TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN Học phần: Mỹ Học Đại Cương Chủ Đề 10: Cái bi kịch trong hình tượng nhân vật chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố Thực hiện: Nhóm 6 Đinh Thị Gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
Học phần: Mỹ Học Đại Cương
Chủ Đề 10: Cái bi kịch trong hình tượng nhân vật chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố
Thực hiện: Nhóm 6 Đinh Thị Giang (NT), Ngô Thị Hà
Nguyễn Thu Hoài, Cao Thị HoàiNgô Mạnh Hiên
Trang 3Con người chúng ta thường: mất đi mới biết trân trọng, đi tìm cái cao sang mà bỏ lỡ những
vẻ đẹp giản dị mà đáng quý Và đôi khi, chìa khoá mà bạn đang tìm, lời giải mà bạn muốn
ở ngay chỗ bạn Không lí gì, tự nhiên ông bà ta hay các thế hệ đi trước lại nói với chúng ta của ngày nay rằng: “Bọn trẻ bây giờ sướng hơn chúng ta bội phần!” hay như “ Ngày trước ông bà lo không có cái mà ăn, quần áo mà mặc thì giờ chúng mày lại lo không biết hôm nay
ăn món gì cho ngon, mặc gì cho đẹp” Bi kịch từ hình tượng nhân vật chị Dậu trong tác
phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố sẽ là lời giải đáp, chìa khoá cho vấn đề trên
Tác phẩm “Tắt đèn” được viết trước cách mạng tháng tám trong xã hội phong kiến đương thời và thời kì Pháp thuộc Hoàn cảnh đó khiến nhân dân phải chịu “một cổ hai tròng”
Song, chính xã hội bất công, tàn ác ấy đã làm sáng nên những vẻ đẹp đáng quý của người
nông dân thời xưa Và chị Dậu là một nhân vật điển hình như vậy Dù bị bi kịch cuộc đời xôđẩy vào bế tắc chị vẫn vẹn nguyên những phẩm chất quý giá của người nông dân Qua đó
giúp chúng ta thêm yêu, thêm thương, thêm đồng cảm, trân trọng những người phụ nữ xưa nói riêng và người nông dân nói chung Điều đó, thôi thúc chúng ta ở hiện tại hãy sống và trở thành những con người tử tế Hãy trân trọng mọi thứ xung quanh chúng ta bởi tất cả
những gì chúng ta có được ngày hôm nay là cả bao mồ hôi nước mắt của biết bao người đi trước, là công lao của biết bao anh hùng đã đổ máu đổi lấy độc lập, tự do, hoà bình
Để đạt được mục đích trên chúng em xin được làm sáng tỏ qua chủ đề “Phân tích cái bi
kịch từ hình tượng nhân vật chị Dậu” Cụ thể, chủ đề đó sẽ được phân tích, chứng minh
qua các phần:
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Những nét cơ bản về cái bi kịch
1.2 Tác giả Ngô Tất Tố
Trang 4*Khái niệm về cái bi kịch.
Cái bi kịch gắn liền với quan niệm về một cuộc đấu tranh căng thẳng và đầy giannguy vì những mục đích chân chính và dẫn tới kết quả là con người tiến hành cuộc đấutranh đó phải chết hoặc thất bại
Cái bi kịch thích ứng với những mâu thuẫn và xung đột gay gắt, quằn quại trong đời sống xã hội và cá nhân, và một phần lớn, trong những hoàn cảnh nhất định, tỏ ra không giải quyết được Theo Ph Ăngghen, cái bi kịch biểu hiện sự mâu thuẫn “giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không thể thực hiện nó đượctrong thực tiễn”
*Phân loại bi kịch: 2 loại
- Bi kịch lịch sử: Những câu chuyện oai hùng về các nhân vật giữ các vị trí quan trọng đối với cộng đồng, dân tộc, đất nước có lí tưởng, tài năng, đức độ nhưng vì nhược điểm nào đó mà phải chết, thất bại khi sự nghiệp còn dở dang VD: An Dương Vương, Hàm Nghi…
- Bi kịch của con người đời thường: Câu chuyện bi thương, bất hạnh về những con người bình thường mà tốt bụng, tử tế trong cuộc sống: VD: Chị Dậu, Chí Phèo, Lão Hạc…
*Nhân vật bi kịch.
1 Bi kịch của những nhân vật chết trong đêm trường đen tối
Đây là dạng thức bi kịch lịch sử điển hình - bi kịch của cái mới, cái tiến bộ, cái cáchmạng nhưng còn ở trong thế yếu, ở một hoàn cảnh đã nảy sinh nhu cầu tất yếu thay đổi lịch
sử hiện hành nhưng điều kiện để thực hiện nó lại chưa chín muồi Nhân vật bi kịch trongđây không đại diện cho cá nhân, cho một bộ phận người nhỏ bé, mà đại diện cho giai cấp,dân tộc, cộng đồng, cho những trào lưu có ý nghĩa xã hội rộng lớn Do vậy, cái chết của họ
là cái chết vĩ đại, có tác dụng thúc đẩy mọi người lao vào cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho sựcông bằng và tiến bộ xã hội
Trang 52 Bi kịch của các nhân vật chết trước bình minh.
Đây cũng là một dạng thức bi kịch lịch sử - bi kịch của cái mới, cái tiến bộ, cáchmạng đã ở thể thắng toàn cục, nhưng một bộ phận nào đó lâm vào hoàn cảnh lâm nguy vàngười anh hùng bị tiêu vong Sự hi sinh của nhân vật bi kịch trong đây là sự hi sinh ở mộtthời điểm quan trọng – trước ngưỡng cửa chiến thắng Sự hi sinh đó có ý nghĩa làm bật tungcánh cửa, đưa mọi người tràn ra ánh sáng từ bóng tối Bi kịch này có khi còn được gọi là bihùng kịch
3 Bi kịch của cái cũ những chưa cũ hẳn
Điều kiện của bi kịch này là cái cũ chưa trở thành cái phản động mà ít nhiều vẫn cònmang sứ mệnh lịch sử Bản thân cái cũ còn tin vào tính chất hợp lí của nó Bi kịch này chủyếu không phải do xung đột giữa cái cũ và cái mới sinh ra, mà là bi kịch của những ngườichưa nhận ra được tính tất yếu của quá trình đang chết dần của cái cũ nên vẫn ra sức bảo vệ
nó nên không tránh khỏi sự thất bại, tiêu vong
4 Bi kịch của sự nhầm lẫn, kém hiểu biết hoặc ngu dốt
Về cơ bản, nhân vật bi kịch trong đây đều là những người tốt, có nhân cách hoặc cóđộng cơ sống tử tế Bi kịch của sự nhầm lẫn được nêu ra như một bài học xương máu nhắcnhở con người Trong đời sống, sự kém hiểu biết, ngu dốt của con người cũng có thể gây ranhững bi kịch Bi kịch này không do lực lượng xã hội nào gây nên, mà thường do cá nhân tựchuốc lấy, mắc phải do chưa biết được giới hạn của mình
5 Bi kịch của những khát vọng của con người trong những điều kiện ngặt nghèo không thể thực hiện được
Dạng bi kịch này thể hiện những đau khổ, dằn vặt của cá nhân song lại chạm đến lẽsống, tình yêu, bổn phận của con người nên nó thường day dứt lòng người Nhân vật bi kịchtrong đây không phải là người anh hùng xuất chúng song là những người có phẩm chất,đáng yêu, đáng trọng Do vậy, bi kịch của họ có ý nghĩa tố cáo gay gắt những thế lực xấu xa
và bản chất đen tối của xã hội
Có thể nói, ở các trạng huống khác nhau, các dạng thức của cái bi kịch rất đa dạng, thểhiện sự phức tạp của chính cuộc đời Song dù ở trạng thái nào thì tình huống của cái bi kịchcũng thuộc về những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn, ảnh hưởng đến lẽ sống, tình yêu vàthân phận của con người Xung đột giữa cái cách mạng và cái phản động trong đây phảiđược xem là trung tâm của cái bi kịch thời đại
1.2 Tác giả Ngô Tất Tố.
1.2.1 Cuộc đời.
Nhà văn hiện thực phê phán Ngô Tất Tố sinh năm 1893 sinh ra trong một nhà nhonghèo làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ,phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Giang Ngô Tất Tố được coi là nhàvăn hàng đầu của trào lưu hiện thực phê phán ở Việt Nam trước 1945 với các tác phẩm tiêubiểu như "Tắt đèn", "Việc làng", "Tập án cái đình" Ông nội Ngô Tất Tố bảy lần thihương,nhưng chỉ đỗ tú tài.Còn bố cũng sáu lần lều chõng nhưng cũng không đỗ đạt gì.Cònbản thân ông, lúc ông 22 tuổi đã đỗ đầu trong kì thi hai hạch ở địa phương nên được người
ta gọi là ông Đầu xứ Tố.Sau đó, ông cùng ông Đỗ Ngọc Toại theo khóa thi Ất Mão, khoa
Trang 6cuối cùng của của Nho học tại trường thi Hà Nam, nhưng đều bị hỏng.
Ngô Tất Tố xuất thân từ trong một nhà nho nghèo nhưng cả ông nội và bố đều lànhững người có học Gia đình ông cũng chỉ là gia đình nông dân nghèo, còn phải chịu thêmruộng làng để cày cấy và trả nợ lãi khủng khiếp của bọn quan lại Chính những hiện thực đónên những tác phẩm ông viết chủ yếu hướng về những người nông dân lao động ,có sứcphản kháng mạnh mẽ
Có lẽ thời xưa nam nhi phải “năm thê bảy thiếp” mới được gọi là giàu có và đó làđiều hiển nhiên của mỗi gia đình Nhưng đối với ông, thì lại cảm thấy không thích vềchuyện này, dường như duyên số đã đẩy ông vào hai cô vợ xinh đẹp, mà hai người vợ lại làhai chị em ruột
Ngô Tất Tố xuất thân nho học nhưng đã sớm bỏ bút lông, cầm bút sắt, hăng hái bướcvào làng văn cương Việt Nam, ông tự tạo cho mình một ít riêng biệt không giống ai Ôngbắt đầu con đường hoạt động văn học với những bản dịch chữ Hán “Cẩm hương đình” năm
1923 Cho đến năm 1926, Tản Đà mở “An Nam tạp chí” và Ngô Tất Tố được mời ra Hà Nộicông tác thế là ông đã làm nghề báo từ đó Chính sự tình cờ đó mà ông có cơ hội viết lênnhững áng văn của riêng mình phản ánh và đi sâu vào từng ngóc ngách của xã hội thối tha,đểu trá, người nông dân sống trong thời đại khổ cực, những lối sống phè phỡn của bọnthống trị
Sau khi ra được 10 số, “An Nam tạp chí” bị đình bản, lúc này Ngô Tất Tố trở về quê.Năm sau, ông vào Sài Gòn tiếp tục viết cho các tờ báo: “Đông Pháp thời báo”, “ThầnChung” đén năm 1930 Đến 1935, ông mở tại Hà Nội hiệu thuốc bắc “Thọ dân y quán”,đồng thời dịch sách y học cho “Nhật Nam thư quán” và viết phóng sự: “Dao cầu thuyền tán”đăng trên báo “Công dân” Sau đó ông bị chính phủ thực dân cấm không cho viết tờ “HảiPhòng tuần báo”, bắt đầu dời hiệu thuốc về quê và bị trục xuất khỏi các thành phố lớn
Ông dành dụm tiền mua lại của ông anh họ tuần phủ mảnh đất và ngôi nhà cũ để làmchỗ ở riêng cho bà Hai Ngôi nhà ấy hiện còn lưu giữ hầu như nguyên vẹn tại làng Lộc Hà.Trong thời gian này, một loạt các tác phẩm của Ngô Tất Tố ra đời như: Tắt đèn, Lều chõng,Việc làng Rồi phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Đường thi (dịch), sau đó lầ Lão
Tử, Mặc Tử, rồi văn học đời Lý, văn học đời Trần, Hoàng Lê nhất thống chí (dịch) Khicách mạng thành công thì ông đã mở lòng ra chào đón và ông đã thực sự hòa nhập cùngcách mạng Ở quê Lộc Hà, ông đã tham gia Ủy ban giải phóng xã Năm 1946, ông gia nhậpHội văn hóa cứu quốc và là nhà văn cao tuổi nhất lên chiến khu Việt Bắc tham gia khángchiến tại vùng Yên Thế, Bắc Giang
Ngày 1/5/1948, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương cùng với VănCao và Kim Lân Trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất, ông được bầu vào Banchấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam Tại Yên Thế, Bắc Giang,sau một thời gian bị đau nặng,Ngô Tất Tố đã từ trần vào ngày 20/4/1954(tức 18/3 năm Giáp Ngọ) trước ngày kháng chiếnchống pháp thắng lợi, mộ của ông được đặt tại nghĩa trang liệt sĩ xã Mai Lâm
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác.
*Vị trí trong nền văn học.
Ngô Tất Tố là một cây bút hiện thực xuất xắc của nền văn học Việt Nam Các tác
Trang 7phẩm ông viết được nhiều người biết đến và thay đổi được nhận thức của họ Ngô Tất Tốđược Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thật năm 1996.
*Nội dung và nghệ thuật.
Về nội dung, thời kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, cuộc sống bị đẩy xuốngthảm hại đến mức phải tự kết liễu đời mình.Chính vì thế nhà văn dùng ngòi bút của mình đểviết lên những áng văn phản ánh đúng hiện thực phũ phàng đó Qua cuộc đời và số phận củanhân vật, Ngô Tất Tố muốn tố cáo và lên án chế độ sưu thuế, đánh đập con người một cáchtàn bạo, không cho con người được tự do sống với chính mình Cái sân đình để vui chơi giờđây đã trở thành trại giam, nơi hành hạ con người đổ máu Không chỉ vậy, tình vợ chồng,tình mẹ con, tình nghĩa xóm làng giữa con người cùng khổ nói đến một cách chân thực, sốphận người phụ nữ, những em bé, những người cùng đinh được tác giả nêu lên với bao xótthương đau lòng
Về nghệ thuật, thông qua nhưng bi kịch đau đơn của nhân vật, Ngô Tất Tố đã thể hiệnđược những giá trị nhân đạo cao cả, vừa bộc lộ nỗi xót thương vô hạn cho thân phận nhữngcon người bất hạnh trong xã hội cũ Với lối hành văn chân thực, chi tiết đan cài chặt chẽ, ấntượng với đọc giả đã làm cho các nhân vật được thể hiện chân thực, những vẻ đẹp từ nhânvật chị Dậu Những xung đột, những tình huống đẫ cho người phụ nữ ấy thể hiện đúng bảnchất của người phụ nữ thương chồng yêu con, dù có khó khăn đến mấy chị cũng chịu được.Đặc biệt hơn, ngôn ngữ trong tác phẩm gần gũi với người dân nông thôn chất phác, giúp họtiếp thu nhanh với tác phẩm
*Phong cách sáng tác.
Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam thời kì khángchiến chống Pháp , ông chuyên viết về đề tài người nông dân, người lao động trước cáchmạng Ông được coi là nhà văn hàng đầu của phong trào hiện thực phê phán, ông luôn khaithác và khám phá những thứ bên trong phẩm chất con người Không chỉ vậy, với ngòi búttài hoa này ông đã thắp lên ngọn lửa thù hận, cổ vũ nhân dân kháng chiến chống Pháp,muốn cho người nông dân thoát khỏi kiếp nô lệ tù đày, cuộc sống ấm no hạnh phúc Nổi bậttrên hiện thực đó ông đã viết lên tác phẩm “Tắt đèn” trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” làmột trong số những tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán kể về cuộc sống lầmthan của nhân dân dưới ánh đô hộ của thực dân Pháp Sự thành công của tác phẩm được thểhiện rõ nhất qua nhân vật Chị Dậu, chính nhân vật đã làm cho con người thời đó có thêmsức mạnh, sự can đảm, tình yêu thương,
Nhân vật chị Dậu đã toát lên những vẻ đẹp cần có của người phụ nữ Chị là một người
có tình yêu thương gia đình vô cùng, hiếu thảo với mẹ, Dù người phụ nữ đó có tình yêuđến mấy, vĩ đại đến mấy nhưng vẫn phải chịu cuộc sống khổ cực, bị rơi vào hoàn cảnhnghiệt ngã, phải lựa chọn giữa tình mẫu tử với tiền bạc Có lẽ, nhân vật này là một nhân vật
bi đáp nhất là bởi dù có mạnh mẽ đến đâu nhưng vẫn phải chịu đựng bọn quan lại, dù cóyêu con đến đâu cũng phải bỏ con để lấy mấy đồng trả nợ, sống qua ngày… Tất cả nhằm tốcáo sự thối nát của xã hội phong kiến, lũ cướp nước ức hiếp dân nghèo, đẩy họ vào conđường cùng
Ông rất thành công ở nhiều lĩnh vc khác nhau như: khảo cứu, dịch thuật, viết báo, đặcbiệt là viết văn Về phương diện học thuật, ông là tác giả nhiều công trình nghiên cứu triếthọc, văn học cổ, lịch sử có giá trị Cuốn ký sự lịch sử “Vua Hàm Nghi với việc kinh thành
Trang 8thất thủ” (1935) đã biểu lộ một tinh thần yêu nước, thái độ căm ghét bọn tướng giặc và bọnViệt gian bán nước Tuy xuất thân là một người cựu học như Ngô Tất Tố không phải là mộtngười bảo thủ mà luôn luôn cố gắng vươn tới những tư tưởng tiến bộ của thời đại.Trongcuốn phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim (1940), ông phê phán nhắm mắt đề cao,xuyên tạc đối với Nho giáo của Trần Trọng Kim Trong bộ Văn học Việt Nam, Ngô Tất Tố
đã thiết tha mong muốn được giữ những bản sắc dân tộc, nét đẹp văn hóa dân gian Và ôngđặc biệt đề cao tư tưởng độc lập tự cường của văn chương thời Trần và phê phán tinh thần
nô lệ bạc nhược, “bị trói buộc trong xiềng xích của nghề từ chương” đầy rẫy những vănchương học thuật phong kiến
Về dịch thuật, bản dịch ‘Đường thi” (1940) và “Hoàng Lê nhất thống chí” (1942) lànhững công trình nhiều giá trị
Trên lĩnh vực báo chí, ông là “ Một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” (nhậnxét của Vũ Trọng Phụng) Từ những năm 20, ông thường xuyên có mặt trên nhiều tờ báo ởTrung, Nam, Bắc: An Nam tạp chí, Thần chung, Thực nghiệp, Đông phương, Công dân,Tương lai… với nhiều bút danh: Lộc Hà, Lộc Đĩnh, Phó Chi, Thôn dân, Hy Cừ… Đặc biệttrong thời kì mặt trận dân chủ, do ảnh hưởng của phong trào đang dâng lên sôi sục, ngòi bútsắc bén của ông tỏ ra xông xáo, tung hoành Với tấm lòng ưu ái trước thời thế, luôn luôn bănkhoan về số mệnh đất nước, nhân dân Ông đã đứng khá vững trên lập trường dân chủ, dõngdạc kết án tội ác của bọn thống trị và lên tiếng ủng hộ nhân dân đứng lên chống lại Ông đãnhiều lần tố cáo những thủ đoạn cho vay nặng lãi cắt cổ của bọn nhà giàu và viết lên với cácbài viết: “Rõ thật rắc rối cái con đường quan báo”, “Về cách làm giàu của nhiều quan lại AnNam” và viết một phóng sự vạch mặt bọn thâm ô bip bợm trên bài viết: “Dao cầu thuyềntán” Ngô Tất Tố còn vạch trần tính giàu và viết các bài viết:”Rõ thật rắc rối cái con đườngquan báo”, “Về cách làm giàu của nhiều quan lại An Nam” Ông đã viết nhiều về cuộc sốngnêu lên tình cảnh thê thảm bị áp bức bóc lột, bị thiên tai phá hoại mùa màng như: “Mời ông
Gô đa thăm mới nơi này”, “Bắc Ninh cấp cứu”… Tuy chưa có được nhận thức cách mạng
và vượt khỏi tư tưởng chính trị cải lương nên có những lệch lạc không tránh khỏi, nhưngngòi bút của ông vẫn đầy tính chiến đấu và rất gần gũi với cách mạng
Về sáng tác văn học, những sáng tác của Ngô Tất Tố trước cách mạng là “Tắt đèn” (1939), “Lều chõng” (1939), “Việc làng” (1939) Ngoài ra còn một số tác phẩm tiêu biểu khác được đăng ở các bài báo Với sự ra đời của tác phẩm “Tắt đèn” đã đánh dấu được bước chuyển nghệ thuật viết văn của Ngô Tất Tố và ông được mọi người biết đến Tuy xuất thân từ một nhà Nho được học tập ở nền giáo dục cũ nhưng ông vẫn tỏ ra là người biết kịp thời đại Có lẽ trong cuộc đời của ông, chỉ có sáng tác văn học mới làm ông thỏa mãn nhất, chỉ có con mắt của ông mới nhìn thấu được nổi khổ của nhân dân lao động
*Những tác phẩm tiêu biểu.
Tắt đèn, Lều chõng, Thơ và Tình, Địa dư Việt Nam, Kinh dich, Suói thép, Trước lửa chiến đấu, Lão Tử, Đường Thi, Đề Thám, Trời hửng, Duyên máu, Việc làng, Địa dư các nước Châu Âu, Văn học đời Lý và văn học đời Trần, Tất cả tác phẩm của ông đều
hướng tới con người và số phận con người
Trang 91.3: Tác phẩm Tắt Đèn.
1.3.1: Bối cảnh lịch sử.
*Bối cảnh chung:
a) Bức tranh nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng 8:
Nhắc đến Ngô Tất Tố, người ta không thể không nghĩ đến cái làng quê nghèo ViệtNam thời Pháp thuộc mà tiếng trống thúc thuế hằng năm đe dọa người nông dân như một taihọa khủng khiếp, đồng thời cũng là xứ sở của những nhiều hủ tục nặng nề được duy trì từngàn xưa cùng với chế độ phong kiến
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ở nước ta dân số nông dân chiếm tới trên 90%dân số cả nước Người nông dân bị hai tròng áp bức là: thực dân và phong kiến Phần lớnruộng đất đều nằm trong tay địa chủ và chủ đồn điền của thực dân, có tới gần 60% số hộdân không có ruộng đất, phải làm thuê, nộp tô nộp tức, sưu cao thuế nặng, quanh năm lam
lũ, quanh năm đói rách Cơ sở vật chất - kỹ thuật nông nghiệp còn hạn chế không đáng kểđến Hệ thống đê điều được hình thành từ mấy trăm năm trước, hàng năm không được tu bổđầy đủ, nên chỉ trong 40 năm (tính từ năm 1900) đã có tới 16 lần vỡ đê lớn Hệ thống thủynông chỉ tưới được cho phần nhỏ diện tích (15%), còn phần lớn phải dựa vào các trận mưa,
vì vậy thường gặp phải cảnh "chiêm khê, mùa thối" Hầu hết diện tích chỉ cấy được một vụlúa với năng suất rất thấp Lương thực hàng năm không đủ dùng trong nước, nhưng bọnthực dân vẫn vơ vét để xuất khẩu, làm cho người dân sống trong cảnh năm nào cũng cóngười chết đói Đặc biệt năm 1945 nước ta vừa gặp thiên tai, vừa bị phát xít Nhật bắt phálúa trồng đay, đốt thóc làm nhiên liệu, nên có đến 2 triệu người chết đói,
"Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo, Việt Nam hết gạo chết co đầy đường."
"Đất này đất tổ đất tiên Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa Chiếm trồng đay lạc, ức chưa hỡi trời."
b) Đường lối chính sách của Đảng đối với đời sống của người nông dân trước Cách mạng tháng 8:
Giai cấp nông dân là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng,của dân tộc ta Lịch sử hơn 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định những đónggóp to lớn của nông dân đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ
Tổ Quốc
Trang 10Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nông dân nước ta chiếm hơn 90% dân số, lànạn nhân chủ yếu của chế độ thực dân Giải phóng dân tộc, mà chủ yếu là nông dân lànhiệm vụ quan trọng số một của cách mạng Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn ÁiQuốc - chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định cần phải thu hút đại bộ phận giai cấp nông dânvào sự nghiệp đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Năm 1927, Trong tác phẩm "Đường cách mệnh", Nguyễn Ái Quốc đã xác định kháiniệm lực lượng cách mạng một cách đúng đắn, khoa học dựa vào tiêu chí "bị áp bức"; "Ai
mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết"
Theo tiêu chí đó, Người xếp giai cấp công nông là "gốc cách mệnh", không chỉ vì họ chiếm
số đông trong dân chúng mà cơ bản là họ bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, tàn bạo nhất.Nguyễn Ái Quốc coi "học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ" là "bầu bạn cách mệnh của côngnông" Những chỉ dẫn cơ bản này chính là nền tảng lý luận để hình thành khối liên minhcông nông và Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Namsau này
Đến năm 1930, trong "Cương lĩnh đầu tiên" chủ trương của Đảng là "thu phục chođược đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh
úp bọn đại địa chủ và phong kiến" Đảng ta cũng chủ trương xây dựng khối đoàn kết rộngrãi các giai cấp, tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức cách mạng, chỉ đánh đổ nhữnglực lượng và đảng phái phản cách mạng: "Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức,trung nông, Thanh niên, Tân Việt, để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọnphú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợidụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (ĐảngLappj Hiến, ) thì phải đánh đổ" Trong khi liên lạc với các giai cấp, không được nhânnhượng lợi ích của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp
Chủ trương trên cho thấy, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nắm chắc tình hìnhthực tiễn Việt Nam, đánh giá đầy đủ và đúng đắn vị trí, vai trò, khả năng của các giai cấp,tầng lớp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam một cách triệt để
Nắm vững lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, "Đảng ta vừa mới ra đời
đã nắm ngay quyền lãnh đạo cách mạng, bởi vì Đảng ta sớm đã vây dựng được “Khối liênminh công nông” Uy tín chính trị và quyền lãnh đạo cách mạng của Đảng ta sở dĩ là tuyệtđối, không ai tranh chấp nổi, bởi vì nó bắt nguồn từ sức mạnh của Đảng, của quần chúngcông nông Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng trong điều kiện như nước ta,một nước thuộc địa, phong trào cách mạng thực sự phải là một phong trào dân tộc mà trong
đó đội quân chủ lực phải bao gồm hai lực lượng cơ bản là công nhân và nông dân Có dựatrên lực lượng cơ bản vững chắc đó, đảng ta mới có khả năng mở rộng đội ngũ cách mạngtới các giai cấp và tầng lớp khác có tinh thần yêu nước trong dân tộc Xuất phát từ đặc điểmnông dân nước ta, đảng đã quan tâm giáo dục nông dân, lãnh đạo họ đi theo