu, tìm hiểu và học tập kiến thức về biển đảo 29
2.3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tham gia tình nguyện đến các vùng biển đảo 30 KẾT LUẬN 31
PHẦN KẾT LUẬN 33
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn lấy ngoại giao hòa hiếu làm
thượng sách giữ nước Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đối ngoại đi đầu tạo thế “vừa đánh, vừa đàm”, tranh thủ ủng hộquốc tế, phá bao vây cấm vận, mở ra cục diện phát triển mới cho đất nước Ngày nay,trong tiến trình hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại, đã góp phần lớn vào việc vữa giữ ổnđịnh chính trị - xã hội, bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, tối đa lợi ích hóa quốc gia, phục vụphát triển kinh tế, mở rộng thị trường, thu hút công nghệ để đưa đất nước ngày càng pháttriển Việc thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đadạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, ngànhNgoại gia đã khơi thông, mở rộng và đưa quan hệ với nhiều đối tác ngày càng đi vàochiều sâu
Biển, đảo Việt Nam là một trong những yếu tố góp phần quan trọng trong côngcuộc đối ngoại là cửa ngõ giao lưu quốc tế Không những thế nó còn là một bộ phận cấuthành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Đây cũng là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyếnphòng thủ hướng đông của đất nước, tạo khoảng không gian cần thiết giúp kiểm soát việctiếp cận lãnh thổ trên đất liền Tình hình biển đảo hiện nay có những tranh chấp, phức tạpnhất là trước hành động lấn tới của Trung Quốc, việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,đảo đối với nước ta càng đặt ra yêu cầu cao hơn trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc,đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc, nhưng vẫn giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tậptrung cho phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế Trong thực tiễn Đảng lãnh đạo bảo vệ chủquyền biển, đảo đạt nhiều thành công, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhóm em chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo thực
hiện đối ngoại, hội nhập quốc tế và biện pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay” để nghiên cứu.
Trang 52 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo thực hiện đối ngoại, hội nhập quốc tế và biện pháp bảo
vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay
Thứ hai, vận dụng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Đảng và Nhà
nước
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo, một số chủ trương, chínhsách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng và vận dụng trong bảo
vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay
4 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, nêu mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo và một số chủ trương, chính
sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng
Thứ hai, đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyên biển, đảo; quan điểm của các bên trong
vấn đề tranh chấp biển, đảo và các biện pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam củaĐảng và Nhà nước
Thứ ba, nhiệm vụ của sinh viên trong góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ
quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất là
phương pháp lịch sử - logic;…
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 phần nộidung chính:
Trang 6Một là, Đảng lãnh đạo thực hiện đối ngoại, hội nhập quốc tế và biện pháp bảo vệ
chủ quyền biển, đảo và Tổ quốc hiện nay
Hai là, vận dụng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay.
Trang 7Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói ”ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì
là mục tiêu cao nhất của đối ngoại Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (năm 2003) lần
đầu tiên nêu rõ các thành tố cơ bản của lợi ích quốc gia- dân tộc Từ Đại hội XI (năm2011), Đảng khẳng định lợi ích quốc gia- dân tộc là mục tiêu cao nhất của đối ngoại,trong đó lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc thống nhất với nhau trong lợi
ích quốc gia- dân tộc.
Đại hội XIII khẳng định "bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc", tức là đặt
lợi ích quốc gia- dân tộc lên trước hết và trên hết; đồng thời, chỉ ra nguyên tắc chung làphải luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia- dân tộc tới mức cao nhất có thể Bảo đảm caonhất lợi ích quốc gia- dân tộc không có nghĩa nước ta theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ Đạihội XIII nhấn mạnh thúc đẩy lợi ích quốc gia- dân tộc phải "trên cơ sở các nguyên tắc cơbản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng cólợi", cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay, lợi ích quốc gia- dân tộc cao nhẩt là bảo vệ vững chắcđộc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân vàchế độ XHCN; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước;bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, Đại hội XIII bổ sung bảo đảm anninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xã hội trật tự, kỷ cương cũng là những lợi
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, t.5, tr.290
Trang 8ích quan trọng của quốc gia- dân tộc Các thành tố nói trên có quan hệ chặt chẽ, tương
hỗ và thống nhất với nhau, không thể coi nhẹ thành tố nào, đồng thời là căn cứ quan
trọng nhất để xác định đối tác- đối tượng, hợp tác- đấu tranh trong đối ngoại, là "bất biến"
để ứng phó với tình hình diễn biến nhanh, phức tạp
1.1.2 Nhiệm vụ
Trong thời kỳ đổi mới, đối ngoại luôn thực hiện nhiệm vụ bao trùm và thường
xuyên là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi
cho công cuộc đổi mới và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước Nhiệm vụ này đượcnhận thức ngày càng sâu sắc qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng Nghị quyết 13 Bộ Chính trịkhóa VI (năm 1988) khởi đầu quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại, đề ranhiệm vụ tranh thủ ủng hộ quốc tế và xu thế quốc tế hóa để phát triển đất nước Đến Đạihội XII (năm 2016), Đảng khẳng định rõ nhiệm vụ của đối ngoại gồm ba thành tố anninh, phát triển và vị thế đất nước
1.1.3 Tư tưởng chỉ đạo của Đảng
Trong hơn 35 năm đổi mới, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại của dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hòa bình, hợptác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Đại hội lần thứ XII của Đảng đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.161-162
Trang 91.1.4 Một số chủ trương chính sách lớn về mở rộng kinh tế đồi ngoại hội nhập quốc tế của Đảng
Để đối ngoại phát huy vai trò tiên phong và hoàn thành tốt các định hướng, nhiệm
vụ nói trên, Đại hội XIII đề ra chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại
với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”1 Chủtrương mới này phản ánh sự trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam doChủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đồng thời cũng là một yêu cầu mới vừa mang tính chiếnlược, lâu dài, vừa mang tính cấp thiết đối với đối ngoại và ngành ngoại giao trong bốicảnh mới
Từ chủ trương “thêm bạn, bớt thù”, Đảng đã phát triển thành hệ thống quan điểm, phương châm chỉ đạo xuyên suốt đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới là nhất quán thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đaphương hóa, đa dạng hóa; "là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm củacộng đồng quốc tế"; nắm vững hai mặt đối tác- đối tượng, vừa hợp tác, vừa đấu tranh;kiên định nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, nhưng linh hoạt, khôn khéo về sách lược, “dĩ
bất biến, ứng vạn biến”… Cơ chế thực hiện đối ngoại là phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng
giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân dưới sự lãnh đạo thốngnhất của Đảng và quản lý tập trung của Nhà nước
Với nhận thức Việt Nam là một bộ phận của thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế (Đạihội IX) được triển khai mạnh mẽ, sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác và hình thành
chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế (Đại hội XI) Chủ trương này là định
hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sự nghiệp của toàn dân và cả hệthống chính trị Nhận thức về quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ngày càngsâu sắc, trong đó nhất quán kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực làquyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng
1 “Nền ngoại giao” ở đây được hiểu tương đương với đối ngoại, gồm đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Trang 10Đối ngoại song phương và đa phương từng bước điều chỉnh, bổ sung và hoàn
thiện Từ “tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước
sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi Từ tham gia các diễn đàn quốc tế đến “nỗlực vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt hoặc hòa giải tại các diễn đàn, tổ chức đa
Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cựchội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng là định hướng bao trùm của đối ngoại trong giai đoạnphát triển mới của đất nước:
Thứ nhất, tính đồng bộ thể hiện ở sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa
các trụ cột đối ngoại, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đốingoại nhân dân, giữa các mối quan hệ với các đối tác, các lĩnh vực, nhất làđối ngoại quốc phòng, an ninh, giữa song phương và đa phương…
Thứ hai, tính sáng tạo đòi hỏi đối ngoại không ngừng đổi mới, linh hoạt,
khôn khéo xử lý các vấn đề phức tạp, tìm hướng đi, cách làm mới với “tinhthần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi những tư duy, những lĩnh vựcquen thuộc để có suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tới tầm khu
tắc, kiên định mục tiêu chiến lược
Thứ ba, tính hiệu quả thể hiện ở việc đưa các quan hệ đối ngoại đi vào
chiều sâu, thực chất, thiết thực, huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lựcbên ngoài với nguồn lực trong nước để phục vụ tốt nhất phát triển đất nước
và bảo vệ Tổ quốc Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới đặt rayêu cầu ngày càng cao về tăng cường tính đồng bộ, sáng tạo và hiệu quảtrong hoạt động đối ngoại
1 ĐCS Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2019, Phần I, tr.97.
2 Chỉ thị 25 của Ban Bí thư khóa XII.
3 Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 30, tháng 8/2018.
Trang 11Về hội nhập quốc tế, Đại hội XIII đặt ra yêu cầu về tính “toàn diện” và “sâu
rộng” Đó là, hội nhập quốc tế qua tất cả các kênh Đảng, Nhà nước và nhân dân, song
phương và đa phương, ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực Không chỉ rộng mở vềkhông gian, hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, triển khai các cam kết quốc tế,trong đó thực hiện hiệu quả các cam kết sâu rộng của các FTA thế hệ mới, “chủ độngtham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hìnhcác thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế” vì lợi ích quốc gia- dân tộc vàlợi ích chung của cộng đồng quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chươngLiên hợp quốc và luật pháp quốc tế
1.2 Biện pháp trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Đảng và Nhà nước
Một là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có
trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tếbiển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế Để kinh tế phát triểntương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng,
an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai tháchải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; hoàn thiện hệ thốngchính sách, pháp luật về biển theo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng
bộ, thống nhất, phù hợp thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững,tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạtđộng khai thác mang tính hủy diệt
Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triểncác ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác
và chế biến hải sản chất lượng cao Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâmkinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ,xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v Phát triển kinh tế các đảo,đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ,giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị,trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị
Trang 12thế của Việt Nam trên trường quốc tế Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình,
dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạchđịnh cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển
Hai là, xây dựng và tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi
pháp luật trên biển Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và cáchoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân
tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
là yêu cầu bức thiết hiện nay Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyêntrách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cácvùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa
và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển
và chốt giữ các đảo xa bờ Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duytrì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế,tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài
Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đápứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệnạn xã hội trên các vùng biển Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châmvững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trênđảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt;
tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến:ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển Kiểm ngư là lực lượng được
tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử
lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và cóvai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc Đầu
tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủquyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đấtnước Xây dựng lực lượng công an khu vực ven biển, đảo, các khu đô thị, khu kinh tế,
Trang 13khu công nghiệp ven biển vững mạnh, làm nòng cốt bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, antoàn xã hội vùng biển, đảo; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thếtrận an ninh nhân dân vùng biển, đảo.
Ba là, kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa
bình trên cơ sở luật pháp quốc tế Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũngnhư tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủcác quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinhbằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàmphán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đángcủa tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòabình, ổn định khu vực và quốc tế Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng,tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quanđến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa cácbên có liên quan Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháphòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trênbiển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”;kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không cóhoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũlực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc củaluật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lựcxây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tộiphạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xửCOC để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và pháttriển Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tàiphán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợpvới quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
Bốn là, chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về
biển Đối ngoại quốc phòng là vấn đề quan trọng diễn ra chủ yếu trong thời bình và cả
Trang 14khi có tình huống chiến tranh, thực hiện tốt vấn đề này góp phần vừa giữ vững độc lập,chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, ổn định trên Biển Đông, vừa duy trì sự ổn địnhchính trị - xã hội trong nước và môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế Thựchiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, điều quan trọngtrước hết là hợp tác chặt chẽ trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt là giữa quốc phòng, an ninh vàđối ngoại Các ngành chức năng, trọng tâm là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoạigiao cần xây dựng, hoàn thiện quy chế phối hợp, trọng tâm là công tác nghiên cứu cơbản, phân tích dự báo chiến lược về tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng diễn biếncủa mối quan hệ quốc tế, về đối tác, đối tượng của cách mạng Tăng cường mở rộng quan
hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước trong khu vực và các nước lớn trênthế giới để tăng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế
về quản lý, sử dụng, bảo tồn bền vững biển, đại dương; thực hiện nghiêm túc các điềuước, thoả thuận khu vực và quốc tế về biển, đại dương mà Việt Nam đã tham gia; nghiêncứu tham gia các điều ước quốc tế quan trọng về biển, trước mắt ưu tiên các lĩnh vực vềquản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển; đẩy mạnh tham gianghiên cứu khoa học, khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng biển quốc tế
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của
Tổ quốc Xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tàiliệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở venbiển, trên đảo, ngư dân làm ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài Phối hợp chặt chẽgiữa các bộ, ngành, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chỉ đạotập trung, thống nhất của các cơ quan chức năng Trung ương trong công tác tuyên truyền
về chủ quyền biển, đảo Bên cạnh đó cần thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọingười dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới hiểu cơ sởpháp lý, chứng cứ lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo
ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đềchủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, đồng thuận củacộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới để
Trang 15bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển Cùng với công táctruyên truyền về biển, đảo, cần kết hợp với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, làmcho ngư dân hiểu rõ các quy định trong luật biển Việt Nam và pháp luật quốc tế, nhất làCông ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, làm cho ngư dân không chỉ chấp hành,
mà còn kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của tàu, thuyền nước ngoài ởvùng biển Việt Nam Cần sớm đưa các nội dung về chủ quyền biên giới, lãnh thổ, biển,đảo vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học; phổ biến rộng rãi trong cộng đồngngười Việt Nam và quốc tế về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên biển
KẾT LUẬN
Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sởvận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac - Lenin, kế thừa và pháthuy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọctinh hoa văn hoá thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên mộttrường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh,
mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm
đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam Đó là: Mềm mại, khôn khéo,nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, cantrường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhândân Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc Biếtnhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứngbiến”, “lạt mềm buộc chặt” Biển, đảo nước ta đã góp phần rất lớn trong công cuộc hộinhập kinh tế đối ngoại, là cửa ngõ giao thông quan trọng góp phần thúc đẩy tang trưởngkinh thế, vì những lợi thế đó luôn là miếng mồi béo bở của các nước lớn Trước nhữngdiễn biến mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, khu vực trên Biển Đông, đòi hỏi toànĐảng, toàn dân, toàn quân phải nâng cao cảnh giác, chủ động nắm chắc, dự báo chính xácmọi động thái, ngăn ngừa nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, kiên quyết không đề mất dùlag một sải biển, một tấc đảo Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm của
Trang 16toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; yếu tố quan trọng để đất nước phát triển bền vững.Trong bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ chủ quyềnbiển, đảo, nước ta đã đề ra những giải pháp là: xây dựng và thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế biển toàn diện; tăng cường sức mạnh quốc gia xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân trên biển vững mạnh; kiên quyết, kiên trì giair quyết tranh chấp trên biển, đảobằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; chủ động tang cường và mở rộngquan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyềnbiển, đảo thiêng liêng Tổ quốc.
Trang 17II Vận dụng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay
2.1 Đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước hiện nay
2.1.1 Lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
Biển đảo Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủquyền của người Việt Nam Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử dân tộc qua cácquá trình khai phá biển cả của ông cha ta Các tư liệu khoa học và pháp lý được công bốhiện nay, đều thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục củaViệt Nam Nhiều thế kỷ nay, ít nhất là từ thế kỷ 17, Việt Nam đã xác lập, thực hiện chủquyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo này còn là vô chủ,thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo một cách hòa bình, liên tục và không gặp phải
sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào
Ngày nay, tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới vẫn còn lưu giữ nhiều tư liệu,sách cổ, văn bản pháp lý của nhà nước, bản đồ thể hiện việc thực thi, xác lập chủ quyềncủa các nhà nước phong kiến Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa(toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá Tự công đạo (1686); Phủ biên tạp lục của
Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776; Hoàng việt địa dư chí (1833); Đại nam thực lục tiềnbiên (1844 – 1848); Đại nam thực lục chính biên (1844 – 1848); Việt sử cương giám khảolược (1876); Đại nam nhất thống chí (1882); Dư địa chí khâm định đại nam hội điển sự lệ
Không chỉ xác lập chủ quyền từ hàng trăm năm trước, chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được tái khẳng định bởi thực dân Pháptrong thời kỳ cai trị và cộng đồng quốc tế trong những năm đầu TK XX Tại Hội nghị hòabình San Francisco năm 1951, phái đoàn Quốc gia Việt Nam tham gia Hội nghị đã ratuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa Ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Quốc
1 Kim Nhiên (2014), Chủ quyền Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bài báo điện tử đăng trên
công thông tin điện tử Cà Mau www.camau.gov.vn
Trang 18gia Việt Nam đã ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao của các nước thành viên Liên hợp
Sau khi ký hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 Pháp đã chuyển giao hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Sài Gòn Sau năm 1975, nước Việt Nam thốngnhất, nhà nước CHXHCN Việt Nam quản lý các đảo ở Trường Sa và luôn khẳng định chủquyền đối với quần đảo Hoàng Sa
Theo phương thức thụ đắc lãnh thổ, một quốc gia được coi là có chủ quyền đối vớimột vùng lãnh thổ khi quốc gia đó chứng minh được mình chiếm hữu, thực thi, quản lý
và khai thác lãnh thổ đó với tư cách Nhà nước một cách hòa bình ổn định liên tục trongthời gian dài Theo đó, Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa từ những năm cuối TK XVII cho đến tận ngày nay hoàn toàn phù hợpvới các quy định của luật pháp quốc tế
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc đánh chiếm vào các năm
1956 và 1974; một số bãi ngầm ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc đánhchiếm bằng vũ lực vào năm 1988 Bất cứ hành động chiếm đóng bằng vũ lực nào ở quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa đều vi phạm nghiêm trọng hiến chương Liên hợp quốc vàcác chuẩn mực của pháp luật quốc tế Năm 1947, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đưa rayêu sách chủ quyền trên Biển Đông với đường lưỡi bò 11 đoạn, sau này chính phủ Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng lại đường lưỡi bò này nhưng chỉ còn 9 đoạn Đườnglưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông (biển Nam TrungHoa) là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi Macclesfield
bao giờ nhượng bộ và từ bỏ thủ đoạn nắm trọn biển Đông thông qua chính sách ĐườngLưỡi Bò
1 Nguyễn Thanh Minh (2017), Về một số hội nghị quốc tế liên quan đến chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa và
Trường Sa (1943-51), đăng trên trang điện tử nghiencuuquocte.org
2 Wikipedia, Tranh chấp chủ quyền Biển Đông – Tuyên bố lãnh hải, vi.wikipedia.org
Trang 192.1.2 Tình hình chủ quyền biển đảo những năm gần đây (2005-2021), thái độ gây hấn làm leo thang căng thẳng của Trung Hoa
Hành động đánh chiếm ngang ngược của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam đã gây ra nhiều bất ổn cho khu vực BiểnĐông Việc đánh chiếm của Trung Hoa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của ViệtNam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm quyền chủ quyền, quyềntài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam, trái với tinh thần Tuyên bố vềứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làmcho tình hình Biển Đông thêm phức tạp
Những năm gần đây (2012-2021), nền kinh tế Trung Quốc đạt được những pháttriển vượt bậc Sau gần hai nhiệm kỳ cầm quyền của Chủ Tịch Tập Cận Bình, TrungQuốc đã vượt Mỹ và trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới, với tài sản ròng lên tới 120nghìn tỷ USD vào năm 2020, so với 90 nghìn tỷ của Mỹ Vượt lên là nền kinh tế có quy
Trung Quốc cơ hội để đầu tư vào quân sự, thể hiện cường quyền đối với quốc gia khácđang tranh chấp chủ quyền biển đảo ở khu vực Biển Đông Song song với việc lớn mạnhcủa Trung Hoa cũng đi kèm với tần suất hành động gây hấn ngang ngược ngày càng giatang ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Trung Quốc ngang ngược tuyên bố độc quyền khai thác dầu mỏ trong khu vựcĐường Lưỡi Bò và tiến hành các hoạt động quấy rối ngăn chặn việc khai thác dầu mỏhợp pháp của Việt Nam trên chính vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam Các sự kiện tiêubiểu làm leo thang căng thẳng quan hệ Việt-Trung nổi bật như việc Trung Hoa cản trởhợp đồng của BP với Việt Nam trong vùng Nam Côn Sơn (năm 2007), cản trở hợp đồngcủa Exxon Mobil với Việt Nam (năm 2008), vụ căng thẳng giữa tàu thăm dò đại dươngUSNS Impeccable của Mỹ với một số tàu Trung Quốc đầu năm 2009
1 Lê Thế Cương - Nguyễn Thị Phương (2021), Thành tựu kinh tế, xã hội Trung Quốc sau một thập niên cầm quyền
của Chủ tịch Tập Cận Bình (Kỳ 2), đăng trên trang điện tử của Học viện chính trị Công an nhân dân
http://hvctcand.edu.vn/
Trang 20Ngày 26 tháng 5 năm 2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải củaViệt Nam, phá hoại thiết bị và cản trở tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoànDầu khí Quốc gia Việt Nam đang hoạt động tại vùng biển miền Trung chỉ cách mũi ĐạiLãnh của tỉnh Phú Yên 120 hải lý Phía Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc dừng các hànhđộng gây hấn và hành xử theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Quốc tế biển (UNCLOS1982) và yêu cầu bồi thường, nhưng phía Trung Hoa bác bỏ hoàn toàn các cáo buộc vàngang nhiên cho rằng hành động của mình là hợp pháp Ngày 1 Tháng 5 năm 2014, Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực Biển Đông tiến hành khaithác trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, dẫn tới việc nhà nước Cộng hòa Xã hội
Đối với hoạt động khai thác thủy sản, Trung Quốc cấm toàn bộ các hoạt động khaithác đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam trong vùng Đường Lưỡi Bò và tiến hành hàngloạt các hành động đưa các tàu hải cảnh xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam đểbắt bớ, phun vòi rồng vào tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt
Bên cạnh việc khai thác trái phép, Trung Hoa còn thể hiện sự ngang ngược đánhcắp chủ quyền của nhân dân Việt Nam thông qua việc thành lập thành phố thuộc tỉnh HảiNam lấy tên là Tam Sa có phạm vi quản lý 3 quần đảo trên Biển Đông, trong đó có haiquần đảo tranh chấp với Việt Nam: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (màTrung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa)
Bên cạnh Trung Hoa, cũng có nhiều quốc gia giáp biển Đông khác tranh chấp chủquyền với Việt Nam ở nhóm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa như Malaysia,Brunei, Phillipines và Đài Bắc Trung Hoa Việc tranh chấp các đảo thuộc quần đảoTrường Sa cũng như vùng biển chủ quyền đã dẫn đến căng thẳng chính trị giữa các nước
và đặt ra thách thức cho việc đoàn kết các quốc gia thuộc khối ASEAN
Tháng 1/2021, Trung Quốc công bố luật Hải cảnh mới, cho phép lực lượng hảicảnh (cảnh sát biển) Trung Quốc sử dụng vũ khí đối với tàu nước ngoài trong trường hợpcần thiết Động thái mới nhất này của Trung Quốc đã làm dấy lên lo ngại sẽ làm leo thang
1 Wikipedia, Tranh chấp chủ quyền Biển Đông – Các vụ tranh chấp, vi.wikipedia.org