Sổ tay kỹ thuật chế biến bảo quản giống - Phần 5: Côn trùng hại kho có nội dung trình bày giới thiệu chung về tổn thất do côn trùng và các nghiên cứu về côn trùng; đặc điểm của côn trùng hại kho trong bảo quản; tính chất và phương thức ăn hại của côn trùng hại kho; sự tăng trưởng quần thể côn trùng hại kho; đặc trưng về quần thể của côn trùng hại kho; những nguyên nhân lây lan của các loại côn trùng; mức độ nhiễm sâu mọt;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1PHẦN 5 CÔN TRÙNG HẠI KHO
I -TỔN THẤT DO CÔN TRÙNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÔN TRÙNG
1 Tổn thất do côn trùng gây hại
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc - FAO (Food and Agriculture Organization), tổn thất do côn trùng gây hại đối với ngũ cốc dự trữ trên toàn thế giới hàng năm vào khoảng 10%, có nghĩa là 13 triệu tấn ngũ cốc đã bị mất chỉ do côn trùng và 100 triệu tấn đã bị mất giá trị (Wolpert, 1967) Theo Snelson (1987) sự tổn hại ở các vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới cao hơn so với vùng ôn đới
Theo công bố của FAO (Anon, 1979), chỉ kể riêng các kết quả nghiên cứu của các tác giả Mỹ về mất mát ngũ cốc sau thu hoạch vào năm 1967 ở các nước công nghiệp phát triển đã lên tới 42 triệu tấn, tức bằng 95% tổng sản lượng thu hoạch của Canada hay bằng gấp đôi sản lượng lương thực trong năm 1992 của nước ta Ở khu vực Đông Nam Á, những năm qua đã xảy ra một số vụ dịch hại lớn do côn trùng gây ra đối với ngũ cốc, làm tổn thất tới trên 50%
Ngoài thiệt hại về số lượng đã nêu trên, chúng còn làm giảm chất lượng nông sản phẩm và hạt giống làm giảm uy tín hàng hóa trên thị trường
2 Nghiên cứu về côn trùng hại kho
Trên thế giới, việc nghiên cứu về bảo quản nông sản và việc thống kê các thiệt hại do sâu mọt gây ra đã được bắt đầu từ rất sớm và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
Theo Henderson and Chistenson (1961) có hàng trăm loài côn trùng phát sinh trong bảo quản hạt ngũ cốc và hạt giống Chỉ có hơn 50 loài gây hại, trong đó chỉ khoảng hơn 12 loài gây hại nghiêm trọng Chúng phá hoại nội nhũ và phôi, kết quả là chất lượng và khối lượng hạt giảm nghiêm trọng
Theo tác giả Suppakanh (Thái Lan) thì 2 loài mọt được coi là nguy hiểm nhất là mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) và ngài lúa Sitroga cerealella Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã xếp loài Sitophilus oryzae L vào loài đặc biệt nguy hiểm trong số các loài mọt hại kho, tiếp đến là loài mọt đục hạt Rhizopertha dominica F., mọt lúa đỏ Tribolium catareum H., Sitboroga cerealella O
Người ta còn nhận thấy, côn trùng là 1 yếu tố quan trọng làm phát triển việc sản sinh ra mycotoxin bởi vì chúng có thể tiếp nhận, mang và vận chuyển các vi sinh vật, mà những vi sinh vật này có khả năng sản sinh ra mycotoxin Ragunathan
Trang 2và cộng sự (1974) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa nấm trong kho với mọt gạo nhận thấy chỉ có giai đoạn trứng là không nhìn thấy nấm, còn điều phát hiện thấy nấm Asperguus ochnacerus, Aspergilus flavus và các nấm khác ở giai đoạn ấu trùng, nhộng và trưởng thành Đặc biệt là tìm thấy trong phân của chúng rất nhiều bào tử nấm Tác giả cho biết mọt trưởng thành sống trong kho dự trữ đậu đỗ thường mang nấm Aspergilus setrictus nhưng khi sống trong kho lúa mì và gạo lại chủ yếu tìm thấy Aspergilus flavus Mức độ nhiễm nấm ở giai đoạn trưởng thành thay đổi từ 20-100% số cá thể Từ đó, chúng ta thấy rằng côn trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm lan truyền nấm bệnh
Theo Christensen (1957) côn trùng luôn luôn là sinh vật gây hại cho hạt giống trong khi bảo quản, nếu ẩm độ hạt giống thấp hơn 8-9%, thì nhiều loại côn trùng và nhất là mọi vi sinh vật đều không thể sinh sản được và sẽ chết đi trong khi bảo quản Côn trùng thích nghi với nhiệt độ dưới 15,5 0C và có thể sống sót ở nhiệt độ 41,70C (Wimberly, 1983)
Ở nước ta, việc nghiên cứu sâu mọt hại kho so với thế giới muộn hơn và kết quả cũng còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau Để đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp, đã có những công trình nghiên cứu được thực hiện mà kết quả bước đầu thu được rất đáng khích lệ
Công trình nghiên cứu của Cục Bảo vệ Thực vật cho biết, trong quá trình kiểm tra hàng xuất nhập khẩu đã phát hiện 80 loài côn trùng thuộc 30 họ, 7 bộä khác nhau, trong đó có 32 loài phổ biến và có tác hại lớn trên hàng hóa xuất nhập khẩu Cũng theo Cục Bảo vệ Thực vật, trong thời gian từ tháng 3 năm 1990 đến tháng 6 năm 1990, Cục đã tiến hành điều tra 253 kho với số lượng hàng hóa cất giữ là 178 -
222 tấn/kho gồm lúa, gạo, tấm, cám và thức ăn gia súc của 18 tỉnh thành phố trong cả nước Kết quả nhận thấy mật độ xuất hiện của mọt khá cao, có nơi 1.200 con/kg sản phẩm (yêu cầu < 7 con/kg)
Theo Bùi Công Hiển (1995), các côn trùng hại kho ở trong điều kiện Việt Nam ngưng hoạt động ở ẩm độ không khí dưới 50% và ngưng sinh sản ở ẩm độ duới 35% Chúng hoạt động sống ở nhiệt độ 50C, bắt đầu sinh sản ở 120C, nhưng sẽ chết ở nhiệt độ 39-400C
Trong thương mại hiện nay, yêu cầu về chất lượng và mẫu mã của nông sản và hạt giống ngày càng cao Điều đó đòi hỏi chúng ta phải quan tâm, đầu tư hơn nữa cho công tác chế biến bảo quản sau thu hoạch nói chung và các nghiên cứu đầy đủ hơn nữa về côn trùng gây hại trong kho ở Việt Nam nói riêng
II – ĐẶC ĐIỂM CÔN TRÙNG HẠI KHO BẢO QUẢN
1 Đặc điểm của côn trùng hại kho trong bảo quản
Côn trùng là ngành động vật chân đốt (có 3 đôi chân), cơ thể có 3 phần: đầu, ngực, bụng
Trang 3Côn trùng có nhiều loại, thuộc loại đa thực (ăn được nhiều loại hạt ngũ cốc) Mọt có khả năng nhịn ăn rất tốt, có khả di chuyển xa để kiếm ăn Khả năng thích ứng rộng với dải nhiệt độ và ẩm độ của môi trường Sức sinh sản nhanh, trong điều kiện thuận lợi, chúng tăng trưởng rất nhanh về số lượng nên sức phá hại rất ghê gớm, rất khó tiêu diệt chúng triệt để Côn trùng phân bố rộng, dễ thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau
Trong quá trình sinh trưởng đều phải qua một hình thức biến thái nhất định Hầu hết côn trùng hại kho đều đẻ trứng Trong quá trình phát triển, để thực hiện 1 vòng đời, côn trùng phải trải qua một trong hai quá trình biến thái như sau:
* Biến thái không hoàn toàn: Trứng Thiếu trùng Trưởng thành
* Biến thái hoàn toàn: Trứng Ấu trùng Nhộng Trưởng thành
Phần lớn côn trùng hại kho thuộc loài biến thái hoàn toàn (hình 5.1)
2 Tính chất và phương thức ăn hại của côn trùng hại kho
Phần lớn côn trùng hại kho có khả năng ăn hại nhiều loại nông sản, mức độ gây hại tùy theo loài côn trùng và đối tượng phá hoại, chẳng hạn mọt gạo phá hại nghiêm trọng lúa, gạo, bắp, lúa mì nhưng lại ít phá các loại hạt cây họ đậu Thí nghiệm nuôi 10 đôi mọt gạo trong hỗn hợp các loại: lúa, gạo, bắp, mì, đậu xanh, đậu đen, sau 60 ngày, tỷ lệ các hạt bị hại thể hiện ở bảng 5.1
Bảng 5.2: Tỷ lệ các hạt ngũ cốc bị hại
3 Sự tăng trưởng quần thể côn trùng hại kho
- Đa số các loài côn trùng hại kho có khả năng tăng số lượng cá thể với tốc độ cực kỳ nhanh Ví dụ: Giống Sitophilus trong vòng 5 tuần đã tăng số lượng cá thể lên hàng trăm lần
- Vào giai đoạn xâm nhiễm, mức tăng trưởng của quần thể theo cấp số nhân Nghĩa là tốc độ gia tăng cá thể trong quần thể tỷ lệ với số cá thể có mặt và tăng dần theo thời gian
- Khi quần thể cứ tiếp tục tăng trưởng mãi nhưng nguồn thức ăn bắt đầu cạn kiệt thì côn trùng rời khỏi khu vực hàng hóa đã bị xâm nhiễm nặng và di cư tìm nguồn thức ăn mới, từ đó hình thành khu vực gây hại mới
4 Đặc trưng về quần thể của côn trùng hại kho
Các nhà sinh thái học động vật đều nhận thức rằng: sự gia tăng quần thể và sự xâm nhiễm là đặc điểm điển hình của nhiều loài côn trùng khi chúng xâm nhiễm và không có nơi ở ổn định Chúng được gọi là “sự lựa chọn tăng tốc” Ngược lại, những động vật được gọi là “sự lưa chọn ổn định” lại tồn tại theo các đặc tính đối lập Sự tồn tại của hai thể này có các đặc tính khác biệt:
Trang 4
Nhóm “sự lưa chọn tăng tốc”
+ Sản sinh một số lượng lớn con cái
+ Sinh sản sớm
+ Thời gian phát triển ngắn
+ Kích thước cơ thể nhỏ
+ Có tốc độ sinh trưởng nội tại cao
Nhóm “sự lựa chọn ổn định”
+ Sinh sản ít
+ Khả năng sinh sản chậm
+ Thời gian phát triển rất dài, tuổi thọ cao
+ Kích thước cơ thể lớn
+ Có tốc độ sinh trưởng nội tại thấp
Hình 5.1: Vòng đời của côn trùng
Trang 5Như vậy, đa số côn trùng hại kho thuộc nhóm động vật “sự lựa chọn tăng tốc” Chúng có khả năng:
+ Tạo lập những quần thể ở môi trường mới chỉ với một vài cá thể ban đầu, tăng tiến nhanh chóng và cuối cùng hủy hoại chính môi trường sống đó
+ Dễ dàng tạo ra sự bùng nổ số lượng cá thể trong môi trường thuận lợi một cách nhanh chóng
+ Những quần thể còn sống sót tìm đến những môi trường thích hợp để quần tụ và phát triển, hủy hoại môi trường vô cùng nhanh chóng đến nỗi các kẻ thù tự nhiên không thể kìm hãm nổi chúng
Thực tế nhận thấy, các vật ăn thịt và ký sinh tồn tại trong kho chỉ hạn chế phần nào sự gia tăng của quần thể côn trùng gây hại, bằng chứng là khi thấy được sự phát triển của các vật ăn thịt và ký sinh trong kho thì cũng là lúc sự thiệt hại đã rõ ràng
Do vậy, biện pháp phòng trừ chỉ có thể được áp dụng khi kết hợp với các biện pháp khác (IPM) nhằm tác động đến sinh học của các loài gây hại
5 Những nguyên nhân lây lan của các loại côn trùng
- Có những loại côn trùng vừa phá hại nông sản ở ngoài đồng lẫn trong kho, hoặc có những loài ăn hại trong kho ra ăn hại ngoài đồng và khi thu hoạch chúng lại xâm nhập vào nông sản sẽ được đưa vào bảo quản Một số loài ăn hại trong kho nhưng ra ngoài đồng đẻ trứng ở bông, nhị, hạt, quả,…
- Trong bảo quản, các kho tàng và dụng cụ bảo quản nông sản do không được vệ sinh vô trùng nên côn trùng ẩn nấp trong các khe kẽ, các chỗ nứt nẻ, chỗ kín, khi có điều kiện thuận lợi chúng phát triển ngay để phá hại
- Côn trùng lây lan theo các phương tiện vận chuyển, thông qua các sản phẩm đã được chuyển từ nơi này đến nơi khác
- Một số loài gặm nhấm, chim chóc bị côn trùng bám vào và trở thành vật mang côn trùng, làm lây lan khi chúng vào kho phá hại
6 Mức độ nhiễm sâu mọt
Để tính mức độ nhiễm sâu mọt, người ta xác định lượng sâu mọt trong 1 kg hạt và xác định thành phần sâu mọt
- Nếu bảo quản dạng khối rời thì xác định ở lớp mặt (dày 30cm) ở điểm gần cửa, điểm sát tường và điểm giữa kho
- Nếu bảo quản bao thì xác định ở lớp bao trên mặt đống, lớp giữa và lớp sát kho
Thời gian kiểm tra 15 – 30 ngày/lần tùy theo mức độ nhiễm sâu mọt của lô
Trang 6II- ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VẬT LÝ ĐẾN CÔN TRÙNG HẠI KHO
- Sự phát triển và tập tính của côn trùng bị chi phối bởi các điều kiện vật lý trong môi trường mà chúng đang sinh tồn
- Hầu hếát các ảnh hưởng vật lý có tác động vào các đặc điểm sinh học của côn trùng theo tỷ lệ tương quan thật của chúng (tác động mang tính số lượng)
- Những ảnh hưởng cũng có thể làm thay đổi hoặc chi phối tập tính của côn trùng
1 Nhiệt độ: Aûnh hưởng quan trọng tới sự vận động và phát triển của côn trùng
- Nhiệt độ thấp: sự phát triển cá thể chậm, tỷ lệ chết cao, tốc độ tăng trưởng của quần thể thấp
- Nhiệt độ tăng lên thì tỷ lệ chết giảm và tốc độ tăng trưởng cao nhưng nhiệt độ cao sẽ làm mọt chết ở nhiệt độ 39-400C
- Tất cả các loài đều có nhiệt độ tối ưu giúp cho sự tăng trưởng đến mức cực đại Khi vượt qua nhiệt độ tối ưu thì các điều kiện trở nên tương đối không thuận lợi cho sự phát triển của quần thể côn trùng
- Tất cả các loài hại kho nhiệt đới có nhiệt độ tối ưu ở mức 25 – 350 C (khi nhiệt độ giảm < 200 C làm giảm tốc độ phát triển)
2 Thủy phần
- Là hàm lượng nước tự do có trong hạt giống (hạt giống này đã bị côn trùng xâm nhiễm) Thủy phần hạt có ảnh hưởng tương tự như nhiệt độ đến sự phát triển của côn trùng
- Thủy phần hạt giống thấp không giết chết côn trùng, chúng vẫn tồn tại với tốc độ phát triển hạn chế
- Thủy phần hạt giống cao là điều kiện thuận lợi dẫn đến việc sự phát triển của quần thể côn trùng Đồng thời cũng hình thành cạnh tranh với sự phát triển của nấm mốc và các VSV khác
3 Ẩm độ tương đối
- Có quan hệ mật thiết với thủy phần thức ăn của mọt (nông sản) thông qua việc tồn tại sự cân bằng giữa thủy phần hạt và ẩm độ tương đối của không khí
- Trên bề mặt khối hàng (bảo quản dạng xá), ẩm độ tương đối bao quanh có thể thấp hơn nhiều so với dưới sâu khối hàng (nơi độ ẩm bị điều chỉnh bởi thủy phần của nông sản) nên hiếm khi gặp ấu trùng và nhộng trên bề mặt khối hàng trong điều kiện khô ráo
4 Ảnh hưởng của tổ hợp nhiệt độ và ẩm độ tương đối đến sự phát triển của côn trùng
- Nhiệt độ và ẩm độ tác động tương hỗ lên côn trùng gây hại
Trang 7- Tổ hợp này có thể hoạt động tạo ra các điều kiện phức hợp khác nhau cho những loài khác nhau (có loài ưa nóng, khô; có loài ưa điều kiện lạnh và ẩm)
5 Ảnh hưởng của tổ hợp nhiệt độ và thủy phần hạt đến tập tính của côn trùng
Tổ hợp nhiệt độ và thuỷ phần có thể gây ra nhiều điều kiện môi trường bất lợi cho côn trùng khiến chúng phải di chuyển đến những chỗ thuận lợi để sinh sống Ví dụ: Lớp không khí ngay dưới mái kho ban ngày vào mùa hè có nhiệt độ 400C , ẩm độ tương đối xung quanh có thể rất thấp trong mùa khô; ban đêm nhiệt độ kho có thể hạ xuống rất thấp dẫn đến sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm Vì thế, giai đoạn côn trùng vận động sẽ không tự cho phép mình tiếp tục ở nơi có các điều kiện đó mà chúng di chuyển đến những chỗ thuận lợi để sinh sống
Ví dụ: Thời điểm hoạt động đỉnh cao của Ngài thóc hại kho xảy ra trên bề mặt
khối hàng là vào lúc bình minh và chập tối Từ đó gợi ý cho ta nên phun thuốc trừ sâu vào thời gian mà hoạt động của chúng đạt đỉnh cao thì sẽ có hiệu quả nhất
7 Các dạng hàng hóa, bao gói và cấu trúc kho
- Đa số côn trùng có khả năng tồn tại trong kho đều có thể xâm nhiễm vào một lớp sâu của hàng hóa
- Sản phẩm được dự trữ trong kho ở hình thức đóng bao bảo quản hở càng làm tăng khả năng xâm nhiễm của mọt vào các tầng sâu bên trong
- Các dạng bao PE chỉ hạn chế sự xâm nhập chứ không thể ngăn chặn mọt xâm nhiễm Người ta sử dụng bao nhôm có thể ngăn chặn được mọt xâm nhập
- Các kẽ nứt trong cấu trúc kho; thiết bị sấy, chế biến,… thường là nơi trú ngụ quan trọng của côn trùng hại kho
8 Thông thoáng khí
- Hiện nay, ảnh hưởng của việc thông thoáng khí lên đời sống của côn trùng hại kho chưa được nghiên cứu đầy đủ Tuy nhiên, chắc chắn mức độ ôn hòa của vận động không khí sẽ tác động tới vi khí hậu chung quanh khối hàng giúp hạn chế sự phát triển của nấm mốc
- Việc thay đổi vi khí hậu sẽ tác động đến đời sống côn trùng và vi sinh vật trong kho
Trang 8III - CÁC KIỂU Ổ SINH THÁI CÔN TRÙNG HẠI KHO
Căn cứ vào khả năng sinh sống của côn trùng hại kho, chúng ta có thể chia thành ba mức độ sinh thái như sau:
1 Những loài có ổ sinh thái gần người
Có một số loài côn trùng không thể sống tốt ngoài môi trường tự nhiên được mà phải đòi hỏi điều kiện sinh thái nhất định gắn liền với không gian được con người xây dựng và bảo vệ
Ví dụ: loài mọt thóc (mọt lúa mì – Sitophilus granarius L.), mọt xén tóc
(Hylotrupes bajulus L.), mọt đục bìa sách (Anobium punctatum De Geer)
2 Những loài sống trong kho nhưng có giai đoạn phát triển ngoài tự nhiên
Thật ra, côn trùng hại kho là những động vật ngoài tự nhhiên rồi được phát tán vào kho qua quá trình bảo quản và trao đổi hàng hoá
Từ đó, trong công tác phòng trừ côn trùng hại kho, ở từng nơi cụ thể, người ta đề xuất danh sách những côn trùng là đối tượng kiểm dịch Danh sách này chỉ nhằm ngăn ngừa côn trùng gây hại xâm nhập vào những vùng có điều kiện sinh thái thích hợp cho chúng phát triển, tạo ra những vụ dịch lớn
3 Những loài sống ở ngoài tự nhiên, do chủ động hoặc bị động xâm nhiễm vào kho phá hại
Là những côn trùng mà toàn bộ cuộc sống của chúng không phụ thuộc vào kho, chúng tồn tại độc lập bên ngoài tự nhiên, nhưng trong hoàn cảnh nào đó đã xâm nhập vào kho gây hại
IV - GIỚI THIỆU MỘT SỐ LOÀI CÔN TRÙNG HẠI KHO PHỔ BIẾN
1 Mọt gạo (Sitophilus oryzae L.)
1.1- Phân bố và tác hại
Phân bố khắp thế giới, đặc biệt là các nước nhiệt đới Mọt gạo ăn hại tất cả các loại lương thực, sinh sản nhanh, khả năng thích ứng rộng với môi trường, thời gian sống dài Mọt gạo có vòi nhọn, khi ăn dùng vòi đục một lỗ nhỏ và đẻ trứng vào đó Trứng nở, sâu non lớn dần lên ăn nội nhũ của hạt, chỉ để lại lớp vỏ mỏng không có giá trị sử dụng Đây là côn trùng phá hại sơ cấp, và được xem là loại nguy hiểm nhất đối với các kho lương thực ở nước ta
1.2- Đặc điểm hình thái
+ Dạng trưởng thành: dài 3 – 4mm, rộng 1 – 1,2mm, toàn thân màu xám đen, đầu có vòi to nhô ra Trên cánh cứng có những đường dọc và nhiều điểm lõm tròn
Râu hình đầu gối có 8 đốt, mảnh lưng ngực có nhiều điểm lõm tròn (xem hình
5.2a)
+ Dạng trứng: dài 0,45 – 0,7mm, rộng 0,24 – 0,3mm, hình bầu dục dài, một đầu phình ra, ban đầu màu trắng sau chuyển sang màu đục nhạt
Trang 9+ Sâu non: dài 2,5 – 3mm, đầu nhỏ màu nâu nhạt, trên mình có đường vân ngang, thân mập, ngắn, thường lưng cong, có màu vàng đục
+ Nhộng dài 3,4 – 4mm, hình bầu dục, lúc mới hóa nhộng màu trắng sữa, sau thành màu nâu nhạt
1.3- Đặc điểm sinh học
Mọt hoạt bát, có tính giả chết, bay khá tốt, thích bò lên cao và bò phía ngoài của bao nông sản Mọt đục lỗ vào các hạt nông sản rồi đẻ trứng vào đó và dùng chất nhầy để bịt lỗ lại bảo vệ Một mọt cái mỗi lần đẻ 1 - 2 trứng, từ 3 – 10 trứng/ngày Từ 1 đôi mọt (đực + cái) trong điều kiện thích hợp có thể sinh sôi tạo ra một quần thể đông tới 800.000 cá thể/năm Ở vùng nhiệt đới, mỗi năm mọt sinh trung bình 4 – 5 lứa, có khi 7 – 8 lứa Thời kỳ trứng 3 – 16 ngày, thời kỳ sâu non 13 – 28 ngày, thời kỳ nhộng 4 – 12 ngày, thời kỳ trưởng thành 54 – 311 ngày
Mọt hoạt động mạnh nhất trong điều kiện sau: nhiệt độ 24 – 300C (thích hợp nhất là 290 C, dưới 130 C và trên 380 C ngừng hoạt động), độ ẩm không khí từ 90 – 100%, thuỷ phần hạt 17% Độ ẩm không khí mọt đẻ trứng là khoảng 60% Mọt gạo có khả năng nhịn ăn từ 6 – 12 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ không khí Trung bình, mọt gạo sống khoảng 180 – 200 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ và thủy phần của hạt
2 Mọt bắp (Sitophilus zeamais.)
2.1- Phân bố và gây hại
Phân bố rộng khắp thế giới, nhất là châu Á, Âu, Địa trung hải, Bắc Mỹ Mọt bắp là loài ăn tạp, ăn các loại hạt ngũ cốc, các loại đậu, hạt có dầu và nhiều nông sản khác, nhưng chúng thích nhất là bắp hạt Mọt bắp có thể đẻ trứng cả ngoài đồng lẫn trong kho nên thuộc loại phá hại nghiêm trọng Đây cũng là loài côn trùng phá hại sơ cấp
2.2- Đặc điểm hình thái
Mọt bắp trông rất giống mọt gạo nhưng hơi lớn hơn Thân dài khoảng 5 mm, hình bầu dục dài, màu đỏ đến nâu đen, không bóng, chấm lõm trên đầu rất rõ ràng
(xem hình 5.2b)
2.3- Đặc tính sinh học
Mọt bắp khoét một lỗ vào hạt rồi đẻ trứng vào đó và bịt lại bằng một chất dịch nhầy Sâu non nở ra là ăn hại ngay Chúng ăn phôi mầm trước rồi đến nội nhũ bắp và lớn dần lên, hạt bắp bị sâu ăn chỉ còn 1 lớp vỏ mỏng Trong điều kiện thích hợp, mỗi con cái đẻ nhiều nhất được 384 trứng Bình thường một vòng đời của mọt bắp khoảng 40 ngày, nhưng ở điều kiện thuận lợi chỉ mất 28 – 30 ngày: thời kỳ trứng khoảng 3 – 6 ngày, thời kỳ sâu non 18 – 20 ngày, thời kỳ nhộng 12 – 16 ngày Ở nhiệt độ 00C mọt có thể sống được ở 37 ngày, ở -50C mọt sống được 23 ngày, còn -100C tất cả các giai đoạn phát triển của mọt đều chết sau 13 ngày
Trang 103 Mọt thóc (Sitophilus granrius L.)
Là đối tượng kiểm dịch
Mọt trưởng thành có màu nâu đậm, đen Nhìn bằng mắt thường dễ nhầm lẫn với mọt gạo, vì vậy cần giám định qua kính lúp để nhận dạng những đặc điểm sau
(xem hình 5.2f):
+ Thân hình thon, hẹp, rất bóng;
+ Trên mặt lưng ngực trước có những chấm lõm nhỏ hình bầu dục;
+ Đặc biệt, cánh trong (cánh màng) đã tiêu giảm (không có cánh trong)
Ấu trùng có màu trắng với màu nâu Cơ thể cong hình chữ C
Mọt không có khả năng bay và hoạt động chậm chạp Trưởng thành và ấu trùng đục vào ăn rỗng hạt Mọt khoét vào hạt và đẻ trứng Ấu trùng và nhộng phát triển hoàn toàn bên trong hạt, sau khi trưởng thành mới đục hạt thành lỗ chui ra ngoài
Trong điều kiện sinh thái thuận lợi, vòng đời hoàn thành trong khoảng 36-43 ngày Nhiệt độ thích hợp cho loài mọt này phát triển là 250C và độ ẩm tương đối của không khí là 70% Chúng ưa thích ăn hại các sản phẩm dạng hạt của ngũ cốc
4 Mọt đục hạt (mọt đục thân nhỏ) (Rhizopertha Dominca F.)
Là một trong những côn trùng hại kho đáng chú ý nhất ở trong tất cả các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cơ thể mọt chỉ có một màu nâu đỏ (nâu đen); dài
2-3 mm; đầu được giấu kín dưới tấm ngực trước (xem hình 5.2c)
Mọt bay tốt và di chuyển dễ dàng từ kho này sang kho khác Sinh sản mạnh, con cái đẻ 300-600 trứng
Mọt tấn công trực tiếp vào hạt Ở điều kiện 290C, hoàn thành vòng đời chỉ kéo dài 4 tuần Ở 210C, mọt kém hoạt động và không có khả năng sinh sản
Tại Việt Nam, loài mọt này phá hoại chủ yếu trong các kho chứa thóc, gạo, dược liệu
5 Mọt đậu xanh (Bruchus chinesis L.)
Có nguồn gốc từ Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản Mọt có màu nâu đỏ, dài 2,5 – 3,5 mm Rất thích phát triển trên đậu xanh
Trên cánh mọt có những mảng màu đen và các lông trắng xen kẽ thành đường zíc zắc Cổ nhỏ dần từ phía sau ra trước, tạo thành hình chuông; ở giữa cổ có 2 túm lông trắng dày và dài Râu con đực xẻ hình lược từ đốt 7 đến 10; râu con cái xẻ
răng cưa rõ Đùi nở và ở bờ trong có các gai (xem hình 5.2d)
Trứng màu trắng, hình trái xoan, dính chặt vào giá thể hay vỏ hạt (có trường hợp tới 30 trứng trên một hạt) Ấu trùng phát triển trong lòng hạt đậu và cũng hóa
Trang 11nhộng ở đó Sau khi hóa thành mọt mới đục lỗ (từ lỗ mà ấu trùng đã chuẩn bị trước) qua vỏ hạt chui ra ngoài
Mọt đậu xanh thường có mặt ở ngoài đồng vào thời gian đậu sắp thu hoạch, đẻ trứng vào các hạt đậu mà quả đã bị khô nứt vỏ hoặc bị côn trùng khác phá hoại
6 Ngài bột Địa Trung Hải (Ephestia kiichwiella L.)
Sâu non ngài Địa trung hải ăn bột gạo, bột bắp, cám, thóc, các loại đậu đỗ Chúng nhả tơ làm cho bột vón cục
Ngài thích sống ở nơi râm mát, tối ẩm Mỗi năm sinh 4 - 6 lứa, ở nhiệt độ
180C, một vòng đời cần 80 -101 ngày, sau khi hóa ngài, chúng giao phối ngay trong đêm, đêm sau đẻ trứng ngay trong thức ăn
Đời một ngài cái có thể đẻ 119 - 678 trứng Thời gian đẻ trứng kéo dài trong 5 – 7 ngày Sâu non lột xác 5 lần, thời gian nhộng trung bình 8 ngày Đời ngài rất ngắn, con cái sống 7 ngày, con đực sống 6 ngày
7 Ngài thóc Ấn Độ (Plodia interpnuctella H.)
Phân bố khắp thế giới, là loài sâu đa thực, ăn các loại nông sản trong kho như thóc, gạo ngô, bột mỳ, cao lương, các loại đậu đỗ, thuốc bắc và các loại hạt cây có dầu; chỉ ăn hại phần mầm hạt
Loài này dễ phân biệt qua màu sắc trên cánh Ở 1/3 của cánh trước phía trước có màu vàng; phần còn lại màu đỏ đồng hoặc tối với các vạch ngang màu xanh
xám (xem hình 5.2e)
Thiệt hại do chúng gây ra chủ yếu cũng vì: khi ăn, sâu non ăn từ ngoài vào rồi nhả tơ kết hạt lại tạo thành vón cục lương thực và tạo điều kiện cho nấm phát triển Sâu non nằm nhả tơ trong khi ăn rồi hóa nhộng
Sinh sản 4 - 6 lứa/năm, đẻ trứng vào ban đêm trên bao bì hoặc đống hạt Đời một con cái đẻ từ 30 – 200 trứng Khi trứng nở, ấu trùng đục ngay vào hạt để ăn hại, ăn từ phôi mầm trước Phân sâu màu hồng và hôi Con cái đẻ xong sống 5 ngày, con đực sống 2 – 25 ngày
Thời gian thực hiện một vòng đời từ 28 – 260 ngày tùy theo điều kiện môi trường Dưới 150C chúng ngừng phát dục
Ở nước ta, loài này phát triển mạnh ở khu vực nóng ẩm (phía Bắc), ít phát triển ở khu vực nóng khô (Tây Nguyên)
Trang 12V – CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SINH VẬT HẠI KHO
1 Phòng trừ bằng luật lệ
Nội dung chủ yếu bao gồm việc:
- Thực thi các biện pháp kiểm dịch: kiểm dịch động vật, thực vật; kiểm dịch quốc tế; kiểm dịch trong nước
- Hướng dẫn và thông tin liên quan đến phòng trừ côn trùng gây hại
Các cơ quan chức năng thực thi biện pháp phòng trừ bằng luật lệ chủ yếu tập trung vào các nhiệm vụ:
- Ngăn ngừa sự xâm nhập các côn trùng từ nước ngoài, đặc biệt là các đối tượng kiểm dịch
- Ngăn chặn các ổ dịch có khả năng lan rộng trong nước hay một vùng sinh thái
- Tôn trọng các quy định, quy trình áp dụng các biện pháp phòng trừ đối với những loài gây hại quan trọng
- Ngăn chặn việc làm giả và sử dụng sai thuốc trừ sâu và các hóa chất bảo vệ thực vật Ở nước ta, biện pháp này tuy có được quan tâm nhưng còn phân tán và chưa hoàn chỉnh
2 Phòng trừ bằng sinh học
- Là thực hiện các biện pháp tác động đến quá trình sinh sản, tập tính, chất lượng thức ăn… nhằm làm giảm các quần thể côn trùng gây hại bằng việc:
+ Sử dụng các sinh vật sống do con người khuyến khích
+ Sử dụng các yếu tố sinh học (sinh vật ký sinh, ăn thịt, gây bệnh)
2.1 Bẫy bả
Dùng các hợp chất dẫn dụ côn trùng để kiểm tra, phát hiện sự chớm lây nhiễm của côn trùng Xác định đúng thời điểm lây nhiễm để có các biện pháp kiểm soát côn trùng hại hữu hiệu bằng cách làm lây nhiễm sinh vật hại bằng mầm bệnh Bẫy bằng chất dẫn dụ kết hợp cùng với một số loại virút và nấm cũng được nghiên cứu áp dụng
Trang 13Hình 5.2: Một số hình ảnh côn trùng hại kho phổ biến
Hình 5.2a: Mọt gạo Hình 5.2b: Mọt bắp
(Calandra Oryzae L.) (Calandra Maize Mothsch.)
Hình 5.2c: Mọt thóc Hình 5.2d: Mọt đục hạt
(Calandria Granaria L.) (Rhizopertha Dominica F.)
Hình 5.2e: Mọt đậu xanh (Pachymes Chines L.) Hình 5.2f: : Ngài thóc Ấn Độ
2.2 Chất điều hòa sinh trưởng
Chất điều hòa sinh trưởng và phát triển cho côn trùng, các loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên đã được ứng dụng để kiểm soát phòng trừ vi sinh vật hại kho trong bảo quản
Trang 142.3 Sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên
Sử dụng cách phòng trừ truyền thống: sử dụng nhiều loại lá cây như xoan, lá cơi, lá trúc đào, bụi thuốc lá, thuốc lào… để trộn với hạt nông sản trước khi đưa vào bảo quản Tác dụng của một số loại thực vật là gây ngán ăn, xua đuổi hoặc ức chế sinh trưởng và phát triển của côn trùng, chống lại sự xâm nhập của mọt và vi sinh
vật gây hại trong quá trình bảo quản (xem bảng 5.2)
Bảng 5.2: Liều lượng áp dụng của một số loại thực vật diệt côn trùng
2.4 Ký sinh và ăn thịt
2.4.1 Sinh vật ký sinh
- Ký sinh hoàn toàn là sinh vật tìm thấy lợi ích qua việc ăn hoặc trú ngụ an toàn ở cơ thể sinh vật khác (vật chủ) và không nhất thiết phải giết chết vật chủ
- Ký sinh không hoàn toàn lại phải giết chết vật chủ và chỉ cần vật chủ cho một giai đoạn phát triển cá thể của nó Ví dụ, ong mắt đỏ đẻ trứng ký sinh ở trứng Ngài gạo Sâu non nở ra ăn trứng Ngài gạo
2.4.2 Vật ăn thịt
- Là sinh vật mà chúng ăn một hoặc nhiều loại con mồi, hiếm khi sử dụng con mồi làm nơi trú ngụ hoặc di chuyển Vật ăn thịt luôn phải giết chết con mồi
Ví dụ: Thạch sùng luôn có mặt trong kho và chúng sinh sống bằng việc săn bắt
các côn trùng bò, đậu trên tường kho, trần kho
- Haines (1984) khi đánh giá việc sử dụng sinh vật ăn thịt và ký sinh trong phòng trừ côn trùng gây hại kho nhiệt đới đã kết luận rằng chưa có những cố gắng rộng khắp trong phòng trừ sinh học bằng việc sử dụng kẻ thù tự nhiên trong chương trình phòng trừ tổng hợp
2.5 Gây bệnh
- Là phương pháp tạo ra xung quanh môi trường sống của côn trùng gây hại những đối tượng sinh vật dễ dàng xâm nhập, truyền gây bệnh, tạo dịch bệnh gây chết côn trùng hàng loạt
- Hiện nay đã sử dụng một số vi khuẩn, nấm và nguyên sinh động vật để thực hiện biện pháp này nhưng chưa hiệu quả vì một số hạn chế như: