Nối tiếp phần 1, phần 2 của tài liệu Chữa bệnh cao huyết áp bằng phương pháp dưỡng sinh tiếp tục trình bày các nội dung chính sau: Dưỡng sinh đối với người bị cao huyết áp; Tự xoa bóp; Luyện thở; Luyện thư giãn; Bấm huyệt; Thể dục chống xơ cứng; Thứ tự kết hợp các phương pháp tập luyện; Ăn uống đối với bệnh tăng huyết áp. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1DƯỠNG SINH ĐỐI VỚI NGƯỜI
BỊ CAO HUYẾT ÁP
Tăng huyết áp, như trên đã trình bày, là một
bệnh khá phổ biến Ở giai đoạn I nếu được điều
trị tích cực có thể hồi phục Còn ở giai đoạn II thì
mục tiêu chủ yếu là điều trị ổn định lâu dài,
tránh chuyển sang giai đoạn III Ở đầu giai đoạn
II và trong giai đoạn II, cần tập luyện để huyết
áp ổn định ở mức cho phép, kéo dài cuộc sống
sinh hoạt, làm việc như bình thường Phác đồ
điều trị tăng huyết áp bằng tập Dưỡng sinh có
các nội dung sau:
TỰ XOA BÓP
Tự xoa bóp theo phương pháp y học cổ truyền
là xoa bóp cả tạng phủ bên trong và bên ngoài
Xoa bóp tạng phủ bên trong thông qua cách thở
sâu, thở cơ hoành Xoa bóp bên ngoài bao gồm xoa
bóp ngũ quan (tai, mắt, mũi, lưỡi, da), tay, chân,
thân mình, cả sau lưng nơi mà tay không sờ tới và
đáy thân (nơi hậu môn), có nghĩa là tác động tới
tất cả các bộ phận của cơ thể để chuyển vận khí huyết đi khắp nơi Việc xoa bóp ngũ quan là phương pháp được rút ra từ những kinh nghiệm lâu đời để giữ gìn sức khoẻ
Tự xoa bóp có tác dụng tốt đối với da như: làm sạch da, bóng da, tăng tính đàn hồi của da, kích thích các tuyến ở dưới da, đặc biệt có tác dụng giãn mạch ngoại biên Đối với tăng huyết áp, giãn mạch có ý nghĩa rất quan trọng làm cho máu trở
về tim tốt hơn Đặc biệt, dưới da có nhiều mút thần kinh, thông qua xoa bóp có thể gây hưng phấn nhẹ, tạo cảm giác dễ chịu
Đối với cơ: Tự xoa bóp có thể làm tăng tính đàn hồi của cơ, phục hồi sự mỏi mệt các cơ một cách nhanh chóng, làm tăng sức bền của cơ, làm giãn cơ, máu lưu thông tốt giúp cho sự điều hoà huyết áp, chống co cứng cơ Mặt khác, tự xoa bóp làm cho máu tới nuôi dưỡng cơ tốt, tránh đau nhức và teo cơ Đối với gân và dây chằng, xương khớp: Tự xoa bóp có khả năng làm mềm, giãn dây chằng, làm tăng dinh dưỡng khớp, tăng sự hoạt động của khớp, chống khô khớp, chống thấp khớp Do đó tự xoa bóp có thể tham gia tích cực vào việc chữa bệnh về khớp Khớp không đau đi lại vận động tốt
sẽ giúp cho hệ thống tuần hoàn làm việc tốt hơn - giúp cho huyết áp ổn định
Đối với hệ thần kinh: Tuỳ theo thủ thuật của
tự xoa bóp, mạnh, vừa hoặc nhẹ sẽ có ảnh hưởng
Trang 2DƯỠNG SINH ĐỐI VỚI NGƯỜI
BỊ CAO HUYẾT ÁP
Tăng huyết áp, như trên đã trình bày, là một
bệnh khá phổ biến Ở giai đoạn I nếu được điều
trị tích cực có thể hồi phục Còn ở giai đoạn II thì
mục tiêu chủ yếu là điều trị ổn định lâu dài,
tránh chuyển sang giai đoạn III Ở đầu giai đoạn
II và trong giai đoạn II, cần tập luyện để huyết
áp ổn định ở mức cho phép, kéo dài cuộc sống
sinh hoạt, làm việc như bình thường Phác đồ
điều trị tăng huyết áp bằng tập Dưỡng sinh có
các nội dung sau:
TỰ XOA BÓP
Tự xoa bóp theo phương pháp y học cổ truyền
là xoa bóp cả tạng phủ bên trong và bên ngoài
Xoa bóp tạng phủ bên trong thông qua cách thở
sâu, thở cơ hoành Xoa bóp bên ngoài bao gồm xoa
bóp ngũ quan (tai, mắt, mũi, lưỡi, da), tay, chân,
thân mình, cả sau lưng nơi mà tay không sờ tới và
đáy thân (nơi hậu môn), có nghĩa là tác động tới
tất cả các bộ phận của cơ thể để chuyển vận khí huyết đi khắp nơi Việc xoa bóp ngũ quan là phương pháp được rút ra từ những kinh nghiệm lâu đời để giữ gìn sức khoẻ
Tự xoa bóp có tác dụng tốt đối với da như: làm sạch da, bóng da, tăng tính đàn hồi của da, kích thích các tuyến ở dưới da, đặc biệt có tác dụng giãn mạch ngoại biên Đối với tăng huyết áp, giãn mạch có ý nghĩa rất quan trọng làm cho máu trở
về tim tốt hơn Đặc biệt, dưới da có nhiều mút thần kinh, thông qua xoa bóp có thể gây hưng phấn nhẹ, tạo cảm giác dễ chịu
Đối với cơ: Tự xoa bóp có thể làm tăng tính đàn hồi của cơ, phục hồi sự mỏi mệt các cơ một cách nhanh chóng, làm tăng sức bền của cơ, làm giãn cơ, máu lưu thông tốt giúp cho sự điều hoà huyết áp, chống co cứng cơ Mặt khác, tự xoa bóp làm cho máu tới nuôi dưỡng cơ tốt, tránh đau nhức và teo cơ Đối với gân và dây chằng, xương khớp: Tự xoa bóp có khả năng làm mềm, giãn dây chằng, làm tăng dinh dưỡng khớp, tăng sự hoạt động của khớp, chống khô khớp, chống thấp khớp Do đó tự xoa bóp có thể tham gia tích cực vào việc chữa bệnh về khớp Khớp không đau đi lại vận động tốt
sẽ giúp cho hệ thống tuần hoàn làm việc tốt hơn - giúp cho huyết áp ổn định
Đối với hệ thần kinh: Tuỳ theo thủ thuật của
tự xoa bóp, mạnh, vừa hoặc nhẹ sẽ có ảnh hưởng
Trang 3tới sự hưng phấn hay ức chế của thần kinh Khi
tăng huyết áp nên xoa bóp khắp cơ thể với thủ
thuật nhẹ hoặc vừa nhịp nhàng Như thế có thể
chữa được bệnh mất ngủ, hoặc thần kinh hoảng
hốt, rối loạn
Đối với hệ tuần hoàn: Tự xoa bóp có tác dụng
làm giãn các mạch máu ngoại biên, do đó máu trở
về tim nhanh hơn, giúp cho máu đi nuôi cơ thể tốt
hơn Tăng huyết áp có liên quan mật thiết với
trạng thái của mạch: khi co mạch máu thì huyết
áp tăng, khi giãn mạch máu thì huyết áp giảm
Vậy tự xoa bóp là cơ sở để điều chỉnh huyết áp
Khi mạch máu giãn sẽ giúp cho tim làm việc nhẹ
nhàng hơn
Đối với hô hấp: Tự xoa bóp giúp kích thích thở
sâu hoặc là trong lúc tiến hành tự xoa bóp nên kết
hợp thở có nhịp điệu, với động tác xoa bóp theo
phương pháp Dưỡng sinh Khi thở sâu sẽ giúp cho
việc chuyển hoá nội tạng bên trong được tốt hơn,
khả năng điều hoà huyết áp tốt hơn
Tự xoa bóp còn tham gia vào quá trình chống
xơ cứng tuổi già Người trẻ do không bị xơ cứng,
nên hoạt động linh hoạt, nhanh nhẹn, hình thể
đẹp Ngược lại người già cơ thể dần xơ cứng nên đi
đứng rất khó khăn, lưng còng, tai nghễnh ngãng,
mắt mờ, trí nhớ kém, mạch máu cũng bị xơ cứng
Tuổi già là một quá trình xơ cứng - điều đó có ảnh
hưởng trực tiếp làm cho huyết áp tăng cao Tự xoa
bóp làm cho khí huyết lưu thông trong ngoài giúp cho việc bồi dưỡng cơ thể; khi khí huyết lưu thông thì cơ thể sẽ không bị đau nhức, tăng cường được khả năng chống đỡ với bệnh tật, nhất là các bệnh
về tim mạch, huyết áp
Xo a b ó p ngũ q uan Phản ứng với bên ngoài là nhờ vào các giác quan của ngũ quan Muốn được nhanh nhẹn, nhất
là đối với người già, người bị huyết áp cao cần thường xuyên tập luyện phương pháp này
Về tư thế Tư thế ngồi là thuận tiện nhất, có thể ngồi kiểu hoa sen hay ngồi thõng chân để tiến hành xoa bóp (hình 1, 2, 3)
Hình 1 Hình 2 Hình 3
- Gãi đầu
Trước hết phải xoa tay cho nóng, đầu hơi cúi
Trang 4tới sự hưng phấn hay ức chế của thần kinh Khi
tăng huyết áp nên xoa bóp khắp cơ thể với thủ
thuật nhẹ hoặc vừa nhịp nhàng Như thế có thể
chữa được bệnh mất ngủ, hoặc thần kinh hoảng
hốt, rối loạn
Đối với hệ tuần hoàn: Tự xoa bóp có tác dụng
làm giãn các mạch máu ngoại biên, do đó máu trở
về tim nhanh hơn, giúp cho máu đi nuôi cơ thể tốt
hơn Tăng huyết áp có liên quan mật thiết với
trạng thái của mạch: khi co mạch máu thì huyết
áp tăng, khi giãn mạch máu thì huyết áp giảm
Vậy tự xoa bóp là cơ sở để điều chỉnh huyết áp
Khi mạch máu giãn sẽ giúp cho tim làm việc nhẹ
nhàng hơn
Đối với hô hấp: Tự xoa bóp giúp kích thích thở
sâu hoặc là trong lúc tiến hành tự xoa bóp nên kết
hợp thở có nhịp điệu, với động tác xoa bóp theo
phương pháp Dưỡng sinh Khi thở sâu sẽ giúp cho
việc chuyển hoá nội tạng bên trong được tốt hơn,
khả năng điều hoà huyết áp tốt hơn
Tự xoa bóp còn tham gia vào quá trình chống
xơ cứng tuổi già Người trẻ do không bị xơ cứng,
nên hoạt động linh hoạt, nhanh nhẹn, hình thể
đẹp Ngược lại người già cơ thể dần xơ cứng nên đi
đứng rất khó khăn, lưng còng, tai nghễnh ngãng,
mắt mờ, trí nhớ kém, mạch máu cũng bị xơ cứng
Tuổi già là một quá trình xơ cứng - điều đó có ảnh
hưởng trực tiếp làm cho huyết áp tăng cao Tự xoa
bóp làm cho khí huyết lưu thông trong ngoài giúp cho việc bồi dưỡng cơ thể; khi khí huyết lưu thông thì cơ thể sẽ không bị đau nhức, tăng cường được khả năng chống đỡ với bệnh tật, nhất là các bệnh
về tim mạch, huyết áp
Xo a b ó p ngũ q uan Phản ứng với bên ngoài là nhờ vào các giác quan của ngũ quan Muốn được nhanh nhẹn, nhất
là đối với người già, người bị huyết áp cao cần thường xuyên tập luyện phương pháp này
Về tư thế Tư thế ngồi là thuận tiện nhất, có thể ngồi kiểu hoa sen hay ngồi thõng chân để tiến hành xoa bóp (hình 1, 2, 3)
Hình 1 Hình 2 Hình 3
- Gãi đầu
Trước hết phải xoa tay cho nóng, đầu hơi cúi
Trang 5xuống, hai tay đặt dưới trán dùng các ngón tay
luồn vào chân tóc vuốt sát da đầu từ trước ra sau,
làm như thế 10 lần (hình 4, 5)
Hình 4 Hình 5
- Xoa bóp tai và loa tai
Hai tai có nhiều huyệt châm, các huyệt này có
thể trị nhiều bệnh trong cơ thể Phía trước và
phía sau tai có các huyệt chữa điếc tai và ù tai
Xoa nóng 2 bàn tay, dùng lòng bàn tay xát lên
xát xuống 2 bên loa tai làm cho tai nóng lên, làm
như thế từ 10 đến 20 lần
Áp vào màng nhĩ Úp 2 lòng bàn tay vào 2 lỗ
tai, ấn bịt lỗ tai để cho hơi trong lỗ tai áp vào màng
nhĩ rồi mở nhanh hai bàn tay ra cùng một lúc để
cho màng nhĩ được tác động Động tác này có tác
dụng đến tai giữa và tai trong vì màng nhĩ chuyển
rung động đến các phần của tai trong, có tác dụng
chống xơ cứng, làm cho khí huyết lưu thông ở tai
trong, làm như thế từ 5 đến 10 lần (hình 6, 7)
Hình 6 Hình 7
Động tác đánh trống trời Hai lòng bàn tay áp vào lỗ tai cho kín, các ngón tay đặt phía sau gáy, ngón trỏ đè lên ngón giữa rồi dùng sức bật ngón trỏ xuống đánh nhẹ vào vùng gáy sẽ gây ra tiếng vang, sau đó nhanh chóng đặt ngón trỏ lên ngón giữa tiếp tục bật xuống Động tác này làm từ 10 đến 20 lần (hình 8, 9)
Hình 8
Trang 6xuống, hai tay đặt dưới trán dùng các ngón tay
luồn vào chân tóc vuốt sát da đầu từ trước ra sau,
làm như thế 10 lần (hình 4, 5)
Hình 4 Hình 5
- Xoa bóp tai và loa tai
Hai tai có nhiều huyệt châm, các huyệt này có
thể trị nhiều bệnh trong cơ thể Phía trước và
phía sau tai có các huyệt chữa điếc tai và ù tai
Xoa nóng 2 bàn tay, dùng lòng bàn tay xát lên
xát xuống 2 bên loa tai làm cho tai nóng lên, làm
như thế từ 10 đến 20 lần
Áp vào màng nhĩ Úp 2 lòng bàn tay vào 2 lỗ
tai, ấn bịt lỗ tai để cho hơi trong lỗ tai áp vào màng
nhĩ rồi mở nhanh hai bàn tay ra cùng một lúc để
cho màng nhĩ được tác động Động tác này có tác
dụng đến tai giữa và tai trong vì màng nhĩ chuyển
rung động đến các phần của tai trong, có tác dụng
chống xơ cứng, làm cho khí huyết lưu thông ở tai
trong, làm như thế từ 5 đến 10 lần (hình 6, 7)
Hình 6 Hình 7
Động tác đánh trống trời Hai lòng bàn tay áp vào lỗ tai cho kín, các ngón tay đặt phía sau gáy, ngón trỏ đè lên ngón giữa rồi dùng sức bật ngón trỏ xuống đánh nhẹ vào vùng gáy sẽ gây ra tiếng vang, sau đó nhanh chóng đặt ngón trỏ lên ngón giữa tiếp tục bật xuống Động tác này làm từ 10 đến 20 lần (hình 8, 9)
Hình 8
Trang 7Hình 9
- Xoa mắt
Dùng 2 đầu ngón tay trỏ đặt tại đầu hai lông
mày rồi xoa vòng tròn xuôi theo chiều lông mày
vòng quanh hố mắt Nếu muốn mạnh hơn, nắm
bàn tay lại dùng phía sau ngón cái đặt vào hai
đầu lông mày rồi miết xuôi theo chiều lông mày
vòng quanh hố mắt (Động tác này làm từ 10 đến
20 lần)
Vuốt nhẹ mi trên Mắt nhắm nhẹ, dùng đầu
ngón tay vuốt nhẹ từ đầu mắt đến cuối mắt (làm
động tác này từ 3 đến 5 lần)
Day vào huyệt tinh minh Huyệt tinh minh vị
trí ở góc trong mắt, sát cánh mũi Tác động day
vào huyệt này có tác dụng làm sáng mắt, nhuận
mắt Dùng ngón tay trỏ day vào huyệt tinh minh
ở hai bên, day khoảng 4 đến 10 phút (hình 10,
11, 12)
Hình 10
Hình 11 Hình 12
- Xoa mũi
Nghiêng bàn tay, dùng phía ngón trỏ xoa mũi
từ dưới lên, từ trên xuống tốc độ hơi nhanh làm cho cánh mũi nóng lên
Vị trí xoa: từ huyệt nghênh hương sát chân cánh mũi đến huyệt tinh minh góc trong mắt (hình 13, 14, 15) Vuốt đầu lỗ mũi rồi bẻ lỗ mũi qua lại (hình 17)
Trang 8Hình 9
- Xoa mắt
Dùng 2 đầu ngón tay trỏ đặt tại đầu hai lông
mày rồi xoa vòng tròn xuôi theo chiều lông mày
vòng quanh hố mắt Nếu muốn mạnh hơn, nắm
bàn tay lại dùng phía sau ngón cái đặt vào hai
đầu lông mày rồi miết xuôi theo chiều lông mày
vòng quanh hố mắt (Động tác này làm từ 10 đến
20 lần)
Vuốt nhẹ mi trên Mắt nhắm nhẹ, dùng đầu
ngón tay vuốt nhẹ từ đầu mắt đến cuối mắt (làm
động tác này từ 3 đến 5 lần)
Day vào huyệt tinh minh Huyệt tinh minh vị
trí ở góc trong mắt, sát cánh mũi Tác động day
vào huyệt này có tác dụng làm sáng mắt, nhuận
mắt Dùng ngón tay trỏ day vào huyệt tinh minh
ở hai bên, day khoảng 4 đến 10 phút (hình 10,
11, 12)
Hình 10
Hình 11 Hình 12
- Xoa mũi
Nghiêng bàn tay, dùng phía ngón trỏ xoa mũi
từ dưới lên, từ trên xuống tốc độ hơi nhanh làm cho cánh mũi nóng lên
Vị trí xoa: từ huyệt nghênh hương sát chân cánh mũi đến huyệt tinh minh góc trong mắt (hình 13, 14, 15) Vuốt đầu lỗ mũi rồi bẻ lỗ mũi qua lại (hình 17)
Trang 9Hình 13 Hình 14
Hình 15 Hình 16
Dùng ngón tay cái bịt một bên cánh mũi rồi
hít thở sâu, sau đó lại chuyển sang cánh mũi
bên đối diện cũng hít thở sâu, làm như thế 10
đến 15 lần Chủ yếu kiểm tra sự thở của hai
bên mũi, nếu bị nghẹt thì cần day huyệt
nghênh hương
Day huyệt nghênh hương Dùng hai đầu ngón tay của ngón trỏ day vào huyệt nghênh hương (sát hai bên cánh mũi) có tác dụng trị bệnh ngạt mũi,
sổ mũi (hình 16)
- Xoa miệng - gõ răng - đảo lưỡi
Dùng lòng bàn tay bên này sát miệng và má bên kia từ miệng đến tai và từ tai đến miệng Tác dụng làm giãn mạch máu ở mắt (hình 18, 19)
Hình 17 Hình 18 Hình 19
Gõ răng Hai bên răng hàm gõ vào nhau 10 lần; răng cửa gõ vào nhau 10 lần có tác dụng làm chắc răng, ăn ngon
Đảo lưỡi Dùng đầu lưỡi đảo vòng tròn ngoài lợi kết hợp với đảo mắt theo chiều thuận và ngược kim đồng hồ từ 5 đến 10 lần
Dùng đầu lưỡi đảo vòng tròn trong lợi cũng
Trang 10Hình 13 Hình 14
Hình 15 Hình 16
Dùng ngón tay cái bịt một bên cánh mũi rồi
hít thở sâu, sau đó lại chuyển sang cánh mũi
bên đối diện cũng hít thở sâu, làm như thế 10
đến 15 lần Chủ yếu kiểm tra sự thở của hai
bên mũi, nếu bị nghẹt thì cần day huyệt
nghênh hương
Day huyệt nghênh hương Dùng hai đầu ngón tay của ngón trỏ day vào huyệt nghênh hương (sát hai bên cánh mũi) có tác dụng trị bệnh ngạt mũi,
sổ mũi (hình 16)
- Xoa miệng - gõ răng - đảo lưỡi
Dùng lòng bàn tay bên này sát miệng và má bên kia từ miệng đến tai và từ tai đến miệng Tác dụng làm giãn mạch máu ở mắt (hình 18, 19)
Hình 17 Hình 18 Hình 19
Gõ răng Hai bên răng hàm gõ vào nhau 10 lần; răng cửa gõ vào nhau 10 lần có tác dụng làm chắc răng, ăn ngon
Đảo lưỡi Dùng đầu lưỡi đảo vòng tròn ngoài lợi kết hợp với đảo mắt theo chiều thuận và ngược kim đồng hồ từ 5 đến 10 lần
Dùng đầu lưỡi đảo vòng tròn trong lợi cũng
Trang 11từ 5 đến 10 lần, có tác dụng kích thích cảm giác
ăn ngon, tăng khả năng vị giác
Chú ý khi đảo lưỡi nếu không bị sâu răng có
thể nuốt nước bọt xuống dạ dày giúp tăng cường
tiêu hoá (hình 20, 21)
Hình 20 Hình 21 Hình 22
Tróc lưỡi Đưa lưỡi vào vòm họng và tróc lưỡi
từ 10 đến 20 lần, đưa vào sâu trong họng càng tốt
(hình 22)
Xoa cổ Ngửa đầu ra sau, dùng 2 lòng bàn tay
xoa cổ từ trên xuống dưới rồi xoa từ dưới lên
trên Xoa nhẹ nhàng có tác dụng phòng và trị ho,
viêm họng
Chú ý: Chỗ lõm trên xương ức có huyệt thiên
đột có thể bấm và day để tăng cường tác dụng
phòng các bệnh ở hầu họng (hình 23, 24)
Hình 23 Hình 24
Xo a tam tiêu Tam tiêu có thể tương ứng với 3 vùng của cơ thể: Vùng bụng dưới (hạ tiêu), vùng bụng trên (trung tiêu) và vùng ngực (thượng tiêu)
Vùng bụng dưới có bộ phận sinh dục, bọng đái, ruột già, ruột non, đám rối thần kinh
Vùng bụng trên có
dạ dày, ruột non, tụy, gan, lá lách, đám rối thần kinh
Chú ý: Động tác xoa bóp phải làm từ nhẹ đến mạnh để có tác động ít nhiều đến các bộ phận ở sâu trong mỗi vùng Cần chọn tư thế phù hợp, Hình 25
Trang 12từ 5 đến 10 lần, có tác dụng kích thích cảm giác
ăn ngon, tăng khả năng vị giác
Chú ý khi đảo lưỡi nếu không bị sâu răng có
thể nuốt nước bọt xuống dạ dày giúp tăng cường
tiêu hoá (hình 20, 21)
Hình 20 Hình 21 Hình 22
Tróc lưỡi Đưa lưỡi vào vòm họng và tróc lưỡi
từ 10 đến 20 lần, đưa vào sâu trong họng càng tốt
(hình 22)
Xoa cổ Ngửa đầu ra sau, dùng 2 lòng bàn tay
xoa cổ từ trên xuống dưới rồi xoa từ dưới lên
trên Xoa nhẹ nhàng có tác dụng phòng và trị ho,
viêm họng
Chú ý: Chỗ lõm trên xương ức có huyệt thiên
đột có thể bấm và day để tăng cường tác dụng
phòng các bệnh ở hầu họng (hình 23, 24)
Hình 23 Hình 24
Xo a tam tiêu Tam tiêu có thể tương ứng với 3 vùng của cơ thể: Vùng bụng dưới (hạ tiêu), vùng bụng trên (trung tiêu) và vùng ngực (thượng tiêu)
Vùng bụng dưới có bộ phận sinh dục, bọng đái, ruột già, ruột non, đám rối thần kinh
Vùng bụng trên có
dạ dày, ruột non, tụy, gan, lá lách, đám rối thần kinh
Chú ý: Động tác xoa bóp phải làm từ nhẹ đến mạnh để có tác động ít nhiều đến các bộ phận ở sâu trong mỗi vùng Cần chọn tư thế phù hợp, Hình 25
Trang 13thường ở tư thế ngồi thõng chân, hoặc ngồi xếp
bằng Tùy theo từng vùng có thể nắm tay như khi
xoa bóp hạ tiêu hoặc xòe tay như khi xoa bóp
trung tiêu hoặc thượng tiêu (hình 25, 26, 27)
Hình 26 Hình 27
- Xoa bóp hạ tiêu
Một tay nắm lại, tay kia úp lên trên, để tăng
áp lực Đặt tay ở vùng bàng quang xoa tròn theo
chiều kim đồng hồ từ 10 đến 20 lần rồi xoa theo
chiều ngược lại từ 10 đến 20 lần Chữa khỏi đái
đêm, đái són, trị viêm bàng quang (hình 28)
- Xoa bóp trung tiêu
Đặt tay ở trên rốn Một tay nắm lại, tay kia úp
lên trên xoa thuận và ngược chiều kim đồng hồ
vòng quanh bụng trên, từ rốn đến mũi ức Nếu
bụng có nhiều mỡ dày thì dùng các đầu ngón tay
bóp da bụng có tác dụng làm tăng tuần hoàn ở vùng bụng Đối với những người bị huyết áp cao nên tăng cường xoa bóp ở vùng này (hình 29)
- Xoa bóp thượng tiêu
Một bàn tay xoè ra ốp lên ngực, bàn tay kia
úp chồng lên Xoa vòng tròn vùng ngực thuận và ngược chiều kim đồng hồ từ 10 đến 20 lần hoặc dùng tay xoa vòng số tám tránh đầu vú Trong quá trình xoa bóp có thể kết hợp với thở sâu (hình 30)
Hình 28 Hình 29 Hình 30
Xo a b ó p vùng thận Vùng thận nằm ở sau lưng và trên thắt lưng Vùng thận có 2 quả thận và 2 tuyến thượng thận Đông y gọi là thận thủy, thận hỏa và bắp cơ lưng Nếu tích cực xoa bóp vùng thận sẽ có tác dụng làm ấm thận, bổ thận, chữa được đau lưng cấp và mãn, điều hòa âm dương của thận
Trang 14thường ở tư thế ngồi thõng chân, hoặc ngồi xếp
bằng Tùy theo từng vùng có thể nắm tay như khi
xoa bóp hạ tiêu hoặc xòe tay như khi xoa bóp
trung tiêu hoặc thượng tiêu (hình 25, 26, 27)
Hình 26 Hình 27
- Xoa bóp hạ tiêu
Một tay nắm lại, tay kia úp lên trên, để tăng
áp lực Đặt tay ở vùng bàng quang xoa tròn theo
chiều kim đồng hồ từ 10 đến 20 lần rồi xoa theo
chiều ngược lại từ 10 đến 20 lần Chữa khỏi đái
đêm, đái són, trị viêm bàng quang (hình 28)
- Xoa bóp trung tiêu
Đặt tay ở trên rốn Một tay nắm lại, tay kia úp
lên trên xoa thuận và ngược chiều kim đồng hồ
vòng quanh bụng trên, từ rốn đến mũi ức Nếu
bụng có nhiều mỡ dày thì dùng các đầu ngón tay
bóp da bụng có tác dụng làm tăng tuần hoàn ở vùng bụng Đối với những người bị huyết áp cao nên tăng cường xoa bóp ở vùng này (hình 29)
- Xoa bóp thượng tiêu
Một bàn tay xoè ra ốp lên ngực, bàn tay kia
úp chồng lên Xoa vòng tròn vùng ngực thuận và ngược chiều kim đồng hồ từ 10 đến 20 lần hoặc dùng tay xoa vòng số tám tránh đầu vú Trong quá trình xoa bóp có thể kết hợp với thở sâu (hình 30)
Hình 28 Hình 29 Hình 30
Xo a b ó p vùng thận Vùng thận nằm ở sau lưng và trên thắt lưng Vùng thận có 2 quả thận và 2 tuyến thượng thận Đông y gọi là thận thủy, thận hỏa và bắp cơ lưng Nếu tích cực xoa bóp vùng thận sẽ có tác dụng làm ấm thận, bổ thận, chữa được đau lưng cấp và mãn, điều hòa âm dương của thận
Trang 15Bàn tay xòe ra ôm lấy vùng thắt lưng rồi xát
lên xát xuống cho thật nóng (động tác này nên
làm nhịp nhàng) Có thể nắm nhẹ bàn tay rồi xát
vào vùng lưng sẽ có tác dụng mạnh hơn Trong lúc
xoa xát, mỗi tay có thể đưa lên xuống đổi chiều
nhau mỗi bên từ 20 đến 40 lần (hình 31)
Hình 31
Xo a b óp tay
Ngồi thõng chân, hoặc ngồi xếp bằng, dùng
lòng bàn tay bên này xoa bóp tay kia Bắt đầu từ
phía ngoài vùng vai rồi xoa xuống vùng cánh tay,
cẳng tay và bàn tay trong lúc bàn tay để úp, rồi
lật ngửa bàn tay, tiếp tục xoa phía trong từ bàn
tay lên cẳng tay, cánh tay, vùng vai ngực Làm
như thế từ 10 đến 20 lần, sau đó đổi tay xoa phía
tay bên kia
Bóp tay, dùng lòng bàn tay và các ngón tay
bóp theo chiều như khi xoa tăng từ 5 đến 10 lần
(hình 32)
Hình 32
Xo a b ó p c hân Một tay đặt bên mông, một tay đặt trên đùi xoa từ trên xuống dưới, từ phía trước đùi xuống cẳng chân rồi xuống mắt cá chân Sau đó từ từ nhấc lên, hai tay vòng ra phía sau cổ chân, tiếp tục xoa phía sau từ dưới lên tới đùi Hạ chân xuống tiếp tục xoa vùng mông từ 10 đến 20 lần Tiếp đó chuyển sang xoa chân bên kia (hình 33)
Hình 33
Trang 16Bàn tay xòe ra ôm lấy vùng thắt lưng rồi xát
lên xát xuống cho thật nóng (động tác này nên
làm nhịp nhàng) Có thể nắm nhẹ bàn tay rồi xát
vào vùng lưng sẽ có tác dụng mạnh hơn Trong lúc
xoa xát, mỗi tay có thể đưa lên xuống đổi chiều
nhau mỗi bên từ 20 đến 40 lần (hình 31)
Hình 31
Xo a b óp tay
Ngồi thõng chân, hoặc ngồi xếp bằng, dùng
lòng bàn tay bên này xoa bóp tay kia Bắt đầu từ
phía ngoài vùng vai rồi xoa xuống vùng cánh tay,
cẳng tay và bàn tay trong lúc bàn tay để úp, rồi
lật ngửa bàn tay, tiếp tục xoa phía trong từ bàn
tay lên cẳng tay, cánh tay, vùng vai ngực Làm
như thế từ 10 đến 20 lần, sau đó đổi tay xoa phía
tay bên kia
Bóp tay, dùng lòng bàn tay và các ngón tay
bóp theo chiều như khi xoa tăng từ 5 đến 10 lần
(hình 32)
Hình 32
Xo a b ó p c hân Một tay đặt bên mông, một tay đặt trên đùi xoa từ trên xuống dưới, từ phía trước đùi xuống cẳng chân rồi xuống mắt cá chân Sau đó từ từ nhấc lên, hai tay vòng ra phía sau cổ chân, tiếp tục xoa phía sau từ dưới lên tới đùi Hạ chân xuống tiếp tục xoa vùng mông từ 10 đến 20 lần Tiếp đó chuyển sang xoa chân bên kia (hình 33)
Hình 33
Trang 17Xo a lò ng b àn c hân
Hai lòng bàn chân áp vào nhau rồi chà xát với
nhau cho nóng lên (hình 34)
Hình 34
Xoa mu chân, dùng cạnh ngoài bàn chân bên
này, xát lên mu bàn chân bên kia, xát lên xuống
có nhiều phương pháp; người bị cao huyết áp nên chọn cách thở phù hợp
Tác d ụng c ủa luyện thở
Bộ máy hô hấp hoạt động tự động, nhưng vỏ não của con người cũng có khả năng điều khiển và điều hòa hô hấp Điều đó có nghĩa là chúng ta có thể thở theo ý muốn dưới nhiều hình thức khác nhau để cải thiện chức năng hô hấp, giữ vững và tăng cường hoạt động của bộ máy hô hấp, cụ thể
là làm cho đường hô hấp được thông, phổi co giãn được dễ dàng, cơ thể hấp thu đầy đủ ôxy và thải đúng mức khí cacbonic Về mặt sinh lý, bộ máy hô hấp có quan hệ hữu cơ với các bộ máy thần kinh, tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết và vận động, vì vậy rèn luyện thở có ảnh hưởng tốt đến các cơ quan bên trong cơ thể
Thế nào là thở tốt
Thở tốt là bảo đảm thở hợp vệ sinh, tốn ít sức
mà thông khí phổi đúng với nhu cầu của cơ thể trong mọi lúc và mọi hoàn cảnh Muốn thở tốt,
Trang 18Xo a lò ng b àn c hân
Hai lòng bàn chân áp vào nhau rồi chà xát với
nhau cho nóng lên (hình 34)
Hình 34
Xoa mu chân, dùng cạnh ngoài bàn chân bên
này, xát lên mu bàn chân bên kia, xát lên xuống
có nhiều phương pháp; người bị cao huyết áp nên chọn cách thở phù hợp
Tác d ụng c ủa luyện thở
Bộ máy hô hấp hoạt động tự động, nhưng vỏ não của con người cũng có khả năng điều khiển và điều hòa hô hấp Điều đó có nghĩa là chúng ta có thể thở theo ý muốn dưới nhiều hình thức khác nhau để cải thiện chức năng hô hấp, giữ vững và tăng cường hoạt động của bộ máy hô hấp, cụ thể
là làm cho đường hô hấp được thông, phổi co giãn được dễ dàng, cơ thể hấp thu đầy đủ ôxy và thải đúng mức khí cacbonic Về mặt sinh lý, bộ máy hô hấp có quan hệ hữu cơ với các bộ máy thần kinh, tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết và vận động, vì vậy rèn luyện thở có ảnh hưởng tốt đến các cơ quan bên trong cơ thể
Thế nào là thở tốt
Thở tốt là bảo đảm thở hợp vệ sinh, tốn ít sức
mà thông khí phổi đúng với nhu cầu của cơ thể trong mọi lúc và mọi hoàn cảnh Muốn thở tốt,
Trang 19chúng ta phải rèn luyện thở để đạt được các yêu
cầu sau đây:
- Yêu cầu trước tiên là thở đúng theo phương
pháp vệ sinh, chủ yếu là thở bằng mũi Hít vào và
thở ra đều bằng mũi có tác dụng cản bụi và dễ
điều khiển hơi thở Thở hai lỗ mũi đều nhau
Hằng ngày cần kiểm tra lỗ mũi nào không thông
phải chữa ngay
- Yêu cầu thứ hai là vận dụng kiến thức khoa
học để điều khiển các cơ hô hấp Tuỳ theo yêu cầu
của cơ thể về hấp thụ ôxy và thải bỏ khí cacbonic
mà vận dụng ít hay nhiều cơ hô hấp, cơ hô hấp
nào là chính để vừa tiết kiệm sức vừa đạt hiệu
quả cao
- Yêu cầu thứ ba là điều chỉnh một cách hợp lý
nhịp thở và độ sâu hô hấp Nên thở sâu, dài với
nhịp thở chậm, êm dịu Khi luyện thở ở tư thế
tĩnh hay ở tư thế động cần điều hoà nhịp thở cho
phù hợp với động tác
Rèn luyện thở để cải thiện và nâng cao chức
năng hô hấp
Khi rèn luyện thở yêu cầu thở êm, sâu, chậm
và đều, các cơ hô hấp nhất là cơ hoành phải được
hoạt động mạnh mẽ, thường xuyên, lồng ngực nở
rộng và co giãn tốt Mục đích của luyện thở là
phải xây dựng được phản xạ co giãn cơ hoành, để
lúc nghỉ ngơi ta cũng có thói quen thở sâu hơn so với khi chưa luyện tập Khi hít thở sâu, tất cả các phế nang đều được giãn nở do đó hít được nhiều không khí; khi thở ra tất cả các phế nang co lại tống được nhiều thán khí ra ngoài làm cho lượng khí lưu thông tăng rõ rệt Có người đứng tuổi, lượng khí lưu thông trung bình là 0,5 lít; khi thở sâu lượng khí lưu thông cao hơn rất nhiều, có thể
từ 2 đến 3 lít
Sau một thời gian rèn luyện thở, chức năng hô hấp tăng rõ rệt: dung tích sống, khả năng thông khí phổi tối đa trong một giây, khả năng nín thở khi thở ra đều tăng, nhịp thở trở nên sâu hơn, đều đặn và thong thả, xây dựng được thói quen thở sâu Những người lớn tuổi bị thiểu năng hô hấp, rối loạn hô hấp, nếu được rèn luyện thở, chức năng hô hấp sẽ được cải thiện dần dần
Ảnh hưởng của rèn luyện thở đến hệ tuần hoàn
- Thở sâu có tác dụng to lớn trong việc trao đổi khí Phổi có rất nhiều mạch máu, do đó ở phổi, không khí tiếp xúc với làn máu rất mỏng nhưng rất rộng vì mao mạch nhiều Người ta ước lượng
bề mặt phổi giãn ra chừng 150m² thì làn máu đã chiếm 2/3 bề mặt đó Sau một thời gian nhất định,
ở những người luyện thở, các phế nang đều co giãn tốt, tiếp xúc giữa máu và không khí tăng lên làm cho sự trao đổi khí tăng
Trang 20chúng ta phải rèn luyện thở để đạt được các yêu
cầu sau đây:
- Yêu cầu trước tiên là thở đúng theo phương
pháp vệ sinh, chủ yếu là thở bằng mũi Hít vào và
thở ra đều bằng mũi có tác dụng cản bụi và dễ
điều khiển hơi thở Thở hai lỗ mũi đều nhau
Hằng ngày cần kiểm tra lỗ mũi nào không thông
phải chữa ngay
- Yêu cầu thứ hai là vận dụng kiến thức khoa
học để điều khiển các cơ hô hấp Tuỳ theo yêu cầu
của cơ thể về hấp thụ ôxy và thải bỏ khí cacbonic
mà vận dụng ít hay nhiều cơ hô hấp, cơ hô hấp
nào là chính để vừa tiết kiệm sức vừa đạt hiệu
quả cao
- Yêu cầu thứ ba là điều chỉnh một cách hợp lý
nhịp thở và độ sâu hô hấp Nên thở sâu, dài với
nhịp thở chậm, êm dịu Khi luyện thở ở tư thế
tĩnh hay ở tư thế động cần điều hoà nhịp thở cho
phù hợp với động tác
Rèn luyện thở để cải thiện và nâng cao chức
năng hô hấp
Khi rèn luyện thở yêu cầu thở êm, sâu, chậm
và đều, các cơ hô hấp nhất là cơ hoành phải được
hoạt động mạnh mẽ, thường xuyên, lồng ngực nở
rộng và co giãn tốt Mục đích của luyện thở là
phải xây dựng được phản xạ co giãn cơ hoành, để
lúc nghỉ ngơi ta cũng có thói quen thở sâu hơn so với khi chưa luyện tập Khi hít thở sâu, tất cả các phế nang đều được giãn nở do đó hít được nhiều không khí; khi thở ra tất cả các phế nang co lại tống được nhiều thán khí ra ngoài làm cho lượng khí lưu thông tăng rõ rệt Có người đứng tuổi, lượng khí lưu thông trung bình là 0,5 lít; khi thở sâu lượng khí lưu thông cao hơn rất nhiều, có thể
từ 2 đến 3 lít
Sau một thời gian rèn luyện thở, chức năng hô hấp tăng rõ rệt: dung tích sống, khả năng thông khí phổi tối đa trong một giây, khả năng nín thở khi thở ra đều tăng, nhịp thở trở nên sâu hơn, đều đặn và thong thả, xây dựng được thói quen thở sâu Những người lớn tuổi bị thiểu năng hô hấp, rối loạn hô hấp, nếu được rèn luyện thở, chức năng hô hấp sẽ được cải thiện dần dần
Ảnh hưởng của rèn luyện thở đến hệ tuần hoàn
- Thở sâu có tác dụng to lớn trong việc trao đổi khí Phổi có rất nhiều mạch máu, do đó ở phổi, không khí tiếp xúc với làn máu rất mỏng nhưng rất rộng vì mao mạch nhiều Người ta ước lượng
bề mặt phổi giãn ra chừng 150m² thì làn máu đã chiếm 2/3 bề mặt đó Sau một thời gian nhất định,
ở những người luyện thở, các phế nang đều co giãn tốt, tiếp xúc giữa máu và không khí tăng lên làm cho sự trao đổi khí tăng
Trang 21- Thở sâu có tác dụng cải tạo trái tim nhỏ yếu
Lồng ngực lép kẹp sẽ ảnh hưởng đến sự thông khí
phổi và sự cung cấp đầy đủ ôxy cho cơ thể Trong
lồng ngực lép kẹp, trái tim không thể nở to, nên
nhỏ hẹp và yếu Lúc nghỉ ngơi trái tim cũng phải
co bóp nhanh mới tạm cung cấp đủ máu cho cơ
thể Khi vận động, tim nhỏ và yếu càng không đủ
sức cung cấp máu cho cơ thể, nên khả năng vận
động bị hạn chế và người chóng mệt mỏi Rèn
luyện thở sâu làm lồng ngực nở nang, tăng cường
thông khí phổi, đồng thời có tác dụng làm tim co
bóp tốt hơn, động mạch vành giãn nở tốt hơn,
chuyển nhiều máu đến nuôi dưỡng cơ tim, tạo
điều kiện cho cơ tim phát triển, trái tim sẽ thay
hình đổi dạng sau một thời gian rèn luyện thở
sâu, có đủ khả năng thích ứng với vận động
- Thở sâu giúp cho máu tĩnh mạch trở về tim
dễ dàng, do đó làm giảm gánh nặng cho tim Máu
tĩnh mạch về tim được là nhờ nhiều yếu tố giúp
cho tuần hoàn tĩnh mạch như: sức bơm của tim,
sức hút của tim và lồng ngực, lực co bóp của các cơ
khi vận động, sức đẩy của động mạch Trong các
yếu tố đó, yếu tố sức hút của lồng ngực khi giãn
nở đáng được chú ý, vì càng thở sâu thì sức hút
của lồng ngực càng mạnh Cơ chế của hiện tượng
tăng giảm áp lực trong tĩnh mạch là sự biến đổi
áp suất trong lồng ngực Khi hít vào, các cơ hô
hấp làm cho thể tích lồng ngực to ra và áp suất
trong lồng ngực hạ thấp (áp suất âm), nhờ đó mà không khí được hút vào phổi Còn khi thở ra thì ảnh hưởng sẽ ngược lại Mỗi khi hít vào sâu, tác dụng hút của lồng ngực càng lớn, máu tĩnh mạch được hút về tim càng mạnh Khi thở ra hết, tác dụng đẩy máu ở tim tăng hơn lúc bình thường Mặt khác, khi thở sâu có sự tham gia tích cực của
cơ hoành là cơ hít vào chính có ảnh hưởng đến tuần hoàn tĩnh mạch Mỗi lần cơ hoành chuyển động, vòm hoành hạ xuống ép các tạng phủ trong bụng, cùng lúc đó áp suất trong lồng ngực giảm làm cho tuần hoàn tĩnh mạch ổ bụng và ngực được dễ dàng hơn Ví dụ, trước khi nghỉ ngơi, tim bóp mỗi phút 70 lần, sau một thời gian rèn luyện thở, tần số tim bóp giảm xuống 60 lần trong 1 phút hay ít hơn nhưng sự cung cấp ôxy cho cơ thể vẫn đầy đủ Nếu mỗi phút tim co bóp giảm hơn trước 10 lần thì mỗi giờ tim co bóp giảm đi khoảng
600 lần và cả ngày giảm đi 14.400 lần Trái tim co bóp thong thả, có nhiều thời gian nghỉ ngơi bớt tiêu hao năng lượng, vì vậy có thể nói thở sâu vừa
có tác dụng làm giảm ứ máu ở các tạng trong bụng, tăng cường lượng máu lưu thông, đồng thời giảm gánh nặng cho tim
- Thở sâu có tác dụng tăng cường chuyển hoá
mỡ trong máu, góp phần phòng bệnh xơ vữa động mạch, xơ cứng động mạch Điều đó có tác dụng rất tốt giúp cho người cao huyết áp tránh
Trang 22- Thở sâu có tác dụng cải tạo trái tim nhỏ yếu
Lồng ngực lép kẹp sẽ ảnh hưởng đến sự thông khí
phổi và sự cung cấp đầy đủ ôxy cho cơ thể Trong
lồng ngực lép kẹp, trái tim không thể nở to, nên
nhỏ hẹp và yếu Lúc nghỉ ngơi trái tim cũng phải
co bóp nhanh mới tạm cung cấp đủ máu cho cơ
thể Khi vận động, tim nhỏ và yếu càng không đủ
sức cung cấp máu cho cơ thể, nên khả năng vận
động bị hạn chế và người chóng mệt mỏi Rèn
luyện thở sâu làm lồng ngực nở nang, tăng cường
thông khí phổi, đồng thời có tác dụng làm tim co
bóp tốt hơn, động mạch vành giãn nở tốt hơn,
chuyển nhiều máu đến nuôi dưỡng cơ tim, tạo
điều kiện cho cơ tim phát triển, trái tim sẽ thay
hình đổi dạng sau một thời gian rèn luyện thở
sâu, có đủ khả năng thích ứng với vận động
- Thở sâu giúp cho máu tĩnh mạch trở về tim
dễ dàng, do đó làm giảm gánh nặng cho tim Máu
tĩnh mạch về tim được là nhờ nhiều yếu tố giúp
cho tuần hoàn tĩnh mạch như: sức bơm của tim,
sức hút của tim và lồng ngực, lực co bóp của các cơ
khi vận động, sức đẩy của động mạch Trong các
yếu tố đó, yếu tố sức hút của lồng ngực khi giãn
nở đáng được chú ý, vì càng thở sâu thì sức hút
của lồng ngực càng mạnh Cơ chế của hiện tượng
tăng giảm áp lực trong tĩnh mạch là sự biến đổi
áp suất trong lồng ngực Khi hít vào, các cơ hô
hấp làm cho thể tích lồng ngực to ra và áp suất
trong lồng ngực hạ thấp (áp suất âm), nhờ đó mà không khí được hút vào phổi Còn khi thở ra thì ảnh hưởng sẽ ngược lại Mỗi khi hít vào sâu, tác dụng hút của lồng ngực càng lớn, máu tĩnh mạch được hút về tim càng mạnh Khi thở ra hết, tác dụng đẩy máu ở tim tăng hơn lúc bình thường Mặt khác, khi thở sâu có sự tham gia tích cực của
cơ hoành là cơ hít vào chính có ảnh hưởng đến tuần hoàn tĩnh mạch Mỗi lần cơ hoành chuyển động, vòm hoành hạ xuống ép các tạng phủ trong bụng, cùng lúc đó áp suất trong lồng ngực giảm làm cho tuần hoàn tĩnh mạch ổ bụng và ngực được dễ dàng hơn Ví dụ, trước khi nghỉ ngơi, tim bóp mỗi phút 70 lần, sau một thời gian rèn luyện thở, tần số tim bóp giảm xuống 60 lần trong 1 phút hay ít hơn nhưng sự cung cấp ôxy cho cơ thể vẫn đầy đủ Nếu mỗi phút tim co bóp giảm hơn trước 10 lần thì mỗi giờ tim co bóp giảm đi khoảng
600 lần và cả ngày giảm đi 14.400 lần Trái tim co bóp thong thả, có nhiều thời gian nghỉ ngơi bớt tiêu hao năng lượng, vì vậy có thể nói thở sâu vừa
có tác dụng làm giảm ứ máu ở các tạng trong bụng, tăng cường lượng máu lưu thông, đồng thời giảm gánh nặng cho tim
- Thở sâu có tác dụng tăng cường chuyển hoá
mỡ trong máu, góp phần phòng bệnh xơ vữa động mạch, xơ cứng động mạch Điều đó có tác dụng rất tốt giúp cho người cao huyết áp tránh
Trang 23được nguy cơ xuất huyết não Xơ cứng động
mạch có thể do nguyên nhân rối loạn chuyển
hóa mỡ, biểu hiện ở sự tăng cholesterol trong
máu Chất mỡ này (cholesterol) nhiều trong
máu sẽ kết lại dưới nội mạc các động mạch lớn
và nhỏ gây xơ vữa, xơ cứng động mạch Các nhà
khoa học cho rằng các tế bào trong phổi có khả
năng phân huỷ chất mỡ nhờ chức năng phân
huỷ mô này như mô phổi ôxy hoá và huỷ tại chỗ
một lượng mỡ trong máu Lượng mỡ huỷ càng
cao khi tuần hoàn phổi càng lớn Do đó, rèn
luyện, vận động thân thể phối hợp với thở sâu
có tác dụng tăng cường hô hấp, trực tiếp làm
giảm tỷ lệ cholesterol trong máu
Rèn luyện thở sâu có ảnh hưởng tốt đến hệ
thần kinh
- Khi thở sâu việc cung cấp đầy đủ ôxy cho não
được bảo đảm giúp cho hệ thần kinh hoạt động
tốt Vai trò của hệ thần kinh trung ương có ảnh
hưởng tới sự hoạt động của tất cả các cơ quan điều
hoà các quá trình xảy ra trong cơ thể Nếu thiếu
thở vài phút là hoạt động của hệ thần kinh bị rối
loạn, sự nuôi dưỡng các tế bào thần kinh bị đe doạ
vì hệ thần kinh trung ương có nhu cầu về ôxy rất
lớn Thiếu thở sẽ dẫn đến thiếu ôxy để nuôi dưỡng
các tế bào thần kinh, dẫn đến mắc các bệnh về cơ
năng thần kinh Vì vậy luyện thở sâu đã trở
thành một biện pháp quan trọng để phòng bệnh
và củng cố sức khỏe đối với những người lớn tuổi, những người bị cao huyết áp, những người có cơ năng thần kinh suy yếu, hoặc bị rối loạn tuần hoàn não
- Nhịp thở có mối quan hệ chặt chẽ với tinh thần Chúng ta không thể điều khiển được hoạt động của tim, sự co bóp của dạ dày, ruột, v.v nhưng có thể điều chỉnh được nhịp thở, có thể thở chậm 3 thì - 4 thì, có thể vận khí, tức là vận được huyết làm cho khí huyết lưu thông, tinh thần được thoải mái
Thở sâu còn giúp cho thư giãn - phép luyện thần gọi là thư giãn phân biệt hay là thư giãn không hoàn toàn Khi thở sâu có chỉ huy, vỏ não tập trung vào chỉ huy hô hấp (thở theo ý muốn), không suy nghĩ hoặc chú ý đến các vấn đề khác (xóa bỏ tạp niệm), các bộ phận khác của não sẽ được nghỉ ngơi, như vậy đại bộ phận của vỏ não là
ức chế chỉ có trung tâm hô hấp là hưng phấn trong quá trình luyện tập Xu hướng ức chế nhiều thường lan tỏa, có thể dần dần bộ phận hô hấp cũng ức chế theo - người tập sẽ đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng
Thở sâu có tác dụng xoa bóp nội tạng
Khi thở sâu, cơ hoành co giãn nhiều, vòm hoành hạ xuống và nâng lên một cách nhịp nhàng
Trang 24được nguy cơ xuất huyết não Xơ cứng động
mạch có thể do nguyên nhân rối loạn chuyển
hóa mỡ, biểu hiện ở sự tăng cholesterol trong
máu Chất mỡ này (cholesterol) nhiều trong
máu sẽ kết lại dưới nội mạc các động mạch lớn
và nhỏ gây xơ vữa, xơ cứng động mạch Các nhà
khoa học cho rằng các tế bào trong phổi có khả
năng phân huỷ chất mỡ nhờ chức năng phân
huỷ mô này như mô phổi ôxy hoá và huỷ tại chỗ
một lượng mỡ trong máu Lượng mỡ huỷ càng
cao khi tuần hoàn phổi càng lớn Do đó, rèn
luyện, vận động thân thể phối hợp với thở sâu
có tác dụng tăng cường hô hấp, trực tiếp làm
giảm tỷ lệ cholesterol trong máu
Rèn luyện thở sâu có ảnh hưởng tốt đến hệ
thần kinh
- Khi thở sâu việc cung cấp đầy đủ ôxy cho não
được bảo đảm giúp cho hệ thần kinh hoạt động
tốt Vai trò của hệ thần kinh trung ương có ảnh
hưởng tới sự hoạt động của tất cả các cơ quan điều
hoà các quá trình xảy ra trong cơ thể Nếu thiếu
thở vài phút là hoạt động của hệ thần kinh bị rối
loạn, sự nuôi dưỡng các tế bào thần kinh bị đe doạ
vì hệ thần kinh trung ương có nhu cầu về ôxy rất
lớn Thiếu thở sẽ dẫn đến thiếu ôxy để nuôi dưỡng
các tế bào thần kinh, dẫn đến mắc các bệnh về cơ
năng thần kinh Vì vậy luyện thở sâu đã trở
thành một biện pháp quan trọng để phòng bệnh
và củng cố sức khỏe đối với những người lớn tuổi, những người bị cao huyết áp, những người có cơ năng thần kinh suy yếu, hoặc bị rối loạn tuần hoàn não
- Nhịp thở có mối quan hệ chặt chẽ với tinh thần Chúng ta không thể điều khiển được hoạt động của tim, sự co bóp của dạ dày, ruột, v.v nhưng có thể điều chỉnh được nhịp thở, có thể thở chậm 3 thì - 4 thì, có thể vận khí, tức là vận được huyết làm cho khí huyết lưu thông, tinh thần được thoải mái
Thở sâu còn giúp cho thư giãn - phép luyện thần gọi là thư giãn phân biệt hay là thư giãn không hoàn toàn Khi thở sâu có chỉ huy, vỏ não tập trung vào chỉ huy hô hấp (thở theo ý muốn), không suy nghĩ hoặc chú ý đến các vấn đề khác (xóa bỏ tạp niệm), các bộ phận khác của não sẽ được nghỉ ngơi, như vậy đại bộ phận của vỏ não là
ức chế chỉ có trung tâm hô hấp là hưng phấn trong quá trình luyện tập Xu hướng ức chế nhiều thường lan tỏa, có thể dần dần bộ phận hô hấp cũng ức chế theo - người tập sẽ đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng
Thở sâu có tác dụng xoa bóp nội tạng
Khi thở sâu, cơ hoành co giãn nhiều, vòm hoành hạ xuống và nâng lên một cách nhịp nhàng
Trang 25có tác dụng xoa bóp các cơ quan trong ổ bụng
trong đó có gan, dạ dày, ruột, giúp tăng cường
dinh dưỡng, làm lành các vết loét ở dạ dày, chống
táo bón, nhu động ruột tốt hơn Khi dạ dày, gan,
ruột được lành mạnh, chức năng tiêu hoá bài tiết
sẽ được cải thiện
Rèn luyện thở sâu ảnh hưởng tốt đến khả
năng vận động
Những người đã có một quá trình rèn luyện
thân thể phối hợp với thở sâu, lồng ngực dần sẽ nở
nang, thông khí phổi tốt Thói quen thở sâu, nhịp
nhàng, đều đặn giúp cho khi chạy hoặc lao động
khẩn trương có thể tránh được hiện tượng thở
gấp Khi vận động mạnh, nếu biết phối hợp với
thở sâu và đều thì máu nợ ôxy tương đối nhẹ Thở
sâu còn giúp cho thời gian phục hồi cơ thể sau vận
động được nhanh chóng Những căn cứ khoa học
đã nêu trên đây cho chúng ta thấy việc rèn luyện
thở là cần thiết không chỉ để nâng cao sức khoẻ
mà còn để phòng bệnh và chữa bệnh Tuy nhiên,
việc rèn luyện thở như thế nào, mức độ, thời gian
rèn luyện ra sao, cần được điều chỉnh cho phù hợp
với từng người, tùy theo lứa tuổi, sức khỏe, tình
trạng bệnh tật
Việc rèn luyện thở liên quan đến tất cả các
phương pháp tập luyện và tùy theo mục đích của
phương pháp tập luyện đó Ví dụ, tập thở theo
phương pháp khí công, chủ yếu nhằm mục đích
chữa những bệnh mạn tính khó chữa; tập thở trong
hoạt động thể dục thể thao với mục đích tăng cường chức năng hoạt động điều hòa của tạng phủ Tập thở sâu luôn mang lại lợi ích cho con người đặc biệt đối với người bị bệnh về tim mạch, huyết
áp Riêng đối với người bệnh cao huyết áp, chúng tôi đã nghiên cứu tìm ra phương pháp thở tốt nhất
để ổn định được huyết áp Theo đó muốn đạt được kết quả cần phải biết cách luyện thở đúng
Các h luyện thở
Thở theo phương pháp khí công
- Kiểu thở Chủ yếu là thở bụng, thì hít vào, bụng từ từ phình lên, thì thở ra, bụng từ từ xẹp xuống Đây còn gọi là thở rèn luyện cơ hoành
- Tính chất thở Thở êm, dịu, khoan, đều, liền, nhỏ, lắng, sâu, dài Đây là cách thở phải rèn luyện lâu dài (theo cách thở nhu) mới có được Khi thở cần chú ý điều khiển hơi thở cho nhẹ nhàng, êm dịu khoan thai - từ từ hít vào, từ từ thở ra, hơi thở phải sâu, dài, không dùng sức quá nhiều để có thể luyện thở được lâu Trong quá trình luyện thở, hít vào và thở ra đều bằng mũi Thở bằng mũi có ưu điểm không khí được sưởi ấm, cản được bụi nhờ lông mũi và chất nhầy ở mũi, đồng thời thở bằng mũi dễ điều khiển hơn
Trang 26có tác dụng xoa bóp các cơ quan trong ổ bụng
trong đó có gan, dạ dày, ruột, giúp tăng cường
dinh dưỡng, làm lành các vết loét ở dạ dày, chống
táo bón, nhu động ruột tốt hơn Khi dạ dày, gan,
ruột được lành mạnh, chức năng tiêu hoá bài tiết
sẽ được cải thiện
Rèn luyện thở sâu ảnh hưởng tốt đến khả
năng vận động
Những người đã có một quá trình rèn luyện
thân thể phối hợp với thở sâu, lồng ngực dần sẽ nở
nang, thông khí phổi tốt Thói quen thở sâu, nhịp
nhàng, đều đặn giúp cho khi chạy hoặc lao động
khẩn trương có thể tránh được hiện tượng thở
gấp Khi vận động mạnh, nếu biết phối hợp với
thở sâu và đều thì máu nợ ôxy tương đối nhẹ Thở
sâu còn giúp cho thời gian phục hồi cơ thể sau vận
động được nhanh chóng Những căn cứ khoa học
đã nêu trên đây cho chúng ta thấy việc rèn luyện
thở là cần thiết không chỉ để nâng cao sức khoẻ
mà còn để phòng bệnh và chữa bệnh Tuy nhiên,
việc rèn luyện thở như thế nào, mức độ, thời gian
rèn luyện ra sao, cần được điều chỉnh cho phù hợp
với từng người, tùy theo lứa tuổi, sức khỏe, tình
trạng bệnh tật
Việc rèn luyện thở liên quan đến tất cả các
phương pháp tập luyện và tùy theo mục đích của
phương pháp tập luyện đó Ví dụ, tập thở theo
phương pháp khí công, chủ yếu nhằm mục đích
chữa những bệnh mạn tính khó chữa; tập thở trong
hoạt động thể dục thể thao với mục đích tăng cường chức năng hoạt động điều hòa của tạng phủ Tập thở sâu luôn mang lại lợi ích cho con người đặc biệt đối với người bị bệnh về tim mạch, huyết
áp Riêng đối với người bệnh cao huyết áp, chúng tôi đã nghiên cứu tìm ra phương pháp thở tốt nhất
để ổn định được huyết áp Theo đó muốn đạt được kết quả cần phải biết cách luyện thở đúng
Các h luyện thở
Thở theo phương pháp khí công
- Kiểu thở Chủ yếu là thở bụng, thì hít vào, bụng từ từ phình lên, thì thở ra, bụng từ từ xẹp xuống Đây còn gọi là thở rèn luyện cơ hoành
- Tính chất thở Thở êm, dịu, khoan, đều, liền, nhỏ, lắng, sâu, dài Đây là cách thở phải rèn luyện lâu dài (theo cách thở nhu) mới có được Khi thở cần chú ý điều khiển hơi thở cho nhẹ nhàng, êm dịu khoan thai - từ từ hít vào, từ từ thở ra, hơi thở phải sâu, dài, không dùng sức quá nhiều để có thể luyện thở được lâu Trong quá trình luyện thở, hít vào và thở ra đều bằng mũi Thở bằng mũi có ưu điểm không khí được sưởi ấm, cản được bụi nhờ lông mũi và chất nhầy ở mũi, đồng thời thở bằng mũi dễ điều khiển hơn
Trang 27Hình 36
- Tư thế Tư thế đối với rèn luyện thở rất quan
trọng, cần giữ cho cơ thể được thoải mái, đồng thời phải ngay ngắn, nghiêm túc Có thể dùng tư thế ngồi, hoặc nằm để tập thở
+ Tư thế ngồi thõng chân Ngồi ngay ngắn thẳng thắn, ngực thẳng, không cong, không ưỡn lưng, mắt nhắm nhẹ, hai bàn tay để trên đùi (hình 36)
Có thể ngồi xếp bằng hoặc ngồi theo kiểu hoa sen (hình 37, 38)
Hình 37 Hình 38
+ Tư thế nằm
Nằm ngửa, gối đầu vừa phải, 2 tay xuôi theo
thân hoặc để 2 bàn tay lên mào chậu (không để lên bụng), mắt nhắm hoặc nhìn vào chóp mũi Có thể kê gối ở dưới mông
Nằm nghiêng thì chú ý nên nghiêng về bên phải Gối đầu vừa phải, chân trên hơi co, chân dưới duỗi tự nhiên, một tay để trên đùi, một tay
để trước mặt cách 10 cm (hình 39, 40, 41)
Hình 39
Hình 40
Hình 41
Chuẩn bị Mắt nhắm, tai như không nghe thấy
gì, mắt như không nhìn thấy gì Chỉ chú ý vào hơi thở (xoá bỏ tạp niệm) Quần áo rộng rãi thoải mái Thở theo phương pháp khí công cũng có nhiều cách thở khác nhau như "cường tráng công", "nội dưỡng công", "bảo kiện công" hoặc "thanh khí công"
Để cho đơn giản dễ làm có thể theo 2 cách sau: Thở sâu tự nhiên Hít vào từ từ khoan thai nhẹ nhàng dồn hơi xuống bụng; khi bụng phình
Trang 28Hình 36
- Tư thế Tư thế đối với rèn luyện thở rất quan
trọng, cần giữ cho cơ thể được thoải mái, đồng thời phải ngay ngắn, nghiêm túc Có thể dùng tư thế ngồi, hoặc
nằm để tập thở
+ Tư thế ngồi thõng chân Ngồi ngay ngắn thẳng
thắn, ngực thẳng, không cong, không ưỡn lưng, mắt nhắm nhẹ, hai bàn tay để
trên đùi (hình 36)
Có thể ngồi xếp bằng hoặc ngồi theo kiểu hoa sen
(hình 37, 38)
Hình 37 Hình 38
+ Tư thế nằm
Nằm ngửa, gối đầu vừa phải, 2 tay xuôi theo
thân hoặc để 2 bàn tay lên mào chậu (không để lên bụng), mắt nhắm hoặc nhìn vào chóp mũi Có thể kê gối ở dưới mông
Nằm nghiêng thì chú ý nên nghiêng về bên phải Gối đầu vừa phải, chân trên hơi co, chân dưới duỗi tự nhiên, một tay để trên đùi, một tay
để trước mặt cách 10 cm (hình 39, 40, 41)
Hình 39
Hình 40
Hình 41
Chuẩn bị Mắt nhắm, tai như không nghe thấy
gì, mắt như không nhìn thấy gì Chỉ chú ý vào hơi thở (xoá bỏ tạp niệm) Quần áo rộng rãi thoải mái Thở theo phương pháp khí công cũng có nhiều cách thở khác nhau như "cường tráng công", "nội dưỡng công", "bảo kiện công" hoặc "thanh khí công"
Để cho đơn giản dễ làm có thể theo 2 cách sau: Thở sâu tự nhiên Hít vào từ từ khoan thai nhẹ nhàng dồn hơi xuống bụng; khi bụng phình
Trang 29lên tối đa thì lại từ từ thở ra nhẹ nhàng êm dịu
Khi hết hơi nghỉ một phút cho thoải mái tự nhiên,
rồi lại tiếp tục hít vào như trước
Chú ý:
+ Lúc bắt đầu tập có thể thở sâu một vài cái,
rồi lại thở bình thường để dần dần thích nghi
+ Khi dồn hơi cần đẩy hơi xuống bụng dưới gọi
là khí "trầm đan điền" mới tốt
+ Thở sâu có nín thở Sau một thời gian thở
sâu có chỉ huy, ta có thể thở sâu có nín thở, nhằm
nâng cao sức khỏe và có tác dụng chữa bệnh Có
hai cách nín thở:
Cách giữ hơi thì hít vào: Hít vào từ từ, khoan
thai, nhẹ nhàng, cho đến khi bụng phình lên tối
đa, trong khoảng 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Dùng các cơ hô hấp, cơ hoành để giữ không khí
trong phổi khoảng 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Sau đó từ từ thở ra cho đến hết hơi thở trong
khoảng 1/3 thời gian còn lại
Cách thở ra hết, không hít vào ngay: Hít vào từ
từ khoan thai, nhẹ nhàng, cho đến khi bụng, phình
lên tối đa trong 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Không giữ hơi, thở ra ngay từ từ, khoan thai nhẹ
nhàng cho đến hết Không hít vào ngay mà nghỉ
Lúc này toàn bộ cơ thể như chìm xuống chiếu, chân
tay thư giãn khoảng 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Kiểu thở này rất có tác dụng đối với bệnh tăng
huyết áp, thần kinh căng thẳng, mất ngủ
Thở theo phương pháp dưỡng sinh Trong tác phẩm Dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn
Văn Hưởng đã nêu rất rõ về cách thở; chủ yếu là cách thở 3 thì và 4 thì Trong đó, thở 4 thì là mục tiêu của người tập để giữ gìn sức khỏe và tăng cường tuổi thọ
- Kiểu thở Thở cả ngực và bụng Thì hít vào ngực, bụng đều phình lên Thì thở ra ngực, bụng đều xẹp xuống
- Tính chất Giống như thở theo phương pháp khí công nhưng có mức độ (không quá khắt khe), cần tập thở êm dịu, khoan, sâu, dài Trong quá trình luyện thở luôn luôn tùy theo sức của từng người Bài tập luyện thở có 4 mức thích nghi với tình trạng cơ thể khác nhau
+ Mức thở bình thường là mức thở tự nhiên, dung tích khoảng 0,5 lít Trước khi tập nên điều hòa hô hấp vài phút để tĩnh tâm
+ Mức thở vừa là mức thở hít vào tối đa, thở
ra bình thường khi thở ra không kìm, không thúc, để hơi ra tự nhiên Mức thở này có ưu điểm
là hơi thở tự nhiên thoải mái, ít mệt và có thể tập thở được lâu
+ Mức thở gần tối đa, là mức thở hít vào tối đa, thở ra tự nhiên có kê mông
Người tập dùng một cái gối kê mông lên cao để các tạng phủ trong ổ bụng như: gan, dạ dày, lá lách, ruột tự nhiên dồn về phía cơ hoành Trong
Trang 30lên tối đa thì lại từ từ thở ra nhẹ nhàng êm dịu
Khi hết hơi nghỉ một phút cho thoải mái tự nhiên,
rồi lại tiếp tục hít vào như trước
Chú ý:
+ Lúc bắt đầu tập có thể thở sâu một vài cái,
rồi lại thở bình thường để dần dần thích nghi
+ Khi dồn hơi cần đẩy hơi xuống bụng dưới gọi
là khí "trầm đan điền" mới tốt
+ Thở sâu có nín thở Sau một thời gian thở
sâu có chỉ huy, ta có thể thở sâu có nín thở, nhằm
nâng cao sức khỏe và có tác dụng chữa bệnh Có
hai cách nín thở:
Cách giữ hơi thì hít vào: Hít vào từ từ, khoan
thai, nhẹ nhàng, cho đến khi bụng phình lên tối
đa, trong khoảng 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Dùng các cơ hô hấp, cơ hoành để giữ không khí
trong phổi khoảng 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Sau đó từ từ thở ra cho đến hết hơi thở trong
khoảng 1/3 thời gian còn lại
Cách thở ra hết, không hít vào ngay: Hít vào từ
từ khoan thai, nhẹ nhàng, cho đến khi bụng, phình
lên tối đa trong 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Không giữ hơi, thở ra ngay từ từ, khoan thai nhẹ
nhàng cho đến hết Không hít vào ngay mà nghỉ
Lúc này toàn bộ cơ thể như chìm xuống chiếu, chân
tay thư giãn khoảng 1/3 thời gian của chu kỳ thở
Kiểu thở này rất có tác dụng đối với bệnh tăng
huyết áp, thần kinh căng thẳng, mất ngủ
Thở theo phương pháp dưỡng sinh Trong tác phẩm Dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn
Văn Hưởng đã nêu rất rõ về cách thở; chủ yếu là cách thở 3 thì và 4 thì Trong đó, thở 4 thì là mục tiêu của người tập để giữ gìn sức khỏe và tăng cường tuổi thọ
- Kiểu thở Thở cả ngực và bụng Thì hít vào ngực, bụng đều phình lên Thì thở ra ngực, bụng đều xẹp xuống
- Tính chất Giống như thở theo phương pháp khí công nhưng có mức độ (không quá khắt khe), cần tập thở êm dịu, khoan, sâu, dài Trong quá trình luyện thở luôn luôn tùy theo sức của từng người Bài tập luyện thở có 4 mức thích nghi với tình trạng cơ thể khác nhau
+ Mức thở bình thường là mức thở tự nhiên, dung tích khoảng 0,5 lít Trước khi tập nên điều hòa hô hấp vài phút để tĩnh tâm
+ Mức thở vừa là mức thở hít vào tối đa, thở
ra bình thường khi thở ra không kìm, không thúc, để hơi ra tự nhiên Mức thở này có ưu điểm
là hơi thở tự nhiên thoải mái, ít mệt và có thể tập thở được lâu
+ Mức thở gần tối đa, là mức thở hít vào tối đa, thở ra tự nhiên có kê mông
Người tập dùng một cái gối kê mông lên cao để các tạng phủ trong ổ bụng như: gan, dạ dày, lá lách, ruột tự nhiên dồn về phía cơ hoành Trong
Trang 31tư thế này cố gắng hít hơi vào để đẩy tạng phủ
xuống dưới bụng, hít vào tối đa, sau đó thở ra tự
nhiên không kìm, không thúc Cách thở này có ưu
điểm luyện cho cơ hoành ngày càng mạnh, nhưng
cũng có nhược điểm là khi hít vào phải dùng sức
chút ít
+ Mức tối đa là mức thở hít vào tối đa, thở ra
triệt để Cách này thở được nhiều nhất và có
nhiều cơ như cơ hô hấp, cơ hoành, cơ bụng hoạt
động để cố ép hết khí dự trữ ra ngoài Cách thở
này tuy có triệt để nhưng rất mau mệt, người mới
tập không nên áp dụng ngay
Bốn mức thở trên đây đều có những ưu và
nhược điểm riêng, tùy theo khả năng và theo sức
của từng người mà áp dụng Thông thường nên
tập ở mức vừa và mức gần tối đa
Những người bị cao huyết áp khi tập dưỡng
sinh cần tiến hành luyện thở theo các kiểu thở sau
- Thở 3 thì (kiểu 1)
Hít vào từ từ, bụng, ngực phình lên 1/3 thời
gian chu kỳ thở Thở ra từ từ, bụng, ngực xẹp
xuống 1/3 thời gian chu kỳ thở Nghỉ, không hít
vào mà để cơ thể tự nhiên thư giãn, cảm giác
nặng ấm tay, chân 1/3 thời gian chu kỳ thở
Cách luyện thở này thiên về ức chế, làm cho
thời gian thở ra kéo dài - áp dụng tốt đối với người
cao huyết áp, thần kinh căng thẳng, mất ngủ
- Thở 3 thì (kiểu 2)
Hít vào từ từ, ngực, bụng phình lên 1/3 thời gian chu kỳ thở Giữ hơi, không thở ra 1/3 thời gian chu kỳ thở Thở ra từ từ, bụng, ngực xẹp xuống 1/3 thời gian chu kỳ thở
Kiểu thở này thiên về hưng phấn, có tác dụng nâng dần sức khỏe, hoặc khi làm công việc nặng cần phải nhịn thở thì sức sẽ tăng lên
- Thở 4 thì
Mục tiêu cơ bản cuối cùng của người tập thở theo phương pháp dưỡng sinh là biết cách thở 4 thì Thở 4 thì có tác dụng mạnh mẽ để luyện thần kinh và khí huyết, giúp cho thần kinh chủ động
về hưng phấn và ức chế; giúp cho khí huyết lưu thông tốt qua đó ăn tốt, ngủ tốt và làm việc tốt
Tư thế Nên tập ở tư thế nằm ngửa để tập có hiệu quả hơn
Thì 1 Hít từ từ hơi vào ngực rồi dồn hơi xuống bụng dưới 1/4 thời gian chu kỳ thở
Thì 2 Giữ hơi, cơ hoành và các cơ hô hấp kìm giữ hơi ở ngực, bụng 1/4 thời gian chu kỳ thở Thì 3 Thở ra thoải mái cho hơi ra tự nhiên (không kìm, không thúc) 1/4 thời gian chu kỳ thở Thì 4 Nghỉ, không hít vào, không thở ra, thư giãn, người như chìm xuống chiếu, cảm giác nặng
ấm 1/4 thời gian chu kỳ thở (hình 42)
Trang 32tư thế này cố gắng hít hơi vào để đẩy tạng phủ
xuống dưới bụng, hít vào tối đa, sau đó thở ra tự
nhiên không kìm, không thúc Cách thở này có ưu
điểm luyện cho cơ hoành ngày càng mạnh, nhưng
cũng có nhược điểm là khi hít vào phải dùng sức
chút ít
+ Mức tối đa là mức thở hít vào tối đa, thở ra
triệt để Cách này thở được nhiều nhất và có
nhiều cơ như cơ hô hấp, cơ hoành, cơ bụng hoạt
động để cố ép hết khí dự trữ ra ngoài Cách thở
này tuy có triệt để nhưng rất mau mệt, người mới
tập không nên áp dụng ngay
Bốn mức thở trên đây đều có những ưu và
nhược điểm riêng, tùy theo khả năng và theo sức
của từng người mà áp dụng Thông thường nên
tập ở mức vừa và mức gần tối đa
Những người bị cao huyết áp khi tập dưỡng
sinh cần tiến hành luyện thở theo các kiểu thở sau
- Thở 3 thì (kiểu 1)
Hít vào từ từ, bụng, ngực phình lên 1/3 thời
gian chu kỳ thở Thở ra từ từ, bụng, ngực xẹp
xuống 1/3 thời gian chu kỳ thở Nghỉ, không hít
vào mà để cơ thể tự nhiên thư giãn, cảm giác
nặng ấm tay, chân 1/3 thời gian chu kỳ thở
Cách luyện thở này thiên về ức chế, làm cho
thời gian thở ra kéo dài - áp dụng tốt đối với người
cao huyết áp, thần kinh căng thẳng, mất ngủ
- Thở 3 thì (kiểu 2)
Hít vào từ từ, ngực, bụng phình lên 1/3 thời gian chu kỳ thở Giữ hơi, không thở ra 1/3 thời gian chu kỳ thở Thở ra từ từ, bụng, ngực xẹp xuống 1/3 thời gian chu kỳ thở
Kiểu thở này thiên về hưng phấn, có tác dụng nâng dần sức khỏe, hoặc khi làm công việc nặng cần phải nhịn thở thì sức sẽ tăng lên
- Thở 4 thì
Mục tiêu cơ bản cuối cùng của người tập thở theo phương pháp dưỡng sinh là biết cách thở 4 thì Thở 4 thì có tác dụng mạnh mẽ để luyện thần kinh và khí huyết, giúp cho thần kinh chủ động
về hưng phấn và ức chế; giúp cho khí huyết lưu thông tốt qua đó ăn tốt, ngủ tốt và làm việc tốt
Tư thế Nên tập ở tư thế nằm ngửa để tập có hiệu quả hơn
Thì 1 Hít từ từ hơi vào ngực rồi dồn hơi xuống bụng dưới 1/4 thời gian chu kỳ thở
Thì 2 Giữ hơi, cơ hoành và các cơ hô hấp kìm giữ hơi ở ngực, bụng 1/4 thời gian chu kỳ thở Thì 3 Thở ra thoải mái cho hơi ra tự nhiên (không kìm, không thúc) 1/4 thời gian chu kỳ thở Thì 4 Nghỉ, không hít vào, không thở ra, thư giãn, người như chìm xuống chiếu, cảm giác nặng
ấm 1/4 thời gian chu kỳ thở (hình 42)
Trang 333 Thở ra
4 Nghỉ
Hình 42 Chú ý:
- Khi thở sâu, tất yếu phải thở chậm, dù vậy cơ
thể luôn luôn được cung cấp đầy đủ ôxy Khi thở
sâu một chu kỳ thở có thể có tới 2,5 - 3 lít không
khí vào phổi Trong khi đó, khi thở bình thường thì
một chu kỳ thở chỉ có 0,5 lít không khí vào phổi
- Trước khi bắt đầu luyện thở nên có chuẩn bị để
tránh kích thích ở bên trong cũng như bên ngoài
+ Bên trong, cần phải đại, tiểu tiện trước khi
tập, tránh mót đi tiểu trong khi tập Mặc quần áo
phải rộng rãi, thoải mái
+ Bên ngoài, tránh ruồi, muỗi, và tiếng ồn
quá mức
- Cần chú ý đến phương pháp “nội tam hợp ý -
khí - lực”: ý cùng khí hợp, khí cùng lực hợp Phải
luôn luôn lấy ý điều khiển khí, giữa khí và lực kết
hợp hài hòa với nhau
- Người bị cao huyết áp nên luyện thở theo phương pháp 3 thì thư giãn
- Có thể đi bộ để tập thở, hoặc thở theo các bài
võ dưỡng sinh, thái cực quyền, v.v
Thời gian luyện thở
Hằng ngày có thể tập từ 1 đến 2 lần, khi thành thạo mỗi lần luyện 30 phút Cần tăng dần thời gian tập luyện và có thể chia theo tuần như sau: Tuần thứ I: 1 lần luyện thở 5 phút
Tuần thứ II: 1 lần luyện thở 20 phút
Tuần thứ III: 1 lần luyện thở 25 phút
Tuần thứ IV: 1 lần luyện thở 30 phút
Tuần thứ V: 1 lần luyện thở 35 phút
Tuần thứ VI: 1 lần luyện thở 40 phút
Tuần thứ VII: 1 lần luyện thở 45 phút
Từ tuần thứ VIII: mỗi lần luyện chỉ nên 30 phút
LUYỆN THƯ GIÃN Đối với người bị cao huyết áp, luyện thư giãn giữ một vai trò rất quan trọng Ta đã biết huyết
Trang 343 Thở ra
4 Nghỉ
Hình 42 Chú ý:
- Khi thở sâu, tất yếu phải thở chậm, dù vậy cơ
thể luôn luôn được cung cấp đầy đủ ôxy Khi thở
sâu một chu kỳ thở có thể có tới 2,5 - 3 lít không
khí vào phổi Trong khi đó, khi thở bình thường thì
một chu kỳ thở chỉ có 0,5 lít không khí vào phổi
- Trước khi bắt đầu luyện thở nên có chuẩn bị để
tránh kích thích ở bên trong cũng như bên ngoài
+ Bên trong, cần phải đại, tiểu tiện trước khi
tập, tránh mót đi tiểu trong khi tập Mặc quần áo
phải rộng rãi, thoải mái
+ Bên ngoài, tránh ruồi, muỗi, và tiếng ồn
quá mức
- Cần chú ý đến phương pháp “nội tam hợp ý -
khí - lực”: ý cùng khí hợp, khí cùng lực hợp Phải
luôn luôn lấy ý điều khiển khí, giữa khí và lực kết
hợp hài hòa với nhau
- Người bị cao huyết áp nên luyện thở theo phương pháp 3 thì thư giãn
- Có thể đi bộ để tập thở, hoặc thở theo các bài
võ dưỡng sinh, thái cực quyền, v.v
Thời gian luyện thở
Hằng ngày có thể tập từ 1 đến 2 lần, khi thành thạo mỗi lần luyện 30 phút Cần tăng dần thời gian tập luyện và có thể chia theo tuần như sau: Tuần thứ I: 1 lần luyện thở 5 phút
Tuần thứ II: 1 lần luyện thở 20 phút
Tuần thứ III: 1 lần luyện thở 25 phút
Tuần thứ IV: 1 lần luyện thở 30 phút
Tuần thứ V: 1 lần luyện thở 35 phút
Tuần thứ VI: 1 lần luyện thở 40 phút
Tuần thứ VII: 1 lần luyện thở 45 phút
Từ tuần thứ VIII: mỗi lần luyện chỉ nên 30 phút
LUYỆN THƯ GIÃN Đối với người bị cao huyết áp, luyện thư giãn giữ một vai trò rất quan trọng Ta đã biết huyết
Trang 35áp cao thể nguyên phát chủ yếu là do căng thẳng
thần kinh gây nên và thường gọi là tăng huyết áp
thể thần kinh Luyện thư giãn, tức là luyện thần
kinh bằng phương pháp thư giãn, bảo vệ vỏ não,
giúp cho vỏ não làm việc bớt căng thẳng Nói một
cách khác hãy luyện tập để đưa thần kinh đi vào
yên tĩnh
Lợ i íc h khi thư giãn c ơ thể
Rất nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh mạn tính
như suy nhược thần kinh, cao huyết áp, đau dạ
dày có nguyên nhân liên quan đến hệ thần kinh
và thường là do thần kinh quá cẳng thẳng gây nên
Trong tình trạng thần kinh quá căng thẳng,
các cơ vân, cơ trơn đều căng hơn bình thường
Luyện thư giãn có thể giúp cho bệnh nhân chủ
động giải tỏa căng thẳng thần kinh, điều khiển
các cơ giãn ra để cơ thể thư thái, thoải mái Việc
thư giãn cơ một cách chủ động sẽ tạo ra khả năng
nâng cao quá trình ức chế Quá trình ức chế tốt,
nghỉ ngơi, ngủ thoải mái, giúp cho quá trình hưng
phấn tốt, làm việc có hiệu quả Ngược lại, quá
trình hưng phấn tốt sẽ giúp cho quá trình ức chế
tốt, thần kinh điều hòa từ đó mà cơ thể có khả
năng tự điều chỉnh trạng thái bệnh tật Đó chính
là mục tiêu của phương pháp luyện thư giãn
Muốn luyện thư giãn được tốt, ở gốc tức là các
trung tâm ở vỏ não phải thư thái, tránh suy nghĩ
căng thẳng, thái quá, ở ngọn tức là hệ cơ: cơ vân (các bắp thịt) và cơ trơn (các cơ dạ dày, ruột ) phải giãn ra, không căng cứng
Quá trình thư giãn ở gốc và ngọn có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau Khi gốc giãn tốt
sẽ tạo điều kiện cho ngọn giãn tốt và ngược lại, nếu ngọn (các cơ) giãn tốt sẽ giúp cho gốc thần kinh nghỉ ngơi tốt Vậy muốn thư giãn tốt thì các
cơ, nhất là các cơ vân không được căng cứng: tay, chân, đầu, cổ, thân mình đều phải buông xuôi Gương mặt khi luyện thư giãn phải luôn luôn tươi, bình thản như mặt nước hồ
Y học cổ truyền rất coi trọng đến vấn đề
“Thần”, tồn thần, dưỡng khí Thần còn thì sinh mạng còn, thần tuyệt thì sinh mạng tuyệt Thư giãn chính là một phương pháp tồn thần tốt nhất
Cụ Hải Thượng Lãn Ông, trong Vệ sinh yếu quyết có viết:
Nội thương bệnh chứng phát sinh Thường do xúc động thất tình gây nên
“Thất tình” là chỉ bảy thứ tình chí biến đổi khác nhau là: hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh, tức là: mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, kinh hoàng Những trạng thái này là biểu hiện cụ thể của tinh thần, bị ảnh hưởng bởi tác động của những sự vật, hoàn cảnh khác nhau, làm cho tình chí của con người biến đổi từng giờ, từng phút Cơ thể có khả năng thích nghi với những biến đổi này ở mức độ
Trang 36áp cao thể nguyên phát chủ yếu là do căng thẳng
thần kinh gây nên và thường gọi là tăng huyết áp
thể thần kinh Luyện thư giãn, tức là luyện thần
kinh bằng phương pháp thư giãn, bảo vệ vỏ não,
giúp cho vỏ não làm việc bớt căng thẳng Nói một
cách khác hãy luyện tập để đưa thần kinh đi vào
yên tĩnh
Lợ i íc h khi thư giãn c ơ thể
Rất nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh mạn tính
như suy nhược thần kinh, cao huyết áp, đau dạ
dày có nguyên nhân liên quan đến hệ thần kinh
và thường là do thần kinh quá cẳng thẳng gây nên
Trong tình trạng thần kinh quá căng thẳng,
các cơ vân, cơ trơn đều căng hơn bình thường
Luyện thư giãn có thể giúp cho bệnh nhân chủ
động giải tỏa căng thẳng thần kinh, điều khiển
các cơ giãn ra để cơ thể thư thái, thoải mái Việc
thư giãn cơ một cách chủ động sẽ tạo ra khả năng
nâng cao quá trình ức chế Quá trình ức chế tốt,
nghỉ ngơi, ngủ thoải mái, giúp cho quá trình hưng
phấn tốt, làm việc có hiệu quả Ngược lại, quá
trình hưng phấn tốt sẽ giúp cho quá trình ức chế
tốt, thần kinh điều hòa từ đó mà cơ thể có khả
năng tự điều chỉnh trạng thái bệnh tật Đó chính
là mục tiêu của phương pháp luyện thư giãn
Muốn luyện thư giãn được tốt, ở gốc tức là các
trung tâm ở vỏ não phải thư thái, tránh suy nghĩ
căng thẳng, thái quá, ở ngọn tức là hệ cơ: cơ vân (các bắp thịt) và cơ trơn (các cơ dạ dày, ruột ) phải giãn ra, không căng cứng
Quá trình thư giãn ở gốc và ngọn có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau Khi gốc giãn tốt
sẽ tạo điều kiện cho ngọn giãn tốt và ngược lại, nếu ngọn (các cơ) giãn tốt sẽ giúp cho gốc thần kinh nghỉ ngơi tốt Vậy muốn thư giãn tốt thì các
cơ, nhất là các cơ vân không được căng cứng: tay, chân, đầu, cổ, thân mình đều phải buông xuôi Gương mặt khi luyện thư giãn phải luôn luôn tươi, bình thản như mặt nước hồ
Y học cổ truyền rất coi trọng đến vấn đề
“Thần”, tồn thần, dưỡng khí Thần còn thì sinh mạng còn, thần tuyệt thì sinh mạng tuyệt Thư giãn chính là một phương pháp tồn thần tốt nhất
Cụ Hải Thượng Lãn Ông, trong Vệ sinh yếu quyết có viết:
Nội thương bệnh chứng phát sinh Thường do xúc động thất tình gây nên
“Thất tình” là chỉ bảy thứ tình chí biến đổi khác nhau là: hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh, tức là: mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, kinh hoàng Những trạng thái này là biểu hiện cụ thể của tinh thần, bị ảnh hưởng bởi tác động của những sự vật, hoàn cảnh khác nhau, làm cho tình chí của con người biến đổi từng giờ, từng phút Cơ thể có khả năng thích nghi với những biến đổi này ở mức độ
Trang 37bình thường, cho nên không trở ngại đến sức
khỏe Nhưng khi mừng, giận, lo, nghĩ thái quá,
thần kinh không thể thích nghi được sẽ gây rối
loạn sinh lý cơ thể mà phát sinh ra bệnh tật
Khi giận thì khí bốc lên, mừng thì khí hoãn,
buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ, kinh thì khí loạn,
nghĩ thì khí kết Khí sinh ra do hoạt động của
phủ tạng, là năng lượng cần thiết để duy trì hoạt
động của cơ thể Các trạng thái tình cảm cũng tác
động đến hoạt động các tạng phủ: “mừng quá hại
tâm, giận quá hại can, nghĩ quá hại tỳ, lo quá hại
phế, sợ quá hại thận” Thất tình thái quá chắc
chắn không có lợi đối với nội tạng của cơ thể con
người Thất tình có thể làm cho nội tạng sinh
bệnh nhưng quy kết lại thì gốc lại là ở tâm - “Tâm
tàng thần” Tâm là chủ thể của ngũ tạng, lục phủ,
thất tình ảnh hưởng đến tất cả các tạng phủ tất
nhiên ảnh hưởng đến tâm
Trong thất tình, cũng nên phân biệt ra trạng
thái nào nguy hiểm, nhất là đối với bệnh tăng
huyết áp
- Giận
Người ta khi gặp sự việc không hợp lý, không
hợp ý, không thỏa mãn thường thấy tức khí, lửa
giận đùng đùng, khí huyết sẽ nghịch lên, làm hao
tổn huyết dịch hại đến phần âm Âm huyết suy
kém, thủy không nuôi dưỡng được can, gây nên
chứng can hỏa vượng Chứng “Huyễn vựng” tức là cao huyết áp có thể can hỏa vượng
Vì vậy người bị tăng huyết áp phải biết cách giữ điềm đạm, tránh giận dữ thái quá rất có thể gây tai biến nguy hiểm
Trong quá trình theo dõi, điều trị tai biến mạch máu não chúng tôi thấy khá nhiều trường hợp tai biến xảy ra khi giận dữ
- Lo
Lo âu, sầu muộn là trạng thái trầm lặng uất
ức của tình chí Lo sầu quá độ, rầu rĩ không vui thì khí bị bế tắc không thông Khi khí đã bị bế tắc thì phế nhân đó cũng bị thương tổn “Lo hại phế”,
lo hại đến tỳ Tỳ chủ về vận hóa, khi vận hóa kém gây suy yếu, bế tắc làm cho tinh thần luôn luôn bi quan, khả năng đấu tranh với bệnh tật kém Vậy người bị huyết áp không nên lo lắng quá
- Buồn
Buồn là do thương xót, phiền não, đau khổ mà sinh ra Về phương diện sinh ra bệnh có khi vì buồn thương mà tổn hại đến nội tạng, cũng có khi
vì nội tạng phát sinh biến hóa mà sau đó sinh ra buồn thương Ví dụ do tâm khí hư thì buồn, nếu buồn quá độ thì có thể ảnh hưởng đến cả tạng phế, tạng can, tạng tâm
Trong tâm trạng buồn, con người sẽ rất yếu
Trang 38bình thường, cho nên không trở ngại đến sức
khỏe Nhưng khi mừng, giận, lo, nghĩ thái quá,
thần kinh không thể thích nghi được sẽ gây rối
loạn sinh lý cơ thể mà phát sinh ra bệnh tật
Khi giận thì khí bốc lên, mừng thì khí hoãn,
buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ, kinh thì khí loạn,
nghĩ thì khí kết Khí sinh ra do hoạt động của
phủ tạng, là năng lượng cần thiết để duy trì hoạt
động của cơ thể Các trạng thái tình cảm cũng tác
động đến hoạt động các tạng phủ: “mừng quá hại
tâm, giận quá hại can, nghĩ quá hại tỳ, lo quá hại
phế, sợ quá hại thận” Thất tình thái quá chắc
chắn không có lợi đối với nội tạng của cơ thể con
người Thất tình có thể làm cho nội tạng sinh
bệnh nhưng quy kết lại thì gốc lại là ở tâm - “Tâm
tàng thần” Tâm là chủ thể của ngũ tạng, lục phủ,
thất tình ảnh hưởng đến tất cả các tạng phủ tất
nhiên ảnh hưởng đến tâm
Trong thất tình, cũng nên phân biệt ra trạng
thái nào nguy hiểm, nhất là đối với bệnh tăng
huyết áp
- Giận
Người ta khi gặp sự việc không hợp lý, không
hợp ý, không thỏa mãn thường thấy tức khí, lửa
giận đùng đùng, khí huyết sẽ nghịch lên, làm hao
tổn huyết dịch hại đến phần âm Âm huyết suy
kém, thủy không nuôi dưỡng được can, gây nên
chứng can hỏa vượng Chứng “Huyễn vựng” tức là cao huyết áp có thể can hỏa vượng
Vì vậy người bị tăng huyết áp phải biết cách giữ điềm đạm, tránh giận dữ thái quá rất có thể gây tai biến nguy hiểm
Trong quá trình theo dõi, điều trị tai biến mạch máu não chúng tôi thấy khá nhiều trường hợp tai biến xảy ra khi giận dữ
- Lo
Lo âu, sầu muộn là trạng thái trầm lặng uất
ức của tình chí Lo sầu quá độ, rầu rĩ không vui thì khí bị bế tắc không thông Khi khí đã bị bế tắc thì phế nhân đó cũng bị thương tổn “Lo hại phế”,
lo hại đến tỳ Tỳ chủ về vận hóa, khi vận hóa kém gây suy yếu, bế tắc làm cho tinh thần luôn luôn bi quan, khả năng đấu tranh với bệnh tật kém Vậy người bị huyết áp không nên lo lắng quá
- Buồn
Buồn là do thương xót, phiền não, đau khổ mà sinh ra Về phương diện sinh ra bệnh có khi vì buồn thương mà tổn hại đến nội tạng, cũng có khi
vì nội tạng phát sinh biến hóa mà sau đó sinh ra buồn thương Ví dụ do tâm khí hư thì buồn, nếu buồn quá độ thì có thể ảnh hưởng đến cả tạng phế, tạng can, tạng tâm
Trong tâm trạng buồn, con người sẽ rất yếu
Trang 39đuối, bi quan không có khả năng đấu tranh với
bệnh tật, bệnh sẽ càng ngày càng nặng lên Trong
“thất tình” thì trạng thái buồn là xấu nhất
Một người khỏe mạnh phải biết làm chủ bản
thân, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, đó là
con người luôn luôn có ý chí đấu tranh Trong
trường hợp không may bị bệnh, thì đấu tranh với
bệnh tật không chỉ là trách nhiệm nghĩa vụ của
thầy thuốc mà cơ bản là ở ý chí tinh thần của bản
thân người bệnh
Khoa học ngày một phát triển, tiến bộ của y
học đã giúp cho chúng ta rất nhiều về phương
diện phòng bệnh cũng như chữa bệnh Nhờ vào
y học hiện đại, kết hợp với y học cổ truyền,
nhiều loại bệnh đã được chữa trị tốt trong đó có
bệnh cao huyết áp Đã có rất nhiều người duy
trì, ổn định được cuộc sống, làm việc bình
thường hàng mấy chục năm Nếu có lòng tin và
quyết tâm cao cùng với những phương pháp rèn
luyện tốt, người bệnh nhất định sẽ khắc phục
được những ảnh hưởng xấu của bệnh, tránh
được những tai biến hiểm nghèo và duy trì cuộc
sống khỏe mạnh
Để giúp cho bản thân có ý chí, nâng cao bản
lĩnh, tránh được những trạng thái giận, buồn, lo, sợ
thái quá, chúng ta phải kiên trì tập luyện Trong
đó tập thư giãn có kết quả rất rõ rệt Trong quá
trình nghiên cứu chữa bệnh cao huyết áp, chúng
tôi đã đo huyết áp trước và sau một lần tập Kết quả cho thấy huyết áp giảm rõ rệt và sự khác biệt giữa hai số đo này là có ý nghĩa thống kê
Bài tập thư giãn Nên tập trong phòng tương tối yên tĩnh, tốt nhất là nên có phòng riêng để tập
Tư thế luyện tập Tốt nhất là tập ở tư thế nằm, nới rộng quần, đầu ngay ngắn, hai tay xuôi theo thân, hai chân mở ra trong tư thế toàn thân thả lỏng
Cũng có thể tập ở tư thế ngồi Ngồi trên ghế, hai chân bỏ giày, dép, hai bàn tay để trên đùi, hai cánh tay khép theo thân (hình 43)
Hoặc ngồi thõng hai chân trên ghế, hai tay để dọc thân, hai bàn tay để lên đùi, trong tư thế đầu hơi cúi thả lỏng người (hình 44)
Hình 43 Hình 44
Trang 40đuối, bi quan không có khả năng đấu tranh với
bệnh tật, bệnh sẽ càng ngày càng nặng lên Trong
“thất tình” thì trạng thái buồn là xấu nhất
Một người khỏe mạnh phải biết làm chủ bản
thân, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, đó là
con người luôn luôn có ý chí đấu tranh Trong
trường hợp không may bị bệnh, thì đấu tranh với
bệnh tật không chỉ là trách nhiệm nghĩa vụ của
thầy thuốc mà cơ bản là ở ý chí tinh thần của bản
thân người bệnh
Khoa học ngày một phát triển, tiến bộ của y
học đã giúp cho chúng ta rất nhiều về phương
diện phòng bệnh cũng như chữa bệnh Nhờ vào
y học hiện đại, kết hợp với y học cổ truyền,
nhiều loại bệnh đã được chữa trị tốt trong đó có
bệnh cao huyết áp Đã có rất nhiều người duy
trì, ổn định được cuộc sống, làm việc bình
thường hàng mấy chục năm Nếu có lòng tin và
quyết tâm cao cùng với những phương pháp rèn
luyện tốt, người bệnh nhất định sẽ khắc phục
được những ảnh hưởng xấu của bệnh, tránh
được những tai biến hiểm nghèo và duy trì cuộc
sống khỏe mạnh
Để giúp cho bản thân có ý chí, nâng cao bản
lĩnh, tránh được những trạng thái giận, buồn, lo, sợ
thái quá, chúng ta phải kiên trì tập luyện Trong
đó tập thư giãn có kết quả rất rõ rệt Trong quá
trình nghiên cứu chữa bệnh cao huyết áp, chúng
tôi đã đo huyết áp trước và sau một lần tập Kết quả cho thấy huyết áp giảm rõ rệt và sự khác biệt giữa hai số đo này là có ý nghĩa thống kê
Bài tập thư giãn Nên tập trong phòng tương tối yên tĩnh, tốt nhất là nên có phòng riêng để tập
Tư thế luyện tập Tốt nhất là tập ở tư thế nằm, nới rộng quần, đầu ngay ngắn, hai tay xuôi theo thân, hai chân mở ra trong tư thế toàn thân thả lỏng
Cũng có thể tập ở tư thế ngồi Ngồi trên ghế, hai chân bỏ giày, dép, hai bàn tay để trên đùi, hai cánh tay khép theo thân (hình 43)
Hoặc ngồi thõng hai chân trên ghế, hai tay để dọc thân, hai bàn tay để lên đùi, trong tư thế đầu hơi cúi thả lỏng người (hình 44)
Hình 43 Hình 44