56 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN PHAN TỐ UYÊN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ĐÀ NẴNG, NĂM 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN PHAN TỐ UYÊN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK Chuyên ngành Tài chính Ngân hàng Mã số 8340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀN.
Trang 2PHAN TỐ UYÊN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đức Toàn
ĐÀ NẴNG, NĂM 2021
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Tổng quan nghiên cứu 3
6 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 Khái quá về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại 8
1.1.1 Khái niệm nợ xấu 8
1.1.2 Phân loại nợ xấu 10
1.1.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu 13
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan 13
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 15
1.1.4 Ảnh hưởng của nợ xấu và vai trò công tác xử lý nợ xấu 19
1.1.4.1 Ảnh hưởng của nợ xấu tới Ngân hàng 19
1.1.4.2 Vai trò của công tác xử lý nợ xấu 20
1.1.5 Tiêu chí cơ bản phản ánh nợ xấu 22
1.2 Quy trình xử lý nợ xấu 24
1.2.1 Nhận diện nợ xấu 24
1.2.2 Phòng ngừa nợ xấu 29
1.2.3 Xử lý nợ xấu trong ngân hàng 33
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác xử lý nợ xấu 37
1.4 Bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu 39
1.4.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của nước ngoài 39
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 48
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK 49
2.1 Tổng quan về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk 49
2.1.1 Giới thiệu về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 49 2.1.2.Sơ lược về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk 51
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk 52
2.2 Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk 52
2.2.1 Nhận diện nợ xấu của Chi nhánh Bắc Đắk Lắk 52
2.2.2 Hoạt động phòng ngừa nợ xấu 52
2.2.3 Hoat động xử lý nợ xấu của chi nhánh 52
2.3 Đánh giá công tác xử lý nợ xấu tại Ngân nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những mặt còn hạn chế 53
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại nợ xấu 53
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK 53
3.1 Định hướng công tác xử lý nợ xấu của AgriBank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk tầm nhìn đến 2025 53
Trang 5Agribank Bắc Đắk Lắk 53 3.3 Kiến nghị 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VAMC Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt
Nam
AMC Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản
DATC Công ty mua bán Nợ và Tài sản tồn đọng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có nhữngbước tiến vượt bậc trong công cuộc hội nhập sâu rộng với thế giới Một trongnhững lĩnh vực then chốt trong việc đưa Việt Nam trở thành một điểm đến tincậy, hấp dẫn cho các nhà đầu tư chính là tài chính Ngân hàng Bên cạnhnhững thành tích nổi bật đã đạt được, các ngân hàng thương mại ở nước tavẫn còn đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức đặc biệt là trong hoạtđộng tín dụng do sự chuyển đổi còn chậm, trình độ còn non kém chưa theokịp những diễn biến ngày một phức tạp của tình hình quốc tế Điều này đãlàm nảy sinh ra một vấn đề hết sức nan giải đó là tình trạng nợ xấu
Nợ xấu là một vấn đề không mới của các ngân hàng thương mại Nó đãphát sinh từ lâu nhưng bắt đầu được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011 saucuộc khủng hoảng toàn cầu, gây nên sự sụp đổ hàng loạt các định chế tàichính lớn trên thế giới, rung động không chỉ nền kinh tế số một thế giới làHoa Kỳ mà toàn bộ các khu vực khác cũng phải chịu hậu quả nặng nề từ nó
Từ đó đến nay, nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn tiếp tụcdiễn ra và ngày càng có những diễn biến khó lường Điều này đã ảnh hưởngkhông nhỏ tới hoạt động kinh doanh, tính cạnh tranh với nước ngoài của cácngân hàng khi làm giảm cũng như nền kinh tế của cả nước bởi hệ thống ngân
hàng chính là cầu nối để chuyển vốn trong nền kinh tế đồng thời là công cụ vĩ
mô để Chính phủ và Nhà nước có thể quản lý nền kinh tế
Thời gian qua, các TCTD và VAMC đã tích cực rà soát, đánh giá toàn bộdanh mục tài sản trong toàn hệ thống TCTD và nợ đã mua bằng trái phiếu đặcbiệt nhằm đánh giá nhận diện thực trạng nợ, nợ xấu, tài sản đảm bảo cho cáckhoản nợ xấu được xác định theo NQ 42, những khó khăn, vướng mắc trong
Trang 8quá trình xử lý để xây dựng các giải pháp xử lý phù hợp và triển khai, ápdụng các biện pháp nhằm xử lý nợ xấu Theo đó, việc xử lý nợ xấu theo NQ
42 về cơ bản đã có kết quả và những thành công đáng kể, nhưng vẫn còn tồntại một số khó khăn [9]
Nằm trong hệ thống các ngân hàng thương mại, Ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk không thểtránh khỏi những khó khăn trong công tác xử lý cũng như hạn chế tình trạng
nợ xấu ngày một gia tăng
Với mong muốn hiểu rõ hơn về nợ xấu và phân tích cụ thể thực trạng
nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chinhánh Bắc Đắk Lắk, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp ngân hàng nâng caohiệu quả công tác xử lý nợ xấu, góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính,tăng năng lực cạnh trạnh cho ngân hàng trong quá trình hội nhập, tác giả chọn
chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Đắk Lắk” làm
đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến xử lý nợ xấu trong hệ thống
NHTM
- Phân tích và đánh giá một cách cụ thể, khách quan nhất thực trạng nợ
xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chinhánh Bắc Đắk Lắk giai đoạn
- Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu
tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánhBắc Đắk Lắk trong thời gian tới
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vấn đề lý luận và thực trạng liên quan đến công
tác xử lý nợ xấu của NHTM
Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ luận văn có hạn nên đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu tình hình xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và pháttriển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm
2018 – 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đặt ra, luận văn sửdụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp tổng hợp: nhằm kế thừa những lý luận cơ bản về nợ xấutại các Ngân hàng, từ đó hình thành cơ sở lý thuyết cho đề tài luận văn
- Phương pháp thống kê: thu thập số liệu về tổng quan tình hình hoạtđộng, thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk
- Phương pháp so sánh, phân tích dữ liệu và suy luận trên cơ sở số liệuthực tế đã thu thập và tổng hợp được và các chỉ tiêu căn cứ để đánh giá chấtlượng các khoản vay
Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào một hệ thống cácchỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu lên quan đến hoạt động chovay nợ của ngân hàng như: chỉ tiêu về dư nợ, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng
nợ quá hạn, chỉ tiêu đánh giá nợ xấu Thực tế, xử lý nợ xấu là một vấn đề rấtnhạy cảm liên quan đến rất nhiều các chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nềnkinh tế Do đó để công tác xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả thì cần phải có sựkết hợp linh hoạt các phương pháp trên
5 Tổng quan nghiên cứu
Trang 10Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, nợ xấu luôn tồn tại như một điềuhiển nhiên, không thể tránh khỏi Do đó, việc phân tích tìm ra nguyên nhândẫn đến nợ xấu, biện pháp hạn chế sự xuất hiện nợ xấu, và biện pháp để xử lý
nợ xấu là những vấn đề luôn được quan tâm, nghiên cứu ở cả trong và ngoài
nước
Nghiên cứu nước ngoài
Nhìn chung, trong việc nghiên cứu về nợ xấu ở Việt Nam, các tài liệuchính chủ yếu là các bài báo hoặc tạp chí được trình bày dưới dạng nêu vấn
đề và sự việc, cũng có một số ít đề tài nghiên cứu về nợ xấu ở Việt Nam, nổibật:
Trần Bảo Toàn (2007), đề tài “Analysis of the Vietnamese Banking Sector with special reference to Corporate Governance”, Luận án tiến sĩ kinh
tế bảo vệ thành công tại trường Đại học Kinh tế St Gallen Thụy Sĩ Nghiêncứu này đã đặt trọng tâm vào phân tích quản trị ngành ngân hàng tại ViệtNam Trong đó tại chương 3, tác giả đã đề cập đến vai trò thị trường thứ cấp
để xử lý nợ xấu Đó là nguồn để xử lý nợ xấu phải theo nguyên tắc lấy thịtrường nuôi thị trường bằng cách tạo ra thị trường nợ thứ cấp để sử dụng đồng
bộ các thiết chế quản trị nợ sẵn có như các Công ty Quản lý nợ và khai tháctài sản (AMC) ở các Ngân hàng thương mại, Công ty mua bán nợ và tài sảntồn đọng (DATC) của Bộ Tài chính, thị trường chứng khoán…, các công cụtài chính phi tiền tệ, công cụ tiền tệ và cả phương tiện phi vật chất như khônggian, thời gian, kinh nghiệm và uy tín để tạo nguồn xử lý nợ xấu [12]
Ngân hàng Thế giới (2013), báo cáo của Tổ chức: " Taking Stock Presentation Dec 2013 VN’’ trong đó có để cập đến vấn đề cải cách khu vực
ngân hàng Báo cáo cũng nêu rõ những rào cản khiến cho khu vực ngân hàngcòn mong manh Đó là: nợ xấu còn cao do quan ngại về công khai tài chính
Trang 11và minh bạch; phân loại nợ chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế; Nhà nước cònnắm giữ cổ phần lớn trong các ngân hàng; cần quan tâm các quy định về phásản, vỡ nợ và quyền của người cho vay [5].
Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các biện pháp
xử lý nợ xấu tại một số ngân hàng cụ thể và đưa ra các giải pháp nhằm nângcao hiệu quả trong công tác xử lý nợ xấu:
- PGS TS Trần Huy Hoàng (2013), khủng hoảng kinh tế, quản trị ngânhàng và vấn đề nợ xấu Bài viết đề cập đến khái niệm nợ xấu theo cách hiểucủa các nhà hoạch định chính sách ở các NHTW, các tổ chức tài chính quốc tếnhư IMFD, Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng;chỉ ra các nguyên nhân gây ra nợ xấu từ môi trường kinh tế và những bất cậptrong quản trị ngân hàng Từ đó gợi ý các chính sách giảm nợ xấu [7]
- PGS TS Trầm Thị Xuân Hương cùng cộng sự, 2013, giải pháp xử lý
nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam Nghiên cứu nàynhằm đánh giá thực trạng nợ xấu phát sinh trong hệ thống NHTM Việt Namgiai đoạn 2009 -2012, phân tích chi tiết nguyên nhân phát sinh nợ xấu trongcác tập đoàn nhà nước cũng như trong lĩnh vực bất động sản và chứngkhoán… Với mục đích làm sáng tỏ mức độ và tính chất nghiêm trọng của nợxấu trong hệ thống NHTM, nguyên nhân phát sinh nợ xấu như: hệ quả của góikích cầu, các chính sách nới lỏng tín dụng cũng như công tác quản trị điềuhành hệ thống NHTM được sử dụng trong thời gian qua còn nhiều bất cập Từ
đó, đề xuất hai nhóm giải pháp xử lý nợ xấu từ Chính phủ, NHNN Việt Nam
và bản thân các NHTM phát sinh nợ xấu Đây là tiền đề cơ bản thực hiệnthành công tái cấu trúc hệ thống NHTM
Trang 12- Ths Nguyễn Thị Mỹ Phượng, Ths Lê Thị Mỹ Ngọc (2014), xử lý nợxấu trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam Bài viết này phân tíchthực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam nói chung
và NHTM nói riêng trong giai đoạn 2007-2013 Kết quả nghiên cứu chỉ rađược những nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu và những vấn đề còn tồn tạitrong công tác xử lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam trong thời gian qua Từ
đó, gợi ý một số chính sách nhằm thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu, góp phầntái cơ cấu thành công hệ thống NHTM theo Đề án 254 trong giai đoạn 2011-
2015
Tạp chí ngân hàng (2014): “Bàn về hướng xử lý nợ xấu của hệ thống ngânhàng thương mại Việt Nam” của tác giả Đào Thị Hồ Hương do Ngân hàngnhà nước Việt Nam phát hành Bài nghiên cứu này đã chỉ ra được các nộidung nợ xấu như sau: Một là, những gợi ý hướng xử lý nợ xấu từ kinh nghiệmquốc tế; Hai là, đề xuất hướng xử lý nợ xấu cho NHTM sau khi phân tích thựctrạng nợ xấu Tuy nhiên bài viết này chỉ đưa ra hướng xử lý cho nợ xấu xuấtphát từ một số nguyên nhân nhất định Bài nghiên cứu chưa đưa ra được tổngthể giải pháp cho việc xử lý nợ xấu của Ngân hàng
Tạp chí ngân hàng (2014): “Chứng khoán hóa – một phương thức giảiquyết nợ xấu của các tổ chức tín dụng” của tác giả Hoàng Lan do Ngân hàngnhà nước Việt Nam phát hành Bài viết này đưa ra giải pháp xử lý nợ xấubằng chứng khoán hóa, tác giả cũng đưa ra những lợi ích của phương phápnày Tác giả đã mạnh dạn đề xuất một giải pháp mới cho Việt Nam, biện phápnày đã được các nước trên thế giới sử dụng và mang lại những tích cực nhấtđịnh Trong thời gian tới khi sự hội nhập của VN ngày càng mở rộng, thịtrường tài chính phát triển thì có thể đây sẽ là một giải pháp hay, hiệu quả choviệc tháo gỡ nợ xấu
Trang 13Đặng Thị Thanh Nga (2014): Luận văn thạc sỹ kinh tế “Nợ xấu tạingân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam” Luận văn đã tập trung nghiêncứu những nội dung sau: Thứ nhất, làm rõ các vấn đề cơ bản về nợ xấu trong
hệ thống ngân hàng thương mại; hai là, thực trạng nợ xấu của ngân hàngVietcombank, đặc biệt luận văn đưa ra được số liệu thu nợ của từng biệnpháp xử lý nợ xấu tại ngân hàng, điều này chỉ ra được hiệu quả của từngbiện pháp để từ đó làm bài học kinh nghiệm của những ngân hàng khác; thứ
ba, đưa ra những biện pháp để xử lý nợ xấu trong ngắn hạn và dài hạn Tuynhiên, nghiên cứu này chưa đi sâu vào từng biện pháp xử lý nợ xấu củaNgân hàng, và đưa ra giải pháp chưa được cụ thể để giảm thiểu nợ xấu củangân hàng [1]
Nguyễn Tiến Đức (2017), Quản lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Đầu
tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Quảng Bình Tác giả đã thốnghoá và làm rõ những lý luận cơ bản về vấn đề kiểm soát, xử lý nợ xấu tronghoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại; Phân tích thực trạng, tìnhhình nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Pháttriển Bắc Quảng Bình Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý nợ xấu tại Chinhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình Tuy nhiên,tác giả chưa phân tích sâu nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và các giải pháp cònmang tính chung chung, chưa bám sát với tình hình thực tế của chi nhánh[6]
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kếtcấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu trong ngânhàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nợ xấu Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc ĐắkLắk
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU
TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quá về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm nợ xấu
Nợ xấu được hiểu là những khoản nợ bị vỡ nợ hoặc trong tình trạng gần
kề vỡ nợ Nhiều khoản nợ trở thành nợ xấu sau khi vỡ nợ 90 ngày Theo PeterRose, nợ xấu là những khoản nợ không còn thu nhập lãi tích lũy, hoặc phải tái
cơ cấu để phù hợp với hoàn cảnh thay đổi của người đi vay Nợ được xếp vàoloại này khi bất cứ khoản trả nợ theo lịch trình bị quá hạn hơn 90 ngày Khi
đó, bất cứ khoản tiền lãi tích lũy theo sổ sách phải được giảm trừ khỏi thunhập từ cho vay Các ngân hàng bị cấm ghi nhận bất cứ khoản thu nhập từ lãi
bổ sung từ nợ này cho đến khi có dòng thu tiền mặt
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi là khôngsinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái
cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có cácnguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ" (IMF’sCompilation Guide on Financial Soundnees Indicators 2004, 84) Với quan
Trang 15điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khảnăng trả nợ đáng nghi ngờ.
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa
cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiềuquốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi làkhông có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra: (i)ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàngchưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả
nợ quá 90 ngày (BCBS’s Sound Practices for Loan Accounting andDisclosure 1999, 107) Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộcác khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trảđược nợ Như vậy, quan điểm về nợ xấu của Ủy ban Basel cũng dựa vào haigiác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng
Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cáchnhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, mộtkhoản nợ được coi là nợ xấu nó xuất hiện 1 trong 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả
nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) coi làkhông có khả năng trả nợ Bản chất của một khoản nợ xấu là một khoản tiềncho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danhsách các khoản nợ phải thu của chủ nợ
Theo điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 ngày 22/04/2005 và sửa đổitrong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 và gần đây nhất theoThông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại tài sản
có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dựphòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau [3]:
Trang 16“Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn),nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”.
Các khoản nợ được thực hiện phân loại đồng thời theo Điều 10 và Điều
11 thông tư này Trong đó:
- Phân loại nợ theo Điều 10 là phân loại theo phương pháp định lượng,tức là chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ (Nhóm 3: thờigian quá hạn từ 91-180 ngày; Nhóm 4: Thời gian quá hạn từ 181-360 ngày;Nhóm 5: Thời gian quá hạn lớn hơn 360 ngày)
- Phân loại nợ theo Điều 11 là phân loại theo phương pháp định tính,tức là chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng (Nhóm 3: Các khoản
nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Cáckhoản nợ này được đánh giá là có khả năng tổn thất; Nhóm 4: Các khoản nợđược đánh giá là có khả năng tổn thất cao; Nhóm 5: Các khoản nợ được đánhgiá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Namcũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày; (ii): khảnăng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ về khoản vay sẽ đượcthanh toán đầy đủ (hay khả năng tổn thất của các khoản nợ)
Qua những định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu kháiquát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạnhoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến gây thiệt hại cho ngân hàng
Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông
lệ quốc tế thì có thể thấy mặt định lượng thời gian quá hạn 91 ngày là khátương đồng.Về mặt định tính, Việt Nam cũng có những dấu hiệu giống kháiniệm của quốc tế là khả năng trả nợ của khách hàng Việc cho phép phân loại
Trang 17nợ theo phương pháp định tính hay định lượng cho thấy Việt Nam có sựthống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore).
1.1.2 Phân loại nợ xấu
Theo Quyết định số 22/VBHN - NHNN ngày 04/6/2014 của ngân hàngnhà nước ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì nợxấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi ở ViệtNam hiện nay phổ biến thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), bao gồm :
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khảnăng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
- Các khoản nợ quá thời hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá
là cókhả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ cả gốc
và lãi đúng thời hạn còn lại
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tạiKhoản 2, Điều 6
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày
- Các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng làdoanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng có đánh giá khách hàng và khảnăng về trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng kì hạn được điều chỉnh lần đầu)
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3Điều 6
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), bao gồm :
- Các khoản nợ quá thời hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
Trang 18- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điềuchỉnh kì hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm bkhoản này.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khảnăng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3Điều 6
Nợ xấu thuộc nhóm này được xem là các khoản nợ có khả năng thu hồi
nợ cao nhất Ngân hàng sẽ trích lập 1 tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là20% dư nợ của nhóm
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), bao gồm :
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngàytheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3Điều 6
Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi nợ thấphơn sovới các khoản nợ của nhóm 3 Các khoản nợ này được xếp vào nhữngkhoản nợ mà ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ Tỉ lệ trích lậpDPRR cho nợ xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm :
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trởlên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai
Trang 19Theo quy định, nợ xấu là nợ được phân vào nhóm 3 (nợ dưới tiêuchuẩn),
nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Trên cơ sở kếtquả phân loại nợ, TCTD chủ động thực hiện hạch toán, trích lập dự phòng rủi
1.1.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
Trang 20Phân tích nguyên nhân phát sinh nợ xấu là một trong những điểm quantrọng cần phải làm để từ đó đưa ra được chiến lược cũng như phương phápquản lý và xử lý phù hợp, khả thi và có hiệu quả.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian,
do vậy hoạt động của Ngân hàng thương mại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Môitrường pháp lý, môi trường kinh tế cũng như môi trường thiên nhiên, tìnhhình sản xuất kinh doanh của khách hàng, đạo đức khách hàng và các yếu tốthuộc về chính bản thân ngân hàng…
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Môi trường thiên nhiên
Thiên tai, bão lụt, hoản hoạn, mất mùa, dịch bệnh,… Đây là nhữngnguyên nhân khách quan do sự biến đổi của môi trường thiên nhiên đã gây ra
sự hoạt động thất bại của khách hàng vay, nhất là các khoản cho vay nôngnghiệp, dẫn đến nợ xấu phát sinh Nguyên nhân này nằm ngoài tầm kiểm soát
và mong muốn của cả NH và các khách hàng vay Đây là nguyên nhân gây rarủi ro không thể tránh được, những mất mát do nguyên nhân này gây ra cầnđược sự hỗ trợ của nhà nước, và của cả xã hội
Môi trường kinh tế
Nếu môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, cạnh tranh trên thịtrường chưa thực sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao
sẽ dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không cótiềm lực tài chính đủ mạnh Mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong các chínhsách kinh tế vĩ mô như sự thay đổi về cơ chế lãi suất, tỷ giá chính sách xuấtnhập khẩu, hàng tiêu dùng thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơchế tài chính, cơ chế sử dụng đất đai… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các đối tượng này rơi vào
Trang 21thế bị động, do đó nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đốitượng này tại NH
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa đầy đủ là một trongcác nguyên nhân góp phần gây ra nợ xấu Sự bất cập và chồng chéo của cácluật sẽ khiến cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tàisản bảo đảm, các quy định về kế toán kiểm toán chưa đủ sức mạnh thực hiện
sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho vay
Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không cao ảnh hưởng trực tiếp đếnhiệu quả kinh doanh Mặt khác, năng lực điều hành, quản lý kinh doanh củachủ doanh nghiệp vay vốn yếu kém cũng dẫn đến hoạt động kinh doanh kémhiệu quả từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng
Đạo đức khách hàng
Một số doanh nghiệp cố ý thông báo số liệu tài chính của doanh nghiệpkhông chính xác, gây sai lệch trong việc thẩm định và cấp tín dụng đã dẫn đếnkhó khăn trong việc thu hồi nợ ngân hàng
Hoặc bản thân doanh nghiệp/cá nhân thiếu ý thức trong vấn đề sử dụngvốn vay và trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến món nợ đối với ngânhàng mặc dù khả năng tài chính của doanh nghiệp có Một số doanh nghiệp/cánhân thì lại có tư tưởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán, chụp giựt,lừa đảo, móc ngoặc, sử dụng vốn sai mục đích để kiếm lời, vay không có ýđịnh trả nợ
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Các nguyên nhân từ phía Ngân hàng:
Trang 22Một là, chính sách tín dụng của ngân hàng không hiệu quả, không
phù hợp với nền kinh tế, quy chế tín dụng không chặt chẽ để khách hàngchiếm đoạt vốn của ngân hàng Khi nền kinh tế có sự thay đổi thì chínhsách tín dụng cũng thay đổi để phù hợp nhưng một số ngân hàng do khôngnhạy bén nên chính sách không phù hợp Ví dụ trước kia một số ngân hàngthương mại nhà nước có thể cho vay chủ yếu ở khối khách hàng doanhnghiệp nhà nước, hạn chế cho vay khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.Tuy nhiên, khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tậptrung sang kinh tế thị trường, thì khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh pháttriển, khối các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trì trệ, không phát huyhiệu quả của đồng vốn dẫn tới không có khả năng trả nợ cho ngân hàng
Hai là, cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình tín dụng như
không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vaykhống, thẩm định hời hợt, cho vay vượt tỷ lệ an toàn Đặc biệt khâu thẩmđịnh hời hợt của cán bộ tín dụng dẫn tới nợ xấu rất cao Trừ một số ít kháchhàng có phát sinh nợ xấu bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan như: kinhdoanh thua lỗ, công nợ khó đòi, khó khăn do thay đổi cơ chế, thay đổi chínhsách tăng trưởng của Nhà nước thì hầu hết các khoản nợ xấu bắt nguồn từkhâu thẩm định quá hời hợt của cán bộ tín dụng Do không xác định được quy
mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàngđối với ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định đượcnguồn thu của khách hàng từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức cho vay
và cách thức giám sát hợp lý Cán bộ ngân hàng đôi khi còn hời hợt trongphần kiểm tra sử dụng vốn, dẫn đến không phát hiện kịp thời những khó khăncủa khách hàng ngay từ khi vừa nhen nhóm Không ít khách hàng, khi đượckiểm tra về việc sử dụng vốn sau khi vay cho biết một phần vốn vay thực sựvào kinh doanh, phần khác dùng cho mục đích sửa nhà, mua sắm vật dụng,
Trang 23thậm chí là tiêu xài cá nhân Đến khi phần vốn đầu tư kinh doanh thua lỗ,không còn nguồn khác `để trả nợ ngân hàng, thế là phát sinh nợ xấu Mặtkhác, tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng gắn liền với thiện chí hoàn trảtiền vay của khách hàng thường bị lãng quên trong quá trình thẩm định banđầu.
Ba là, cán bộ tín dụng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về việc sử
dụng vốn vay và tình hình kinh doanh của khách hàng Thông thường sau khicho vay, cán bộ tín dụng phải kiểm tra xem khách hàng đã dùng tiền vay đúngmục đích hay chưa, kiểm tra tình hình kinh doanh của khách hàng, yêu cầukhách hàng nộp báo cáo tài chính định kỳ để nhận biết những rủi ro sớm xảy
ra, từ đó kịp thời có những biện pháp xử lý Tuy nhiên, không phải cán bộ tíndụng nào cũng tuân thủ đúng các yêu cầu kiểm soát khoản vay như trên, đếnkhi khách hàng không trả được nợ mới phát hiện ra việc sử dụng vốn vaykhông đúng mục đích hoặc tình hình kinh doanh đã xấu đi…
Bốn là, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng yếu kém
dẫn đến việc đánh giá tư cách khách hàng, phương án SXKD/ dự án khôngchính xác, nên xảy ra tình trạng phương án/ dự án không khả thi nhưng vẫncấp tín dụng
Năm là, cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức
nghề nghiệp: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, nể nang
trong quan hệ khách hàng, nhận quà biếu hay hối lộ của khách hàng
Sáu là, do áp lực cạnh tranh nên ngân hàng đã nới lỏng các điều kiện
tín dụng để thu hút khách hàng Cạnh tranh thu hút khách hàng buộc cácngân hàng phải nới lỏng điều kiện tín dụng: tỷ lệ cho vay/ trị giá TSĐB, tínchấp, cầm cố hàng hóa không giám sát chặt món vay; tỷ lệ cho vay/nhu cầuvốn…cụ thể: Áp lực tăng trưởng nóng buộc một số ngân hàng nới lỏng
Trang 24điều kiện tín dụng để cạnh tranh thu hút khách hàng về và kết quả là sau đó
tỷ lệ nợ xấu tăng đột biến
Một ví dụ điển hình cho việc cho vay dưới chuẩn là cuộc khủnghoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn của Mỹ năm 2008, để thấy được hậuquả nặng nề của việc nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng gây ảnh hưởngnặng nề không chỉ tới Ngân hàng và tới cả sự vận hành của nền kinh tế.Cho vay thế chấp dưới chuẩn là các khoản cho vay chất lượng thấp vớimức rủi ro cao Các khoản vay này không được xem xét kỹ lưỡng vàthường được đảm bảo bởi rất ít hoặc không có giấy tờ chứng minh năng lựctài chính của người vay
Tại Mỹ, các Ngân hàng đầu tư đã bơm tiền cho các công ty để chovay mua bất động sản Điều kiện vay dễ đến mức không cần tài sản thếchấp, không cần vốn tự có, thậm chí thất nghiệp…cũng được vay Đổi lạilãi suất vay khá cao để bù đắp rủi ro Nhiều người không có khả năng trả
nợ đã vay tiền mua nhà, dùng tiền thuê nhà để trả lãi vay chờ BĐS tăng bánhưởng chênh lệch Giữa năm 2007 thị trường BĐS Mỹ đóng băng, lãi suấtvay tăng lên, bài toán tài chính bị phá vỡ, không bán được nhà, người vaykhông trả được nợ Hệ quả này dẫn tới sự sụp đổ của nhiều ngân hàng lớncủa Mỹ như đầu tiền là Ngân hàng Lehman Brothers, tiếp theo là các ngânhàng khác Sự sụp đổ của một loạt ngân hàng dẫn tới khủng hoảng nên kinh
tế mỹ năm 2008 Từ kinh nghiệm của Mỹ ta thấy, việc cho vay dưới chuẩn,cho vay khi khách hàng không chứng minh được khả năng trả nợ dẫn tớihậu quả to lớn, thậm chí là sụp đổ ngân hàng Vì vậy, trong các chính sáchtăng trưởng tín dụng của các ngân hàng bao giờ cũng kèm theo việc nângcao chất lượng tín dụng để tránh nợ xấu gia tăng Tuy nhiên thực tế khôngphải tất cả các ngân hàng đều thực hiện đúng mục tiêu đề ra vừa tăngtrưởng tín dụng vừa đảm bảo chất lượng khoản vay
Trang 25Nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng
Nguyên nhân gây ra nợ xấu trong ngân hàng phát sinh từ phía kháchhàng bao gồm:
- Sau khi vay được vốn, khách hàng tự ý thay đổi mục đích sử dụngvốn, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được
nợ cho ngân hàng Ngoài ra, trong một số trường hợp, khi đã có vốn trong taykhiến cho đạo đức khách hàng thay đổi không còn thiện chí trả nợ cho ngânhàng
- Năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hànhsản xuất kinh doanh không bắt kịp thay đổi của thị trường
- Doanh nghiệp dùng nợ vay ngắn hạn để đầu tư vào tàn sản dài hạntrong khi không có chức năng chuyển hóa kỳ hạn
- Sức ì lớn trong sản xuất kinh doanh, thiếu vắng sự linh hoạt cần thiết,không cải tiến quy trình công nghệ, không đầu tư vào máy móc thiết bị hiệnđại, không cải tiến mẫu mã Các nguyên nhân này dẫn tới hàng hóa sản xuất
ra thiếu sự cạnh tranh, tồn kho do không tiêu thụ được, không tạo ra dòng tiền
để hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
- Doanh nghiệp chủ ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, làm giả
hồ sơ giấy tờ, con dấu, nhất là giấy từ TSBĐ và tư cách pháp nhân Hiện nay
ở Việt Nam, có nhiều vụ án kinh tế thì có tới 4-5 vụ là có liên quan tới ngânhàng Có nhiều hình thức doanh nghiệp lừa đảo ngân hàng, ví dụ là thành lậpnhiều công ty giả: không có địa chỉ, con dấu… Họ lập các hợp đồng mua bánhàng hóa giả rồi vay vốn ngân hàng
1.1.4 Ảnh hưởng của nợ xấu và vai trò công tác xử lý nợ xấu
1.1.4.1 Ảnh hưởng của nợ xấu tới Ngân hàng
Trang 26Trước hết, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của của ngân hàng Lợi nhuận
được hình thành từ những khoản thu của ngân hàng mà những khoản thu nàychủ yếu thu từ lãi cho vay Nếu những khoản cho vay không thu hồi được thì
nợ xấu của ngân hàng sẽ càng cao Khi đó, ngân hàng sẽ phải trích lập RPRRcho khoản vay đó tức làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làm giảm lợinhuận
Thứ hai, nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Khi nợ xấu phát sinh, ngân hàng không thu được khoản tiền gốc và tiền lãi tíndụng, nhưng vẫn phải trả gốc và lãi cho các khoản vốn huy động đến hạn,điều này làm cho ngân hàng giảm lợi nhuận, rơi vào tình trạng mất cân đốithu chi và rủi ro thanh khoản Mất khả năng thanh khoản mức độ nặng còn cóthể dẫn tới phá sản ngân hàng
Thứ ba, nợ xấu làm mất uy tín của ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu cao làm
cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn tớilàm giảm khả năng huy động vốn, điều này sẽ đẩy chi phí huy động của ngânhàng lên cao hoặc thậm chí dẫn tới rủi ro thanh khoản và đe dọa sự ổn địnhcủa toàn bộ hệ thống ngân hàng Đây cũng là lý do tại sao các Ngân hàng việtnam hiện nay vẫn mập mờ trong cách tính tỷ lệ nợ xấu và công bố nợ xấu.Bởi tỷ lệ nợ xấu càng cao, càng chứng tỏ hoạt động tín dụng kém hiệu quảcủa ngân hàng, điều này làm mất niềm tin của nhà đầu tư, của người gửi tiền
Thứ tư, nợ xấu có thể cản trở quá trình hội nhập của các Ngân hàng việt nam Nợ xấu tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của các Ngân hàng
khi phân tích đánh giá tình hình tài chính hoạt động ngân hàng Trong quátrình hội nhập mở rộng, sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài ngày càngnhiều thì sự cạnh tranh càng khốc liệt Vấn đề về lành mạnh tài chính củangân hàng được đặt lên để đảm bảo quá trình hội nhập không bị hòa tan
Trang 27Đối với nền kinh tế:
Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, có mối quan hệchặt chẽ với nhiều chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế, do đó, nợ xấu có thể gây
ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia
Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên lý “đi vay để cho vay”,
do đó, chỉ cần người gửi tiền mất niềm tin vào một ngân hàng họ tiến hàng rúttiền ồ ạt, tạo hiệu ứng tâm lý rút tiền ở các ngân hàng khác, hậu quả có thểkhiến cho hệ thống ngân hàng sụp đổ hoàn toàn Ngân hàng là một công cụquan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa Việc sụp
đổ cả một hệ thống ngân hàng sẽ làm ngưng trệ quá trình lưu thông vốn trongnền kinh tế và có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế
Nợ xấu gia tăng có thể khiến ngân hàng dè dặt trong việc huy động vàcung ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho sản xuất bị đình trệ, tăng trưởng kinh
tế chậm lại, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổnđịnh và chất lượng cuộc sống giảm sút
1.1.4.2 Vai trò của công tác xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu trong chươngtrình các cải cách các hoạt động ngân hàng Nó giữ vai trò rất quan trọng đốivới sự tồn tại phát triển và uy tín dụng Ngân hàng Xử lý nợ xấu của NHTM
là một trong những vấn đề quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâmtới, kể cả các nước có nền kinh tế mới nổi hay các nước có nền kinh tế đã pháttriển Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quá trình hội nhập vào thị trường tàichính quốc tế và tự do hóa tài chính làm cho môi trường cạnh tranh khốc liệt
và rủi ro hơn
Thứ nhất, xử lý nợ xấu đảm bảo ngân hàng phát triển ổn định
Trang 28Ngăn ngừa nợ xấu ngân hàng sẽ hoạt động ổn định và tiếp tục phát triểnbền vững vì nợ xấu phát sinh sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của NHTM
do số tiền gốc của các khoản vay này khó có khả năng thu hồi, dẫn đến giảmdoanh thu và thu nhập của NHTM Nợ xấu phát sinh làm giảm lợi nhuận củaNHTM do ngân hàng không thu được hoặc thu không đủ các khoản lãi phátsinh của các món nợ xấu Ngoài ra, nợ xấu khiến NHTM phải trích lập dựphòng rủi ro cho khoản vay đó, làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làmgiảm lợi nhuận Do đó, hầu hết các ngân hàng đều trú trọng đến công tác quản
lý nợ xấu, bởi nếu không quản lý tốt dẫn đến phát sinh nợ xấu sẽ ảnh hưởngđến tính thanh khoản của ngân hàng và làm gia tăng thiệt hại
Thứ hai, nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận khách hàng của ngân hàng
Những ảnh hưởng của nợ xấu dẫn đến lợi nhuận giảm, khả năng thanhtoán giảm… có tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng bao gồm cả kháchhàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp hay các ngân hàng đối tác, làm mất
uy tín dẫn đến giảm khả năng tiếp cận khách hàng vay vốn cũng như ảnhhưởng đến các hoạt động khác của ngân hàng như huy động vốn, các dịch vụtài chính liên quan Nợ xấu dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế Một ngân hàng
có tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho người gửi tiền Hiệuứng rút tiền ồ ạt có thể sẽ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, có thểdẫn đến phá sản
Thứ ba, ngăn ngừa được nợ xấu thì nền kinh tế đất nước phát triển ổn định, tăng trưởng kinh tế đời sống văn hóa xã hội phát triển
Quản lý nợ xấu không tốt dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây nguy cơ
đổ vỡ hệ thống ngân hàng, từ đó có thể kéo theo khủng hoảng tài chính tiền tệxảy ra Khi đó làm giảm số dự trữ và vốn, làm tổn thất sức mạnh tài chính của
Trang 29Ngân hàng Hơn nữa, các khoản nợ xấu tạo ra gánh nặng chi phí cho các ngânhàng và làm ngân hàng suy giảm khả năng huy động vốn, khả năng cho vayđối với nền kinh tế Vì thế lòng tin của dân chúng cũng như uy tín quốc tế đốivới hệ thống ngân hàng, nề kinh tế đất nước do đó cũng suy giảm theo
Tóm lại, vai trò của quản lý nợ xấu là rất quan trọng; nếu quản lý khôngtốt không những tác động đối với khách hàng, nhân dân, hệ thống Ngân hàng
mà còn nguy hại đối với cả nền kinh tế, trật tự xã hội Cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới trong giai đoạn trước đây là một minh chứng rõ nhất về ảnh hưởngcủa nợ xấu
Nhận thức được điều này, việc nâng cao hiệu quả công tác ngừa và xử lý
nợ xấu trong hoạt động của NHTM là một vấn đề hết sức cần thiết và cấpbách trong giai đoạn hiện nay, quản lý nợ xấu không còn là việc riêng của cácNHTM mà là sự quan tâm chung của cả NHNN, Chính phủ và xã hội
1.1.5 Tiêu chí cơ bản phản ánh nợ xấu
Các tiêu chí phản ánh mức độ nợ xấu của một NHTM gồm có:
- Tiêu chí 1: Tổng nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối
của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng
- Tiêu chí 2: Tỷ lệ giá trị các khoản nợ xấu/tổng dư nợ (tỷ lệ nợ xấu):
chỉ tiêu này cho biết mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tỷ lệ này phản ánh cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì cóbao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặckhông thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định Tỷ lệ này càng cao thì
Trang 30khả năng rủi ro càng cao Theo Thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tỷ lệ nợ xấunhỏ hơn 3%.
- Tiêu chí 3: Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng dư nợ và nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng dư nợ = Nợ xấu nội, ngoại bảng x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/ Tổng nợ xấu = Nợ xấu nội, ngoại bảng x 100%
Tổng nợ xấuCác chỉ số này phản ánh chỉ tiêu tương đối của nợ xấu nội, ngoại bảngmột cấu phần quan trọng của nợ xấu Đây là những chỉ tiêu phản ánh khátrung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của NH Tỷ lệ này càng lớn thì khảnăng rủi ro mất vốn của NH càng cao Cụ thể, với hai NH có cùng số nợ xấuthì NH nào có tỷ lệ nợ khó đòi/nợ xấu cao hơn sẽ có chỉ tiêu tuyệt đối về nợkhó đòi lớn hơn và tất nhiên là nguy cơ mất vốn sẽ cao hơn
Tiêu chí 4: Tỷ lệ dự phòng rủi ro được trích lập/Số dư nợ xấu:
Trang 31Việc xác định nợ xấu cần được NHTM thực hiện định kỳ và đột xuất ngaykhi khách hàng hoặc khoản vay có những biểu hiện nhất định:
a) Nhận diện từ phía khách hàng
- Dấu hiệu từ báo cáo tài chính
+ Nhận biết từ bảng cân đối kế toán:
Khách hàng gửi báo cáo tài chính chậm hoặc không gửi báo cáo tàichính thiếu lý do thuyết phục Số liệu báo có không đầy đủ, rõ ràng và thiếutrung thực Nguồn vốn chủ sở hữu giảm (trừ trường hợp chia tách doanhnghiệp) Thay đổi đáng kể trong cơ cấu bảng tổng kết tài sản Nợ phải trả tăngđột biến trong khi nhu cầu SXKD không có sự thay đổi lớn, vốn lưu độngròng âm, các khoản nợ dài hạn tăng đáng kể Các khoản phải thu tăng độtbiến, thời gian thu hồi nợ phải thu trung bình tăng, tỉ lệ các khoản phải thukhó đòi/tổng các khoản phải thu tăng
nợ xấu
Phòng ngừa