Tài liệu Chữa bệnh cao huyết áp bằng phương pháp dưỡng sinh phần 1 trình bày các nội dung chính sau: Khái quát chung về cao huyết áp; Bệnh cao huyết áp theo y học cổ truyền; Khả năng phòng và điều trị cao huyết áp bằng phương pháp Dưỡng sinh;... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 4CHỮA BỆNH CAO HUYẾT ÁP
BẰNG PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịc h Hộ i đ ồ ng PGS.TS PHẠM VĂN LINH
P hó Chủ tịc h Hộ i đ ồ ng PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên TRẦN QUỐC DÂN
TS NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS NGUYỄN AN TIÊM NGUYỄN VŨ THANH HẢO
Trang 6CHỮA BỆNH CAO HUYẾT ÁP
BẰNG PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hiện nay số người mắc bệnh cao huyết áp
chiếm tỷ lệ khá cao ở nước ta cũng như nhiều
nước khác trên thế giới Tác dụng của các loại
thuốc đối với căn bệnh này chỉ có thể giải quyết
một cách tạm thời những triệu chứng của nó;
bệnh vẫn có nguy cơ tiến triển ngày càng nặng và
người bệnh luôn trong tình trạng nguy hiểm do
những tai biến có thể xảy ra bất cứ lúc nào Tuy
vậy, không phải là chúng ta đã bó tay Trong kho
tàng y học cổ truyền phương Đông có rất nhiều
phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc,
nhưng mang lại hiệu quả cao, trong đó dưỡng sinh
là phương pháp có tác dụng rất tốt để phòng và
chữa trị căn bệnh này
Để giúp bạn đọc hiểu và tiến hành tập luyện có
kết quả, chúng tôi xin giới thiệu một phác đồ điều
trị cao huyết áp bằng phương pháp dưỡng sinh đã
được áp dụng và đánh giá bằng những số liệu có
tính khoa học tại Viện Y học Cổ truyền ở nước ta
từ nhiều năm nay Điều quan trọng khi sử dụng
phương pháp này là sự tin tưởng và tập luyện
thường xuyên, kiên trì của người bệnh để đạt được những yêu cầu của từng nội dung đối với từng giai đoạn bệnh khác nhau Mọi bí quyết thành công đều có thể bắt đầu từ những điều đơn giản
Được xuất bản lần đầu năm 2006, đáp ứng yêucầu của bạn đọc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản Thể dục thể thao tái bản cuốn sách này Chúng tôi tin tưởng rằng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc mắc bệnh cao huyết áp có thêm một phương pháp tốt để giảm bớt bệnh tật, duy trì một cuộc sống khỏe mạnh lâu dài và hữu ích
Nhà xuất bản và tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 8LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hiện nay số người mắc bệnh cao huyết áp
chiếm tỷ lệ khá cao ở nước ta cũng như nhiều
nước khác trên thế giới Tác dụng của các loại
thuốc đối với căn bệnh này chỉ có thể giải quyết
một cách tạm thời những triệu chứng của nó;
bệnh vẫn có nguy cơ tiến triển ngày càng nặng và
người bệnh luôn trong tình trạng nguy hiểm do
những tai biến có thể xảy ra bất cứ lúc nào Tuy
vậy, không phải là chúng ta đã bó tay Trong kho
tàng y học cổ truyền phương Đông có rất nhiều
phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc,
nhưng mang lại hiệu quả cao, trong đó dưỡng sinh
là phương pháp có tác dụng rất tốt để phòng và
chữa trị căn bệnh này
Để giúp bạn đọc hiểu và tiến hành tập luyện có
kết quả, chúng tôi xin giới thiệu một phác đồ điều
trị cao huyết áp bằng phương pháp dưỡng sinh đã
được áp dụng và đánh giá bằng những số liệu có
tính khoa học tại Viện Y học Cổ truyền ở nước ta
từ nhiều năm nay Điều quan trọng khi sử dụng
phương pháp này là sự tin tưởng và tập luyện
thường xuyên, kiên trì của người bệnh để đạt được những yêu cầu của từng nội dung đối với từng giai đoạn bệnh khác nhau Mọi bí quyết thành công đều có thể bắt đầu từ những điều đơn giản
Được xuất bản lần đầu năm 2006, đáp ứng yêucầu của bạn đọc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản Thể dục thể thao tái bản cuốn sách này Chúng tôi tin tưởng rằng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc mắc bệnh cao huyết áp có thêm một phương pháp tốt để giảm bớt bệnh tật, duy trì một cuộc sống khỏe mạnh lâu dài và hữu ích
Nhà xuất bản và tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 9KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ CAO HUYẾT ÁP
Cao huyết áp (hay còn được gọi là tăng huyết
áp) là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu đo
được ở động mạch tăng cao Huyết áp thường được
đo bằng hai chỉ số là: huyết áp tâm thu (systolic)
và huyết áp tâm trương (diastolic), dựa trên 2 giai
đoạn co bóp và giãn nghỉ của cơ tim, tương ứng
với áp lực cao nhất và áp lực thấp nhất của dòng
máu trong động mạch Có nhiều quy chuẩn khác
nhau về khoảng bình thường của huyết áp Huyết
áp lúc nghỉ thông thường nằm trong khoảng
100-140mmHg huyết áp tâm thu và 60-90mmHg
huyết áp tâm trương Khi đo huyết áp của bệnh
nhân bị cao huyết áp thường xuyên thấy cao hơn
hoặc bằng 140/90 mmHg
Tăng huyết áp được phân loại thành tăng
huyết áp nguyên phát và thứ phát Tăng huyết áp
nguyên phát chiếm 90 - 95% số ca tăng huyết áp,
dùng để chỉ các trường hợp không xác định được
bệnh nguyên gây tăng huyết áp rõ ràng (vô căn)
Khoảng 5 - 10% số ca còn lại (tăng huyết áp thứ
phát) có nguyên nhân là một số bệnh tác động lên thận, động mạch, tim, và hệ nội tiết
Tăng huyết áp gây nhiều áp lực cho tim, có khả năng dẫn đến bệnh tim do tăng huyết áp, bệnh động mạch vành Tăng huyết áp cũng là một yếu tố nguy cơ chính trong tai biến mạch máu não, suy tim, phình động mạch, bệnh thận mạn, và bệnh động mạch ngoại biên Ăn kiêng và thay đổi lối sống có thể cải thiện tình trạng huyết áp và giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng, mặc dù vậy vẫn có thể cần điều trị kèm bằng thuốc ở những ca mà các biện pháp thay đổi lối sống không có tác dụng hoặc không giảm được đến huyết áp mục tiêu
Theo khảo sát của Hội Tim mạch Việt Nam, năm 2015 số mắc tăng huyết áp ở Việt Nam chiếm tới trên 47% số người từ 25 tuổi trở lên, tương đương khoảng 20,8 triệu người Tỷ lệ này khá cao
so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới (tỷ lệ chung của thế giới khoảng 40%)
Do tính chất phổ biến của bệnh nên nhiều nước đã tập trung nghiên cứu và đưa ra nhiều phương pháp điều trị bệnh khác nhau Song song với việc điều trị bằng y học hiện đại, y học cổ truyền cũng đóng góp một phần đáng kể trong việc giải quyết bệnh này Ngoài phương pháp dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh là phương pháp điều trị có kết quả cao và ngày càng được nhiều người áp dụng
Trang 10KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ CAO HUYẾT ÁP
Cao huyết áp (hay còn được gọi là tăng huyết
áp) là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu đo
được ở động mạch tăng cao Huyết áp thường được
đo bằng hai chỉ số là: huyết áp tâm thu (systolic)
và huyết áp tâm trương (diastolic), dựa trên 2 giai
đoạn co bóp và giãn nghỉ của cơ tim, tương ứng
với áp lực cao nhất và áp lực thấp nhất của dòng
máu trong động mạch Có nhiều quy chuẩn khác
nhau về khoảng bình thường của huyết áp Huyết
áp lúc nghỉ thông thường nằm trong khoảng
100-140mmHg huyết áp tâm thu và 60-90mmHg
huyết áp tâm trương Khi đo huyết áp của bệnh
nhân bị cao huyết áp thường xuyên thấy cao hơn
hoặc bằng 140/90 mmHg
Tăng huyết áp được phân loại thành tăng
huyết áp nguyên phát và thứ phát Tăng huyết áp
nguyên phát chiếm 90 - 95% số ca tăng huyết áp,
dùng để chỉ các trường hợp không xác định được
bệnh nguyên gây tăng huyết áp rõ ràng (vô căn)
Khoảng 5 - 10% số ca còn lại (tăng huyết áp thứ
phát) có nguyên nhân là một số bệnh tác động lên thận, động mạch, tim, và hệ nội tiết
Tăng huyết áp gây nhiều áp lực cho tim, có khả năng dẫn đến bệnh tim do tăng huyết áp, bệnh động mạch vành Tăng huyết áp cũng là một yếu tố nguy cơ chính trong tai biến mạch máu não, suy tim, phình động mạch, bệnh thận mạn, và bệnh động mạch ngoại biên Ăn kiêng và thay đổi lối sống có thể cải thiện tình trạng huyết áp và giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng, mặc dù vậy vẫn có thể cần điều trị kèm bằng thuốc ở những ca mà các biện pháp thay đổi lối sống không có tác dụng hoặc không giảm được đến huyết áp mục tiêu
Theo khảo sát của Hội Tim mạch Việt Nam, năm 2015 số mắc tăng huyết áp ở Việt Nam chiếm tới trên 47% số người từ 25 tuổi trở lên, tương đương khoảng 20,8 triệu người Tỷ lệ này khá cao
so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới (tỷ lệ chung của thế giới khoảng 40%)
Do tính chất phổ biến của bệnh nên nhiều nước đã tập trung nghiên cứu và đưa ra nhiều phương pháp điều trị bệnh khác nhau Song song với việc điều trị bằng y học hiện đại, y học cổ truyền cũng đóng góp một phần đáng kể trong việc giải quyết bệnh này Ngoài phương pháp dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh là phương pháp điều trị có kết quả cao và ngày càng được nhiều người áp dụng
Trang 11Sau nhiều năm nghiên cứu phương pháp dưỡng
sinh của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Viện Y học Cổ
truyền Việt Nam do Giáo sư Hoàng Bảo Châu chỉ
đạo, bước đầu đã đánh giá phương pháp dưỡng sinh
có hiệu quả tốt đối với một số bệnh mạn tính, trong
đó hiệu quả rõ rệt đối với bệnh tăng huyết áp
Khoa Dưỡng sinh Viện Y - Dược học Thành
phố Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức luyện tập
dưỡng sinh thăm dò trên 1.000 người tăng huyết
áp thể nguyên phát giai đoạn I và giai đoạn II
Kết quả không chỉ đỡ về mặt lâm sàng mà còn
khá ổn định về trị số huyết áp Viện Y học Cổ
truyền Việt Nam cũng đã thường xuyên tổ chức
các khoá dưỡng sinh ngoại trú - bệnh nhân được
hướng dẫn tập luyện theo chương trình chung,
và các khóa dưỡng sinh nội trú với các đối tượng
ăn ở, tập luyện tại viện Các đối tượng tham gia
luyện tập dù là ngoại trú hay nội trú ở viện đều
được theo dõi, khám sức khỏe trước, trong và sau
đợt tập luyện Sau một thời gian tập luyện,
những bệnh nhân này đã cải thiện được tình
trạng sức khỏe của mình: ăn ngon hơn, ngủ tốt
hơn, tinh thần sảng khoái hơn, bệnh mạn tính
giảm và đi vào ổn định Viện cũng đã tiến hành
nhiều nghiên cứu cơ bản để đánh giá giá trị thực
tiễn của luyện tập dưỡng sinh đối với việc chữa
bệnh cao huyết áp và một số bệnh mãn tính khác
bằng các phân tích cận lâm sàng như: điện não
đồ, lưu huyết não, phân tích cholesterol Trên
cơ sở đó Viện đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm
và xây dựng một phác đồ điều trị tăng huyết áp bằng phương pháp dưỡng sinh tương đối hoàn chỉnh và có hiệu quả cao
Muốn đề phòng và điều trị cao huyết áp cần phải hiểu về nguyên nhân và tiến triển của chứng bệnh này Ở người lớn huyết áp bình thường nếu huyết áp động mạch tối đa dưới 140mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu 90mmHg Có tăng huyết áp nếu huyết áp động mạch tối đa trên 160mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu trên 95mmHg Tăng huyết áp “giới hạn”, nếu huyết áp động mạch tối đa từ 140 - 160mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu từ 90 - 95mmHg Huyết áp động mạch tối đa còn gọi là huyết áp tâm thu, huyết áp động mạch tối thiểu còn gọi là huyết áp tâm trương
Huyết áp không thường xuyên ổn định mà thay đổi trong ngày (đêm thường thấp hơn ngày),
ở người già thường cao hơn người trẻ, nữ thường thấp hơn nam Và riêng chỉ số huyết áp không đánh giá hoàn toàn mức độ nặng nhẹ của bệnh Đặc biệt tăng huyết áp thường gây nhiều tai biến dẫn đến tử vong hoặc để lại những di chứng nặng
nề Những người từ 50 - 60 tuổi với huyết áp tâm trương 85mmHg thì tỷ lệ tử vong khoảng 63%, với huyết áp tâm trương 104 mmHg thì tỷ lệ tử vong
là 15,3% Tăng huyết áp thể nguyên phát là bệnh của thời đại phát triển công nghiệp Bệnh này có
Trang 12Sau nhiều năm nghiên cứu phương pháp dưỡng
sinh của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Viện Y học Cổ
truyền Việt Nam do Giáo sư Hoàng Bảo Châu chỉ
đạo, bước đầu đã đánh giá phương pháp dưỡng sinh
có hiệu quả tốt đối với một số bệnh mạn tính, trong
đó hiệu quả rõ rệt đối với bệnh tăng huyết áp
Khoa Dưỡng sinh Viện Y - Dược học Thành
phố Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức luyện tập
dưỡng sinh thăm dò trên 1.000 người tăng huyết
áp thể nguyên phát giai đoạn I và giai đoạn II
Kết quả không chỉ đỡ về mặt lâm sàng mà còn
khá ổn định về trị số huyết áp Viện Y học Cổ
truyền Việt Nam cũng đã thường xuyên tổ chức
các khoá dưỡng sinh ngoại trú - bệnh nhân được
hướng dẫn tập luyện theo chương trình chung,
và các khóa dưỡng sinh nội trú với các đối tượng
ăn ở, tập luyện tại viện Các đối tượng tham gia
luyện tập dù là ngoại trú hay nội trú ở viện đều
được theo dõi, khám sức khỏe trước, trong và sau
đợt tập luyện Sau một thời gian tập luyện,
những bệnh nhân này đã cải thiện được tình
trạng sức khỏe của mình: ăn ngon hơn, ngủ tốt
hơn, tinh thần sảng khoái hơn, bệnh mạn tính
giảm và đi vào ổn định Viện cũng đã tiến hành
nhiều nghiên cứu cơ bản để đánh giá giá trị thực
tiễn của luyện tập dưỡng sinh đối với việc chữa
bệnh cao huyết áp và một số bệnh mãn tính khác
bằng các phân tích cận lâm sàng như: điện não
đồ, lưu huyết não, phân tích cholesterol Trên
cơ sở đó Viện đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm
và xây dựng một phác đồ điều trị tăng huyết áp bằng phương pháp dưỡng sinh tương đối hoàn chỉnh và có hiệu quả cao
Muốn đề phòng và điều trị cao huyết áp cần phải hiểu về nguyên nhân và tiến triển của chứng bệnh này Ở người lớn huyết áp bình thường nếu huyết áp động mạch tối đa dưới 140mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu 90mmHg Có tăng huyết áp nếu huyết áp động mạch tối đa trên 160mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu trên 95mmHg Tăng huyết áp “giới hạn”, nếu huyết áp động mạch tối đa từ 140 - 160mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu từ 90 - 95mmHg Huyết áp động mạch tối đa còn gọi là huyết áp tâm thu, huyết áp động mạch tối thiểu còn gọi là huyết áp tâm trương
Huyết áp không thường xuyên ổn định mà thay đổi trong ngày (đêm thường thấp hơn ngày),
ở người già thường cao hơn người trẻ, nữ thường thấp hơn nam Và riêng chỉ số huyết áp không đánh giá hoàn toàn mức độ nặng nhẹ của bệnh Đặc biệt tăng huyết áp thường gây nhiều tai biến dẫn đến tử vong hoặc để lại những di chứng nặng
nề Những người từ 50 - 60 tuổi với huyết áp tâm trương 85mmHg thì tỷ lệ tử vong khoảng 63%, với huyết áp tâm trương 104 mmHg thì tỷ lệ tử vong
là 15,3% Tăng huyết áp thể nguyên phát là bệnh của thời đại phát triển công nghiệp Bệnh này có
Trang 13liên quan đến sự phát triển công nghiệp, đô thị và
nhịp sống căng thẳng; bệnh cũng thường gặp ở
các nước phát triển có đời sống cao, thói quen ăn
mặn cũng là một nguyên nhân tăng huyết áp Các
yếu tố tâm lý xã hội gây tình trạng căng thẳng
cũng tạo điều kiện cho tăng huyết áp phát triển
Bệnh thường có yếu tố gia đình Bố mẹ tăng huyết
áp, con cũng dễ mắc phải chứng bệnh này
Triệu chứng cao huyết áp thể hiện theo ba giai
đoạn tiến triển của bệnh Giai đoạn I, bệnh nhân
không có dấu hiệu khách quan về tổn thương thực
thể Giai đoạn II, bệnh nhân có ít nhất một trong
những dấu hiệu thương tổn sau: Dây thất trái
thấy được khi khám lâm sàng hay X-quang, điện
tâm đồ, siêu âm tâm đồ, hẹp các động mạch võng
mạc lan rộng hay khu trú, protein niệu hoặc
creatinin huyết tăng nhẹ
Giai đoạn III, bệnh đã gây những tổn thương ở
tim như suy thất trái; ở não có xuất huyết não; ở
đáy mắt có xuất huyết võng mạc và xuất tiết, có
thể có hoặc không phù gai thị Các dấu hiệu này
đặc trưng cho giai đoạn tiến triển nhanh Ở giai
đoạn III, bệnh còn có các biểu hiện khác nhưng
không rõ rệt, là những hậu quả trực tiếp của tăng
huyết áp: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, ở não
có huyết khối động mạch trong sọ
Ngoài ra, còn có loại huyết áp ác tính không
thuộc loại đối tượng điều trị tăng huyết áp bằng
phương pháp luyện tập dưỡng sinh
BỆNH CAO HUYẾT ÁP THEO Y HỌC CỔ TR UYỀN
Theo y học cổ truyền không có bệnh danh tăng huyết áp Y học cổ truyền gọi là chứng
“huyễn vựng”
Huyễn là hoa mắt, vựng là cảm giác tròng trành, ngồi không yên, đứng không vững (chóng mặt), nhức đầu, nặng đầu Thực chất là rối loạn
âm dương, tạng phủ thể hiện là can phong, can dương rối loạn Nguyên nhân là do mất cân bằng
âm dương của gan và thận, ảnh hưởng đến tâm
Để có thể hiểu được căn nguyên rõ ràng về tạng can, tạng thận, tạng tâm cần tìm hiểu về ngũ tạng, lục phủ theo y học cổ truyền
TẠNG TƯỢNG Theo lý luận của y học cổ truyền, học thuyết tạng tượng có vai trò quan trọng để chỉ đạo việc chữa bệnh, phòng bệnh hoặc dùng thuốc, luyện tập Theo nghĩa rộng mà nói, tạng là chỉ vào các tạng khí bên trong cơ thể, tượng là chỉ vào các
Trang 14liên quan đến sự phát triển công nghiệp, đô thị và
nhịp sống căng thẳng; bệnh cũng thường gặp ở
các nước phát triển có đời sống cao, thói quen ăn
mặn cũng là một nguyên nhân tăng huyết áp Các
yếu tố tâm lý xã hội gây tình trạng căng thẳng
cũng tạo điều kiện cho tăng huyết áp phát triển
Bệnh thường có yếu tố gia đình Bố mẹ tăng huyết
áp, con cũng dễ mắc phải chứng bệnh này
Triệu chứng cao huyết áp thể hiện theo ba giai
đoạn tiến triển của bệnh Giai đoạn I, bệnh nhân
không có dấu hiệu khách quan về tổn thương thực
thể Giai đoạn II, bệnh nhân có ít nhất một trong
những dấu hiệu thương tổn sau: Dây thất trái
thấy được khi khám lâm sàng hay X-quang, điện
tâm đồ, siêu âm tâm đồ, hẹp các động mạch võng
mạc lan rộng hay khu trú, protein niệu hoặc
creatinin huyết tăng nhẹ
Giai đoạn III, bệnh đã gây những tổn thương ở
tim như suy thất trái; ở não có xuất huyết não; ở
đáy mắt có xuất huyết võng mạc và xuất tiết, có
thể có hoặc không phù gai thị Các dấu hiệu này
đặc trưng cho giai đoạn tiến triển nhanh Ở giai
đoạn III, bệnh còn có các biểu hiện khác nhưng
không rõ rệt, là những hậu quả trực tiếp của tăng
huyết áp: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, ở não
có huyết khối động mạch trong sọ
Ngoài ra, còn có loại huyết áp ác tính không
thuộc loại đối tượng điều trị tăng huyết áp bằng
phương pháp luyện tập dưỡng sinh
BỆNH CAO HUYẾT ÁP THEO Y HỌC CỔ TR UYỀN
Theo y học cổ truyền không có bệnh danh tăng huyết áp Y học cổ truyền gọi là chứng
“huyễn vựng”
Huyễn là hoa mắt, vựng là cảm giác tròng trành, ngồi không yên, đứng không vững (chóng mặt), nhức đầu, nặng đầu Thực chất là rối loạn
âm dương, tạng phủ thể hiện là can phong, can dương rối loạn Nguyên nhân là do mất cân bằng
âm dương của gan và thận, ảnh hưởng đến tâm
Để có thể hiểu được căn nguyên rõ ràng về tạng can, tạng thận, tạng tâm cần tìm hiểu về ngũ tạng, lục phủ theo y học cổ truyền
TẠNG TƯỢNG Theo lý luận của y học cổ truyền, học thuyết tạng tượng có vai trò quan trọng để chỉ đạo việc chữa bệnh, phòng bệnh hoặc dùng thuốc, luyện tập Theo nghĩa rộng mà nói, tạng là chỉ vào các tạng khí bên trong cơ thể, tượng là chỉ vào các
Trang 15hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài Vì thế hai chữ
tạng tượng, nói đơn giản, cũng chỉ vào các hiện
tượng mà các tạng khí bên trong biểu hiện ra
ngoài cơ thể Nói một cách khác, cũng tức là căn
cứ vào đặc điểm của các hiện tượng sinh lý, bệnh
lý biểu hiện ở ngoài cơ thể mà quy nạp vào phạm
vi chức năng của các tạng khí khác nhau Trong
cơ thể con người, ngoài công năng sinh lý và sự
quan hệ lẫn nhau của ngũ tạng và lục phủ, còn có
dinh, vệ, khí, huyết, tinh, thần, tân dịch Trong
phần này chúng tôi chủ yếu giới thiệu công năng
của tạng phủ nhằm giúp cho người luyện tập có
khái niệm về vai trò của tạng phủ, từ đó có cách
giữ gìn trong việc luyện tập, sinh hoạt, ăn uống để
duy trì sự sống lâu dài khoẻ mạnh
NGŨ TẠNG Tâm
Chức năng:
Tâm là chủ thể của hoạt động sinh mệnh trong
cơ thể người, đứng hàng đầu trong các tạng phủ
Tất cả tinh thần, ý thức và tư tưởng đều quy nạp
vào công năng của tâm, và đó là tính chất trọng
yếu của tâm
Tâm chủ về thần minh Tâm còn chứa đựng cả
thần, nghĩa là có sự hoạt động của tư duy, trí tuệ,
khả năng làm việc của trí óc, thông qua đó để lãnh đạo mọi hoạt động của tạng phủ Do đó, người xưa đặc biệt quan tâm đến công năng của tâm Thực tiễn lâm sàng đã chứng minh, một khi tâm trạng có bệnh, thường thấy xuất hiện các triệu chứng sau: tim đập nhanh, kinh hãi, mất ngủ, phiền muộn, rối loạn thần kinh Gây ra các triệu chứng trên có thể do ngoại cảm nhưng thường chủ yếu do nội thương, do tình cảm xúc động thái quá, lo sầu, sợ hãi, giận dữ quá mức mà gây nên Vì vậy, khi luyện tâm, tinh thần phải trong sáng, phải luôn thanh thản trong lòng Chính vì tâm là chủ của ngũ tạng, lục phủ nên nó
có khả năng thống nhất và lãnh đạo các tạng phủ nhằm phối hợp và điều hoà lẫn nhau giúp cơ thể
ổn định
Tâm chủ về huyết mạch Tâm là tạng chủ yếu chỉ huy việc tuần hoàn về huyết dịch, do đó các hiện tượng ứ trệ về huyết đều có quan hệ đến tâm Tâm huyết đầy đủ thì sắc mặt tươi nhuận Nếu tâm và huyết mạch đều suy yếu thì phản ánh
ra sắc mặt xanh nhợt, tâm khí suy kiệt, vận hành của huyết dịch không thể thông suốt được
Quan hệ của tâm:
Quan hệ giữa tâm và lưỡi Một số bệnh lý của tâm thường biểu hiện ra lưỡi Vậy xem lưỡi có thể biết bệnh lý của tâm
Trang 16hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài Vì thế hai chữ
tạng tượng, nói đơn giản, cũng chỉ vào các hiện
tượng mà các tạng khí bên trong biểu hiện ra
ngoài cơ thể Nói một cách khác, cũng tức là căn
cứ vào đặc điểm của các hiện tượng sinh lý, bệnh
lý biểu hiện ở ngoài cơ thể mà quy nạp vào phạm
vi chức năng của các tạng khí khác nhau Trong
cơ thể con người, ngoài công năng sinh lý và sự
quan hệ lẫn nhau của ngũ tạng và lục phủ, còn có
dinh, vệ, khí, huyết, tinh, thần, tân dịch Trong
phần này chúng tôi chủ yếu giới thiệu công năng
của tạng phủ nhằm giúp cho người luyện tập có
khái niệm về vai trò của tạng phủ, từ đó có cách
giữ gìn trong việc luyện tập, sinh hoạt, ăn uống để
duy trì sự sống lâu dài khoẻ mạnh
NGŨ TẠNG Tâm
Chức năng:
Tâm là chủ thể của hoạt động sinh mệnh trong
cơ thể người, đứng hàng đầu trong các tạng phủ
Tất cả tinh thần, ý thức và tư tưởng đều quy nạp
vào công năng của tâm, và đó là tính chất trọng
yếu của tâm
Tâm chủ về thần minh Tâm còn chứa đựng cả
thần, nghĩa là có sự hoạt động của tư duy, trí tuệ,
khả năng làm việc của trí óc, thông qua đó để lãnh đạo mọi hoạt động của tạng phủ Do đó, người xưa đặc biệt quan tâm đến công năng của tâm Thực tiễn lâm sàng đã chứng minh, một khi tâm trạng có bệnh, thường thấy xuất hiện các triệu chứng sau: tim đập nhanh, kinh hãi, mất ngủ, phiền muộn, rối loạn thần kinh Gây ra các triệu chứng trên có thể do ngoại cảm nhưng thường chủ yếu do nội thương, do tình cảm xúc động thái quá, lo sầu, sợ hãi, giận dữ quá mức mà gây nên Vì vậy, khi luyện tâm, tinh thần phải trong sáng, phải luôn thanh thản trong lòng Chính vì tâm là chủ của ngũ tạng, lục phủ nên nó
có khả năng thống nhất và lãnh đạo các tạng phủ nhằm phối hợp và điều hoà lẫn nhau giúp cơ thể
ổn định
Tâm chủ về huyết mạch Tâm là tạng chủ yếu chỉ huy việc tuần hoàn về huyết dịch, do đó các hiện tượng ứ trệ về huyết đều có quan hệ đến tâm Tâm huyết đầy đủ thì sắc mặt tươi nhuận Nếu tâm và huyết mạch đều suy yếu thì phản ánh
ra sắc mặt xanh nhợt, tâm khí suy kiệt, vận hành của huyết dịch không thể thông suốt được
Quan hệ của tâm:
Quan hệ giữa tâm và lưỡi Một số bệnh lý của tâm thường biểu hiện ra lưỡi Vậy xem lưỡi có thể biết bệnh lý của tâm
Trang 17Quan hệ biểu lý Tâm đi với tiểu tràng
Quan hệ của tâm với ngũ hành Tâm thuộc
hành hoả
Quan hệ của tâm với ngũ vị Vị đắng thuộc
về tâm
Tâm là một tạng trọng yếu trong cơ thể Để
giúp cho tâm được ổn định phải hết sức tránh các
xúc động thái quá, phải rèn luyện về mặt tinh
thần, luôn luôn điềm đạm
Can
Chức năng:
Can tàng huyết, khi ngủ khí huyết chạy về
can, khi vận động khí huyết đi các kinh, khi
tĩnh khí huyết chạy về can Tạng can có chức
năng tàng huyết và điều tiết huyết Phải chú ý
đến tạng can khi giận dữ thái quá gây ảnh
hưởng đến chức năng của gan nghịch lên mà
tràn ra ngoài, gây thành bệnh nôn ra máu
Trong cuộc sống con người phải luôn luôn tự
kiềm chế, bình thản không được giận dữ thái
quá mà sinh bệnh
Can là chức vụ tướng quân, chủ về mưu Can
ví như tướng là ý nói can có chức năng phòng ngự
ngoại xâm, luôn luôn đối phó, chống đỡ bệnh tật,
tức là có khả năng giải độc, điều hoà các độc chất
đưa vào trong cơ thể Gân thuộc can Trong các
sách kinh điển thường viết: "can sinh gân", "can hợp với gân", "can là gốc của sự mỏi mệt"
Lâm sàng cho thấy những triệu chứng: gân xương đau mỏi, gân co giật; lưỡi rụt thường là
do can và gân Can khí không đầy đủ thì móng tay, móng chân biến ra mềm mỏng, khô héo, trắng nhợt
Quan hệ của can:
Quan hệ biểu lý Can đi với đởm Bệnh của can thường biểu hiện ra mắt
Quan hệ của can với ngũ hành Can thuộc mộc
Quan hệ của can với ngũ vị Chất chua thường được dẫn vào can do đó trong việc bào chế thuốc người ta thường tẩm dấm sao, với mục đích để thuốc dẫn về can
Để cho can khí mạnh, trong cuộc sống hằng ngày cần phải ăn uống thanh đạm và tránh giận
Trang 18Quan hệ biểu lý Tâm đi với tiểu tràng
Quan hệ của tâm với ngũ hành Tâm thuộc
hành hoả
Quan hệ của tâm với ngũ vị Vị đắng thuộc
về tâm
Tâm là một tạng trọng yếu trong cơ thể Để
giúp cho tâm được ổn định phải hết sức tránh các
xúc động thái quá, phải rèn luyện về mặt tinh
thần, luôn luôn điềm đạm
Can
Chức năng:
Can tàng huyết, khi ngủ khí huyết chạy về
can, khi vận động khí huyết đi các kinh, khi
tĩnh khí huyết chạy về can Tạng can có chức
năng tàng huyết và điều tiết huyết Phải chú ý
đến tạng can khi giận dữ thái quá gây ảnh
hưởng đến chức năng của gan nghịch lên mà
tràn ra ngoài, gây thành bệnh nôn ra máu
Trong cuộc sống con người phải luôn luôn tự
kiềm chế, bình thản không được giận dữ thái
quá mà sinh bệnh
Can là chức vụ tướng quân, chủ về mưu Can
ví như tướng là ý nói can có chức năng phòng ngự
ngoại xâm, luôn luôn đối phó, chống đỡ bệnh tật,
tức là có khả năng giải độc, điều hoà các độc chất
đưa vào trong cơ thể Gân thuộc can Trong các
sách kinh điển thường viết: "can sinh gân", "can hợp với gân", "can là gốc của sự mỏi mệt"
Lâm sàng cho thấy những triệu chứng: gân xương đau mỏi, gân co giật; lưỡi rụt thường là
do can và gân Can khí không đầy đủ thì móng tay, móng chân biến ra mềm mỏng, khô héo, trắng nhợt
Quan hệ của can:
Quan hệ biểu lý Can đi với đởm Bệnh của can thường biểu hiện ra mắt
Quan hệ của can với ngũ hành Can thuộc mộc
Quan hệ của can với ngũ vị Chất chua thường được dẫn vào can do đó trong việc bào chế thuốc người ta thường tẩm dấm sao, với mục đích để thuốc dẫn về can
Để cho can khí mạnh, trong cuộc sống hằng ngày cần phải ăn uống thanh đạm và tránh giận