1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ TỈNH THÁI BÌNH

134 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Ngành Y Tế Tỉnh Thái Bình
Tác giả Lương Thị Bẩy
Người hướng dẫn TS. Trần Quang Huy
Trường học Đại học Thái Bình
Chuyên ngành Quản lý Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 257,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài MỞ ĐẦU Ngày nay, ngân sách nhà nước (NSNN) trở thành công cụ điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới, giữa vai trò quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực của nền kinh tế nhằm đảm bảo hoạt động của nhà nước, đồng thời phân phân phối nguồn lực hợp lý để thúc đầy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững. Bên cạnh đó còn giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động xã hội. Chính từ vai trò đó trong hoạt động nước ta hiện nay đang tích cực phấn đấu không còn là nước kém phát triển trở thành một nước công nghiệp. Với mục tiêu đó và nguồn lực cho phát triển của Việt Nam là có hạn yêu cầu huy động mọi nguồn lực và sử dụng hiệu quả là hết sức cần thiết đây chính là mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước. Ngân sách Nhà nước là một thể thống nhất nên yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý NSNN không chỉ là cấp quốc gia mà các địa phương phải thực hiện. Để thực hiện được điều đó, trước hết cần phải nhận thức đúng vấn đề lý luận về ngân sách Nhà nước, từng bước đổi mới phương thức quản lý NSNN phù hợp. Ngày 07112001 Việt nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức quốc tế WTO Là điều kiện thuận lợi cho chúng ta đón nhận nguồn tài chính của các tổ chức tài chính trên thế giới, song phải quản lý, sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực kết hợp nguồn lực bên ngoài đảm bảo nguồn tài chính quốc gia. Nâng cao hiệu quả QLNN nhằm làm cho NSNN thực sự là công cụ của Nhà nước, sử dụng nó để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn trong huy động và phân bổ các nguồn lực xã hội thuốc phạm vi NSNN. Yêu cầu đối với tỉnh THÁI BÌNH là cần thiết, bởi vì THÁI BÌNH là một tỉnh miền núi, tăng trưởng kinh tế là chưa cao, khả năng tích lũy còn thấp, điều kiện tự nhiên còn gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy nâng cao hiệu quả quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh nói chung và của ngành y tế nói riêng là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong xã hội, đảm bảo cân đối thu chi ngân sách, cải thiện lành mạnh tình hình tài chính địa phương, đảm bảo yêu cầu vốn chi cho các mục tiêu phát triển KT XH trên địa bàn tỉnh. Thời gian qua, quản lý NSNN của ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH đang từng bước đổi mới, hoàn thiện. Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển, góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nâng cao an sinh xã hội. Tuy nhiên vẫn còn một vài hạn chế và trong giai đoạn tới cần phải khắc phục và hoàn thiện hơn nữa chủ yếu là về vấn đề chi ngân sách Nhà nước làm sao tiết kiệm, tránh lãng phí các nguồn lực nhằm phát triển bền vững nền kinh tế. Từ nhận thức như vậy, với những kiến thức đã được các thầy, cô của trường Đại học Kinh tế và Quản Trị kinh doanh THÁI BÌNH trang bị, cùng thực tiễn công tác và mong muốn góp phần nhỏ công sức để tham gia công tác quản lý NSNN của tỉnh THÁI BÌNH nói chung và của ngành y tế nói riêng được tốt hơn nên tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế của tỉnh THÁI BÌNH”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Làm rõ những lý luận cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH (Chủ yếu là công tác quản lý chi ngân sách) từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành, góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh THÁI BÌNH Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiền về quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế. Đánh giá được thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH. Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi ngành y tế của Tỉnh THÁI BÌNH. Cụ thể là sở y tế Tỉnh Thái Nguyên. Về thời gian: Tài liệu tổng quan được thu thập trong khoảng thời gian từ những tài liệu đã công bố từ năm 2010 đến nay, số liệu điều tra thực chủ yếu trong 3 năm 20102012. Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về công tác quản lý ngân sách của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH (Chủ yếu là công tác chi ngân sách nhà nước ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH). 4. Đóng góp mới của luận văn Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước ngành y tế Phân tích rõ thực trạng của công tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH Kiến nghị với các cấp, các ngành bổ sung, sửa đổi chính sách, chế độ nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách ngành y tế 5. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương. Chương 1: Lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH

Trang 1

TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 2

TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý Kinh

tế Mã số: 60.30.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN QUANG HUY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa họcđộc lập của tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực cónguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Lương Thị Bẩy

iii

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý ngân

sách nhà nước đối với ngành y tế của tỉnh THÁI BÌNH” tôi đã nhận được

sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa đào tạo Sau đại học, TrườngĐại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học THÁI BÌNH

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS Trần Quang Huy đã trực tiếp

hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và góp ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, phòng Kế hoạch - Tài chính,phòng Tổ chức - Hành chính, Sở Y tế THÁI BÌNH, Sở Kế hoạch và Đầu tư,

Sở Tài chính đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Lương Thị Bẩy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.Đóng góp mới của luận văn 3

5.Bố cục của luận văn 3

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ 4

1.1 Tổng quan về quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) 4

1.1.1.Khái niệm đặc điểm của quản lý ngân sách Nhà nước 4

1.1.2.Quản lý ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường 7

1.2 Quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế 10

1.2.1.Khái quát về thu ngân sách nhà nước đối với ngành y tế 10

1.2.2.Khái quát về chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế 14

1.3 Một số kinh nghiệm thực tế trong việc quản lý tài chính đối với ngành y tế 35

1.3.1.Kinh nghiệm của một số tỉnh trong việc quản lý ngân sách đối với ngành y tế 35

1.3.2.Bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý ngân sách nhà nước

đối với ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH 39

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1.Câu hỏi nghiên cứu 39

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 40

2.3.1.Nhóm chỉ tiêu về thu NSNN 40

2.3.2.Nhóm chỉ tiêu chi NSNN 40

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ TỈNH THÁI BÌNH 42

3.1 Giới thiệu chung về sở y tế tỉnh THÁI BÌNH 42

3.1.1.Vài nét kháiquátvề tình hình kinhtế - xã hội của tỉnh THÁI BÌNH 42

3.1.2 Sự ra đời, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn công tác tổ chức của Sở y tế tỉnh THÁI BÌNH 42

3.2.Thực trạng quản lý ngân sách ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH 60

3.2.1 Những hoạt động chủ yếu của ngành Y tế trong những năm gần

đây 60

3.2.2.Quytrìnhphânphổ ngânsách nhà nướccủa ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH64 3.2.3 Quy trình lập quyết toán thu chi NSNN tỉnh THÁI BÌNH 65

3.2.4 Nguồn vồn đầu tư cho Y tế và quản lý nguồn vốn 65

3.2.5.Nội dung và cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho Y tế trong 3 năm 2010

-201272 3.3Đánh giá chung về công tác quản lý NSNN đối với ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH 86

3.3.1.Kết quả đạt được 86

3.3.2.Những hạn chế và nguyên nhân 88

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ TỈNH THÁI BÌNH 93

4.1 Định hướng phát triển của ngành Y tế tỉnh THÁI BÌNH trong thời gian tới 93

4.1.1 Về đào tạo phát triển nguồn nhân lực và tổ chức y tế 93

4.1.2.Về kinh tế y tế. 93

4.1.3.Về kỹ thuật và thông tin y tế 93

Trang 7

4.1.4 Xác định nhu cầu chi ngân sách nhà nước cho Y tế của tỉnh

THÁI BÌNH 94

4.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách nhà nước cho Y tế của tỉnh THÁI BÌNH 94

4.2.1 Đổi mới phương thức lập và giao dự toán chi ngân sách cho Y tế 94

4.2.2.Tăng cường kiểm tra, thanh tra tình hình sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực y tế tại THÁI BÌNH 96

4.2.3.Quản lý chi NSNN cho Y tế phải được tăng cường trong cả ba

khâu lập, chấp hành và quyết toán NSNN 97

4.2.4.Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kế toán tài chính ở các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở 98

4.2.5.Đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh

THÁI BÌNH 100

4.2.6.Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

của các đơn vị sự nghiệp y tế 101

4.3.Một số kiến nghị 103

4.3.1.Kiến nghị với UBND tỉnh và Nhà nước 103

4.3.2.Kiến nghị với các đơn vị cấp dưới 105

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng giường bệnh của Tỉnh qua 3 năm 2010-2012 61

Bảng 3.2: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chuyên môn về khám chữa bệnh năm 2010-2012 của ngành y tế THÁI BÌNH 62

Bảng 3.3: Nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp Y tế của Tỉnh THÁI BÌNH 66

Bảng 3.4: Tình hình thu BHYT qua 3 năm 2010 - 2012 68

Bảng 3.5: Tình hình thu viện phí qua 3 năm 2010- 2012 69

Bảng 3.6: Chi ngân sách cho sự nghiệp y tế Tỉnh THÁI BÌNH 72

Bảng 3.7: Cơ cấu chi ngân sách tỉnh cho Y tế qua 3 năm 2010- 2012 74

Bảng 3.8: Chi NSTP cho nhóm chi con người qua 3 năm 2010 - 2012 76

Bảng 3.9: Tình hình chi cho nghiệp vụ chuyên môn sự nghiệp y tế qua 3 năm 2010-2012 80

Bảng 3.10: Tình hình chi cho mua sắm sữa chữa qua 3 năm 2010- 2012 83

Bảng 3.11: Tình hình chi ngân sách cho quản lý hành chính 85

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại đơn vị 49

Sơ đồ 3.1 quy trình phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh THÁI BÌNH 64

Sơ đồ 3.2 Quy trình lập quyết toán thu chi NSNN của tỉnh THÁI BÌNH 65

Trang 11

là thành viên thứ 150 của tổ chức quốc tế WTO - Là điều kiện thuận lợi chochúng ta đón nhận nguồn tài chính của các tổ chức tài chính trên thế giới,song phải quản lý, sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, kết hợp chặt chẽ giữa pháthuy nội lực kết hợp nguồn lực bên ngoài đảm bảo nguồn tài chính quốc gia.

Nâng cao hiệu quả QLNN nhằm làm cho NSNN thực sự là công cụ củaNhà nước, sử dụng nó để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn trong huy động vàphân bổ các nguồn lực xã hội thuốc phạm vi NSNN Yêu cầu đối với tỉnhTHÁI BÌNH là cần thiết, bởi vì THÁI BÌNH là một tỉnh miền núi, tăng trưởngkinh tế là chưa cao, khả năng tích lũy còn thấp, điều kiện tự nhiên còn gặp

11

Trang 12

nhiều khó khăn, chính vì vậy nâng cao hiệu quả quản lý NSNN trên địa bàntỉnh nói chung và của ngành y tế nói riêng là hết sức cần thiết trong giai

12

Trang 13

đoạn hiện nay và sắp tới, nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong

xã hội, đảm bảo cân đối thu chi ngân sách, cải thiện lành mạnh tình hình tàichính địa phương, đảm bảo yêu cầu vốn chi cho các mục tiêu phát triển KT-

XH trên địa bàn tỉnh

Thời gian qua, quản lý NSNN của ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH đangtừng bước đổi mới, hoàn thiện Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển,góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nâng cao ansinh xã hội Tuy nhiên vẫn còn một vài hạn chế và trong giai đoạn tới cầnphải khắc phục và hoàn thiện hơn nữa chủ yếu là về vấn đề chi ngân sách Nhànước làm sao tiết kiệm, tránh lãng phí các nguồn lực nhằm phát triển bềnvững nền kinh tế

Từ nhận thức như vậy, với những kiến thức đã được các thầy, cô củatrường Đại học Kinh tế và Quản Trị kinh doanh THÁI BÌNH trang bị, cùngthực tiễn công tác và mong muốn góp phần nhỏ công sức để tham gia côngtác quản lý NSNN của tỉnh THÁI BÌNH nói chung và của ngành y tế nói

riêng được tốt hơn nên tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý ngân

sách nhà nước đối với ngành y tế của tỉnh THÁI BÌNH”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung: Làm rõ những lý luận cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản

lý ngân sách của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH (Chủ yếu là công tác quản lýchi ngân sách) từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản

lý ngân sách nhà nước của ngành, góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnhTHÁI BÌNH

Trang 14

- Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lýngân sách nhà nước của ngành y tế Tỉnh THÁI BÌNH

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành y tếTỉnh THÁI BÌNH

* Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về công tác quản lý ngân sách của ngành

y tế Tỉnh THÁI BÌNH (Chủ yếu là công tác chi ngân sách nhà nước ngành y

tế Tỉnh THÁI BÌNH)

4 Đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước ngành

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương

Chương 1: Lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế

Chương 2: Phương pháp nghiên

cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ

1.1 Tổng quan về quản lý ngân sách nhà nước (NSNN)

1.1.1 Khái niệm đặc điểm của quản lý ngân sách Nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm về quản lý NSNN

Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một bộ phận quan trọng của hệ thống tàichính, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia và là cơ sở vật chất choNhà nước tồn tại, hoạt động cũng như thực hiện các chức năng của mình

Theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ cáckhoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyếtđịnh và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm

vụ của Nhà nước” Trong phạm vi bài luận văn này e chủ yếu nhấn mạnh vềhoàn thiện công tác chi ngân sách nhà nước ngành y tế tỉnh THÁI BÌNH

Quản lý NSNN là quản lý dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trongmột khoảng thời gian nhất định thường là một năm Như vậy, quản lý NSNN

là một kế hoạch tài chính cơ bản của Quốc gia, trong đó bao gồm kế hoạchthu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối

Khái niệm thu NSNN là việc Nhà Nước dùng quyền lực của mình đểtập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoảmãn các nhu cầu của Nhà Nước

Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ

NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo nhữngnguyên tắc nhất định

Như vậy có thể hiểu chi NSNN là các khoản chi tiêu của các cơ quanNhà nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách để duy trì sự hoạt động của bộ máyNhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm

Trang 16

nhận Quy mô, cơ cấu chi NSNN như thế nào là tuỳ thuộc vào từng Nhà nước

và mục tiêu phát triển của quốc gia trong từng thời kỳ

Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹNSNN thể hiện:

Quá trình phân phối quỹ NSNN là quá trình hình thành các loại quỹtrước khi đưa vào sử dụng Số lượng các loại quỹ, tỷ trọng các loại quỹ trongtổng số là tuỳ thuộc vào việc thực hiện các nhiệm vụ chức năng của Nhà nướctrong từng thời kỳ nhất định và khối lượng NSNN hàng năm

Quá trình sử dụng quỹ NSNN là quá trình trực tiếp chi dùng các khoảntiền cấp phát từ Ngân sách cho các nhu cầu phù hợp với mục đích hình thànhcác loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Hiệu quả quỹ NSNN phụ thuộc vàonhiều yếu tố khác nhau như: sự lựa chọn đúng đắn các khoản chi, hiệu quảquản lý chi NSNN…

Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu NSNN có ý nghĩa quantrọng trong quản lý NSNN Vì mỗi giai đoạn có đối tượng quản lý, yêu cầuquản lý và mục tiêu quản lý khác nhau

Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN Thu NSNN là nguồnvốn đảm bảo nhu cầu chi NSNN Ngược lại vốn NSNN chi cho mục tiêu tăngtrưởng kinh tế là điều kiện để phát triển và tăng nhanh nguồn thu của NSNN

Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ gópphần nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội và tăng sản phẩm quốc dân

1.1.1.2 Đặc điểm của quản lý NSNN

Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực củaNhà nước và phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, đượcNhà nước tiến hành trên cơ sở luật định Đây cũng chính là điểm khác biệtgiữa NSNN với các khoản tài chính khác Các khoản thu NSNN đều mangtính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính chất cấp phát “không hoàn trảtrực tiếp” Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã

Trang 17

hội, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân

và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước để tạo quỹNSNN như pháp luật về thuế; đồng thời có các chế độ chi tiêu nhằm sử dụngNSNN tiết kiệm, hiệu quả cho những mục tiêu nhất định Các hoạt động thuchi NSNN cũng luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan Nhà nước

NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, chứa đựng lợi ích chungcủa toàn xã hội Ẩn sau các hoạt động thu, chi NSNN là việc xử lý các mốiquan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phốicác nguồn lực tài chính quốc gia Các doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nướcgóp phần hình thành nguồn thu cho NSNN đồng thời doanh nghiệp được Nhànước trợ cấp, đầu tư, tài trợ (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác(cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực…) do Nhà nước chủ trì manglại Các hộ gia đình, dân cư xã hội và các đoàn thể, tổ chức phi lợi nhuận cónghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước và được Nhà nước tài trợ hoặc cấp kinh phí(trợ cấp gia đình, trợ cấp thất nghiệp, kinh phí hoạt động…), được Nhà nướcđảm bảo về quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng, bảo đảm xã hội, giáo dục,chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và phúc lợi công cộng khác…

Quỹ NSNN luôn được phân chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn trước khiđưa vào sử dụng, chủ thể sử dụng các quỹ này là những đơn vị sử dụng NSNNđược quyền sử dụng Ngân sách theo chức năng, nhiệm vụ và các quy định vềNgân sách do Nhà nước ban hành Việc phân phối NSNN thành các quỹ nhỏ vớimục đích khác nhau chính là quá trình sử dụng NSNN nhằm thực hiện chứcnăng của Nhà nước, không trực tiếp chi dùng từ quỹ tiền tệ tập trung

Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàntrả trực tiếp là chủ yếu Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗkhông phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thểđều được hoàn lại bằng các khoản chi của NSNN Điều này được quyết địnhbởi các chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của Nhà nước Đặc điểm nàyphân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng

Trang 18

1.1.1.3 Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước

Về mặt xã hội: Thông qua hoạt động thu, chi NSNN cấp phát kinh phícho tất cả các lĩnh vực hoạt động vì mục đích phúc lợi xã hội Thông quacông cụ ngân sách, Nhà nước có thể điều chỉnh các mặt hoạt động trong đờisống xã hội như: Thông qua chính sách thuế để kích thích sản xuất đối vớinhững sản phẩm cần thiết cấp bách, đồng thời có thể hạn chế sản xuất nhữngsản phẩm không cần khuyến khích sản xuất Hoặc để hướng dẫn sản xuất vàtiêu dùng hợp lý Thông qua nguồn vốn ngân sách để thực hiện hình thức trợcấp giá đối với các hoạt động thuộc chính sách dân số, chính sách việc làm,chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội v.v

Về thị trường: Thông qua các khoản thu, chi NSNN sẽ góp phần bình

ổn giá cả thị trường Ta biết rằng, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự biếnđộng giá cả đến mức gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nền kinh tế cónguyên nhân từ sự mất cân đối cung - cầu Bằng công cụ thuế và dự trữ Nhànước can thiệp đến quan hệ cung - cầu và bình ổn giá cả thị trường

Hoạt động thu chi NSNN có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát.Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế Lạm phát xảy ra khimức chung của giá cả và chi phí tăng Để kiềm chế được lạm phát tất yếu phảidùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ thấp chi phí Bằng biện pháp giải quyếttốt thu chi NSNN có thể kiềm chế, đẩy lùi được lạm phát, góp phần thúc đẩykinh tế - xã hội phát triển

1.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.1.2.1 Bản chất của ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳngười dân nào cũng biết được, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau vềngân sách nhà nước:

Theo quan điểm của nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chibằng tiền của nhà nước trong một giai đoạn nhất định

Trang 19

Một cách hiểu tương tự, người pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu

kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong mộtnăm

Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoàicủa NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa nhà nước và NSNN

Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực nhà nước tạiviệt nam, định nghĩa về NSNN được nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996):NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của nhà nước trong dự toán đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong mộtnăm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước (điều1-luật NSNN)

Trong thực tiễn, hoạt động quản lý NSNN là hoạt động thu (tạo lập) vàchi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận độnggiữa một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sảnphẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là nhà nước đó chính là bảnchất kinh tế của NSNN đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệ kinh

tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội nói cách khác, NSNN phảnánh mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổngsản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhànước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thànhthu nhập của nhà nước và nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thểđược thực hiện để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

1.1.2.2.Vai trò của quản lý ngân sách trong nền kinh tế thị trường

Tất cả những khiếm khuyết của cơ chế thị trường đòi hỏi có sự canthiệp của nhà nước là tất yêu, là một nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lainhững cân đối và mở đường cho sức sản xuất phát triển

Trong cơ chế điều chỉnh của nhà nước, bên trong kết cấu của nó, ngoài

Trang 20

việc tổ chức một cách khoa học, thì những công cụ tài chính, tiền tệ, kế hoạch, luật pháp được coi là những công cụ điều chỉnh cơ bản và quan trọng.

Trang 21

Quản lý NSNN là một trong những công cụ hữu hiệu để nhà nước điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế, xã hội mục tiêu của NSNN không phải để nhà nướcđạt được lợi nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trícủa mình trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường NSNN ngoài việc duytrì sự tồn tại của bộ máy nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xãhội để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

Quản lý NSNN được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh

tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳkinh doanh Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trongnền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, chính phủ có thể áp dụng các chínhsách ưu đãi, đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệuquả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào nhữnghàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồngthời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hoá mà chính phủkhuyến dụng Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nềnkinh tế

Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hànghoá, dịch vụ NSNN cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn địnhgiá cả của thị trường

Một vai trò được coi là không kém phần quan trọng của quản lý NSNN

là giải quyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trường… chẳng hạntrước vấn đề công bằng xã hội Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xãhội văn minh và ổn định, chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác độngtới thu nhập để thiết lập laị sự công bằng xã hội, điều chỉnh thu nhập của cácnhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những người có thunhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu nhập một cách khác, chính phủ có thể

sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo

Trang 22

thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân Theo đánh giá thì đây làbiện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân; Nói cách

Trang 23

khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc quachính sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người có thunhập cao và ngược lại.

Như vậy, vai trò của quản lý NSNN là rất lớn vấn đề đặt ra là việc tổchức quy mô, cơ cấu và quản lý NSNN như thế nào để phát huy được vai tròcủa nó

1.2 Quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế

1.2.1 Khái quát về thu ngân sách nhà nước đối với ngành y tế

1 Thu từ nguồn ngân sách chi thường xuyên:

Đây là nguồn lấy từ NSNN hàng năm cung cấp chủ yếu trong hoạtđộng của khu vực y tế Nhà nước NSNN là nguồn kinh phí ổn định, là nguồn

có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe và bảo vệsức khoẻ nhân dân mà nguồn khác không thể thay thế được Nguồn NSNNđầu tư cho hoạt động y tế được phân chia ra làm 3 mảng do ba phòng tàichính của Sở Tài chính quản lý: Nguồn NSNN cấp cho hoạt động chi thườngxuyên của sự nghiệp y tế do phòng Hành chính sự nghiệp cấp phát và quản lý;Nguồn NSNN cấp cho đầu tư phát triển sự nghiệp y tế (ĐTXDCB) do phòngđầu tư quản lý; Nguồn kinh phí cấp cho các chương trình do phòng quản lýNgân sách quản lý Ở đây chỉ đi sâu vào NSNN chi thường xuyên cho sựnghiệp y tế

Nguồn NSNN chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế là nguồn mang tính

ổn định khá rõ nét và mang tính tiêu dùng chung cho toàn xã hội Trong cơchế quản lý tập trung bao cấp, Nhà nước cung cấp các dịch vụ y tế miễn phíthì tất yếu, phạm vi và mức độ chi cho sự nghiệp y tế phải trải rộng Còntrong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động y tế có sựchăm lo của cả Nhà nước và nhân dân, nhờ đó mà Nhà nước có thể từng bướcthu hẹp và hạ thấp mức chi cho lĩnh vực này, tuy nhiên, nguồn NSNN cấp vẫnchiếm phần chủ yếu trong tổng chi tiêu cho sự nghiệp y tế

Trang 24

2 Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư XDCB

Đây là nguồn NSNN mà Nhà nước cấp để đầu tư cho xây dựng cơ bản đểxây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác khám chữa bệnh trong ngành y tế.Nguồn vốn này không ổn định mà phụ thuộc vào lượng thu NSNN hàng năm

3 Nguồn thu BHYT

Hoạt động của BHYT nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tậpthể, cộng đồng xã hội để cung cấp nguồn tài chính cho việc khám chữa bệnhcủa những người có thẻ BHYT Đây được coi là một trong các giải pháp tối

ưu trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Số thu từ BHYT được phân chia như sau:

80% chi cho khám chữa bệnh, trong đó: 5% để lại cho cơ quan đơn vịcho chăm sóc sức khoẻ ban đầu; 45% dành cho khám chữa bệnh ngoại trú,nhưng phải quyết toán theo thực chi, hàng quý nếu không chi hết phải chuyểnsang quý sau 50% dành cho điều trị nội trú, 18% chi cho bộ máy quản lýBHYT của Tỉnh, 2% nộp BHYT Việt Nam

BHYT Việt Nam có trách nhiệm thanh toán đối với cơ sở khám chữabệnh về trợ cấp BHYT cho người có thẻ BHYT do mình phát hành như sau:

Người có thẻ BHYT điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc tỉnh đềnghị BHYT Việt Nam làm thủ tục chi hộ BHYT Việt Nam sẽ thanh toán mộtphần viện phí cho người được BHYT với cơ sở khám chữa bệnh thông quaBHYT tỉnh giám định và thực hiện phương thức thanh toán đa tuyến

Bên cạnh những điểm tích cực thì nguồn vốn từ BHYT cho hoạt động y

tế vẫn còn những mặt hạn chế sau: Nguồn vốn BHYT chỉ cung cấp hoạt độngkhám chữa bệnh cho những người có thẻ BHYT, chưa cung cấp lực lượng vậtchất cho các hoạt động khác của ngành y tế Chưa huy động được đông đảocác tầng lớp dân cư tham gia BH, đặc biệt là tầng lớp người nghèo vẫn chưađược hưởng nhiều dịch vụ y tế từ nguồn BHYT cung cấp

Trang 25

4 Nguồn viện phí:

Nguồn viện phí là nguồn tài chính do các hộ gia đình cung cấp khi họ cóngười thân nằm viện Việc thu viện phí do các bệnh viện thực hiện, viện phí lànguồn thu của NSNN nhưng không nộp vào ngân sách nhà nước mà thông quaviệc ghi thu, ghi chi NSNN Với cơ chế này sẽ tiện lợi cho các bệnh viện nhưng

sẽ hạn chế khả năng kiểm tra, giám sát và quản lý của cơ quan tài chính

Việc thu viện phí được áp dụng như sau: Đối với người bệnh ngoại trú,biểu giá thu một phần viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ

mà người bệnh trực tiếp sử dụng Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu mộtphần viện phí được tính theo ngày, giường nội trú, của từng chuyên khoa theophân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho ngườibệnh gồm tiền thuốc, máu, dịch truyền, xét nghiệm, phim X- Quang

Tổng nguồn thu viện phí được sử dụng như sau:

70% sử dụng cho cơ sở khám bệnh, khám bệnh thu khoản viện phí đó

để tăng kinh phí mua thuốc, dịch truyền, máu hoá chất, phim Xquang, vật tư,dụng cụ y tế kể cả quần áo, chăn màn, giường chiếu và vật tư rẻ tiền mauhỏng phục vụ người bệnh kịp thời

30% còn lại được sử dụng dùng để trích lập các quỹ khen thưởng, quỹhúc lợi, quỹ đầu tư phát triển cho những cán bộ công nhân viên có tinh thầntrách nhiệm cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, phục vụ người bệnhtận tình Tuy nhiên, nguồn viện phí hiện nay vẫn còn một số hạn chế sau:

Viện phí đang áp dụng là viện phí tính một phần chứ chưa được tínhđầy đủ giá trị của dịch vụ y tế, do đó, nhà nước vẫn phải bao cấp thay thế.Như vậy, nhà nước phải bao cấp cho cả người giàu lẫn người nghèo, mà ngườigiàu sẽ được bao cấp nhiều hơn vì họ có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ

y tế kỹ thuật cao mà người nghèo thì ngược lại Trong khi nguồn ngân sách

Trang 26

nhà nước còn nhiều hạn chế, khung giá dịch vụ, y tế thấp nên chưa bù đắpđược chi phí

Trang 27

khám, chữa bệnh của các cơ sở Y tế; dẫn đến các đơn vị thiếu kinh phí để duy

tu, bảo dưỡng tài sản, mua sắm các trang thiết bị thay thế

Do không tính đủ viện phí cho nên người dân không ý thức được hết sựmiễn giảm đó làm cho họ dễ coi thường lao động nghề nghiệp y tế và dẫn đếnnhững khó khăn trong việc miễn giảm viện phí

Việc trích một phần viện phí làm quỹ phúc lợi cho các cơ sở thu việnphí, tuy có giảm bớt khó khăn cho các cán bộ công chức ở đó nhưng nó cũnggây ra một sự bất công bằng trong các cán bộ công chức ngành y tế, giữa nơithu được nhiều viện phí với nơi thu được ít viện phí hoặc không thu được việnphí, trong đó có các chuyên khoa như tâm thần, phong

5 Nguồn tài trợ và viện trợ:

Nguồn viện trợ bao gồm của LHQ, Chính phủ các nước

Nguồn tài trợ từ nước ngoài giúp cho việc thực hiện các chương trình

dự án chăm sóc sức khoẻ của nhân dân được tiến hành thuận lợi Tiền viện trợgiúp cho công tác đào tạo cán bộ ngành y tế, giúp cho ngành y tế có điều kiệnthuận lợi để tiếp xúc với những cách thức quản lý hiện đại, khả năng tiếp nhậncác máy móc, quy trình công nghệ mới cho hoạt động của ngành y tế, nângcao chất lượng khám chữa bệnh trong các bệnh viện, tăng cường sức khoẻ chonhân dân

Tuy nhiên, nguồn viện trợ cũng có những hạn chế sau:

Nó là nguồn kinh phí không ổn định vì nó phải phụ thuộc vào thái độchính trị của nhà tài trợ Việc sử dụng nguồn lực này cho hoạt động y tế phụthuộc vào ý muốn của các nhà tài trợ Do đó, không tạo được tính chủ độngđối với các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của nhân dân và cũng sẽ phải chịunhững ràng buộc nhất định khi nhận nguồn tài trợ, viện trợ

Việc giải ngân cho các dự án do nước ngoài tài trợ trong đó có cả việntrợ không hoàn lại còn chậm, các chủ dự án cũng như các địa phương tiếp

Trang 28

nhận nguồn này chưa nắm rõ được về việc quản lý và hạch toán nguồn viện trợ này nên tiến độ triển khai còn chậm.

Các nguồn viện trợ thường sử dụng cho một dự án nhất định phù hợpvới tôn chỉ mục đích hoạt động của tổ chức quốc tế chứ không đáp ứng đượcmọi nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân

6 Nguồn thu khác:

Là khoản thu từ các nguồn khác như: Nguồn thu cho thuê dịch vụ,nguồn thu về xã hội hóa, dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu

1.2.2 Khái quát về chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế

1.2.2.1 Nội dung chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế

Khái niệm: Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được hiểu là

sự thể hiện quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, từ một bộ phận quỹ tiền

tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì, phát triển sự nghiệp Y tế theo nguyêntắc không hoàn trả trực tiếp Hay đó là khoản chi để duy trì sự tồn tại và hoạtđộng của hệ thống Y tế từ Trung ương xuống cơ sở nhằm thực hiện chínhsách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Nội dung: Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế có nhiều nội

dung chi tiết khác nhau và được phân ra dưới một số tiêu thức chủ yếu sau:

Theo tính chất các khoản chi

Trang 29

Nội dung chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế gồm:

Chi Đầu tư như: Chi xây lắp, chi thiết bị, chi khác về đầu tư

Chi thường xuyên như: Chi lương cho cán bộ nhân viên Y tế và đội ngũbác sĩ, chi bù lỗ bù giá, chi công tác phí, chi hội nghị phí, công vụ phí, chi đàotạo và chi khác

Tác dụng của cách phân loại theo tính chất các khoản chi là có thể quản

lý một cách chặt chẽ các khoản chi dành cho đầu tư và chi thường xuyên, từ đó

có thể có được những thông tin chính xác về tình hình quản lý biên chế và quỹlương, tình hình tuân thủ chính sách chế độ chi NSNN tại mỗi đơn vị thụ hưởng

Theo tuyến chi:

Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế gồm: Chi Y tế cho tuyếnTrung ương, tuyến Tỉnh, tuyến Huyện và tuyến Xã

Tác dụng của việc phân loại này là có thể xác định được mức độ chiNgân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế ở mỗi cấp để có sự điều chỉnh hợp

lý, đảm bảo tính công bằng trong việc phân bổ kinh phí hoạt động Y tế giữacác tuyến, phù hợp với nhu cầu phát triển của ngành Y tế nói riêng và sự pháttriển của kinh tế - xã hội nói chung của từng vùng

Trong công tác quản lý các khoản chi tiêu thường xuyên của Ngân sách Nhà nước chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được phân chia theo 4 nhóm chính sau:

Nhóm 1: Chi Bộ máy

Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như:Tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và cáckhoản khác Trong đó:

Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng.Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làmthêm, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại nguy hiểm và phụ cấp đặc biệt

Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác

Trang 30

Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khókhăn đột xuất, tiền tàu xe, phúc lợi khác.

Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Nhóm 2: Chi quản lý hành chính

Nhóm này bao gồm các khoản chi: Chi thanh toán dịch vụ công cộng(tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộngkhác); Chi vật tư văn phòng (gồm văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ và vật tưvăn phòng khác); Chi thông tin liên lạc (gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấnphẩm truyền thông ); Chi công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấpcông tác phí, thuê phòng ngủ, khoán công tác phí và công tác phí khác); Chihội nghị phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hộitrường, chi bù tiền ăn và các chi phí khác)

Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn.

Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác khámchữa bệnh Khoản chi này bao gồm: Chi cho vật tư dùng cho chuyên môn,thiết bị chuyên dụng, in ấn chỉ, trang phục, bảo hộ lao động, sách, tài liệu,mua súc vật dùng cho hoạt động chuyên môn, thanh toán hợp đồng với bênngoài, thuốc khám và điều trị

Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản.

Như mua ô tô, đồ gỗ, mây tre, máy tính, máy điều hoà nhiệt độ, các tàisản cố định có độ bền cao , sữa chữa ô tô, xe chuyên dụng, đường điện, cấpthoát nước

Đây là nhóm chi không thể thiếu được của toàn ngành y tế Hàng năm,

do sự xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho hoạt động y tế, đòi hỏi phải

có kinh phí để đầu tư mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại và từng bướchiện đại hoá trang thiết bị ngành Y tế ở những đơn vị Y tế được Nhà nước baocấp Chính nhờ nhóm chi này đã góp phần nâng cao năng lực hiện có của tàisản cố định, nâng cao chất lượng của các bệnh viện, phòng khám, qua đó giúp

Trang 31

cho hoạt động khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về quy mô.

1.2.2.2 Đặc điểm của chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế

Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là khoản chi thường xuyênthuộc lĩnh vực văn xã, nhưng so với các khoản chi thường xuyên khác, chiNgân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế có những nét riêng biệt:

Thứ nhất, chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là khoản chi vừa

mang tính chất tiêu dùng hiện tại, vừa mang tính chất tích luỹ đặc biệt

Xét về hình thức bên ngoài và theo từng niên độ Ngân sách thì đây làkhoản chi mang tính tiêu dùng xã hội, nhằm thoả mãn nhu cầu chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ của nhân dân, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xãhội ở mỗi năm đó Song khoản chi này gián tiếp tác động đến việc tạo ra củacải vật chất cho xã hội, nâng cao tri thức con người, tạo điều kiện cho nềnkinh tế ổn định và tăng trưởng, tăng tích luỹ Ngân sách

Vì vậy, nếu xét về bản chất bên trong và xét về tác dụng lâu dài thìkhoản chi này tác động mạnh mẽ tới yếu tố con người, tác động đến sự sángtạo ra của cải vật chất và văn hoá tinh thần, là nhân tố tác động đến sự pháttriển và tăng trưởng của nền kinh tế xã hội trong tương lai

Thứ hai: chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là khoản chi chứa

đựng nhiều yếu tố xã hội

Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế quyết định mức độ ưu đãiđối với các tầng lớp giai cấp trong xã hội mà đặc biệt là những người có hoàncảnh khó khăn, những đối tượng thuộc diện ưu tiên, những gia đình chínhsách, những người có công với cách mạng, những đối tượng thuộc vùng sâuvùng xa và những vùng thường xuyên xảy ra dịch bệnh Qua đó để thực hiệncông bằng xã hội

Trang 32

Mặt khác, chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế cũng chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố xã hội (phong tục, tập quán, mức sống ) Chínhnhững yếu tố này sẽ quyết định tới quan điểm hoạt động của sự nghiệp Y tế.

1.2.2.3 Nguyên tắc chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế

Để các khoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế thực sựmang lại hiệu quả và phát huy được những vai trò to lớn của mình thì trongquá trình tổ chức quản lý phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc thứ nhất: Quản lý theo dự toán.

Quản lý theo dự toán là việc phân bổ, cấp phát, sử dụng và quyết toáncác khoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế phải căn cứ vào dựtoán chi đã được duyệt để thực hiện

Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu bắt buộc của chu trình quản lýtài chính Nhà nước Mọi khoản chi từ Ngân sách Nhà nước chỉ có thể trởthành hiện thực khi các khoản chi đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đãđược cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua Mặt khác, dophạm vi chi của Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế rất rộng, phức tạp và

đa dạng cho nên phải dự tính các khoản chi trong quá trình lập dự toán để trên

cơ sở đó có thể lên cân đối chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hànhNgân sách, hạn chế được tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởngNgân sách, phát huy được tính chủ động về điều hành Ngân sách và tăngcường công tác quản lý Ngân sách của đơn vị

Nguyên tắc thứ hai: Chi tiêu phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả.

Tiết kiệm là tiền đề để đạt được hiệu quả Hiệu quả ở đây phải gắn vớimục tiêu của các khoản chi và mức chi phí cần thiết tối thiểu để đạt được mụctiêu đó Sở dĩ có nguyên tắc này là vì tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc chủđạo của mọi hoạt động kinh tế, tài chính nói chung và hoạt động chi thườngxuyên nói riêng, bởi chúng ta luôn phải đối mặt với một thực tế là nguồn lựcthì khan hiếm mà nhu cầu là vô hạn Mặt khác, do các khoản chi Ngân sách

Trang 33

Nhà nước cho sự nghiệp y tế diễn ra trong phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp.Nhu cầu chi từ Ngân sách Nhà nước luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khikhả năng huy động nguồn thu chỉ có hạn, cho nên càng phải tôn trọng nguyêntắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các khoản chi từ Ngân sách Nhà nướccho sự nghiệp y tế.

Nguyên tắc thứ ba: Kiểm soát chi qua Kho bạc.

Mọi khoản chi đều phải chi trực tiếp qua Kho bạc bởi vì Kho bạc Nhànước là nơi quản lý quỹ của Ngân sách Nhà nước, do đó, Kho bạc Nhà nướcvừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chiNgân sách Nhà nước, đặc biệt là khoản chi thường xuyên Chi Ngân sách Nhànước cho sự nghiệp y tế là một khoản chi thường xuyên nên phải quán triệtnguyên tắc này.Trong thực tiễn, chi Ngân sách Nhà nước trực tiếp qua Khobạc tạo điều kiện cho Kho bạc Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hơn các khoảnchi của Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế, đảm bảo Ngân sách Nhànước được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả

Đứng trên giác độ cơ quan tài chính, thì cơ quan tài chính các cấp phải

có trách nhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sửdụng kinh phí của các đơn vị dự toán, có trách nhiệm thẩm định dự toán vàthông báo hạn mức kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách,kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị vàtổng hợp quyết toán chi của các đơn vị đồng thời tổng hợp quyết toán chiNgân sách Nhà nước

1.2.2.4 Nội dung của quản lý Chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế

Công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế là quátrình phân phối và sử dụng, chi ngân sách nhà nước nhằm duy trì hoạt độngcủa sự nghiệp y tế Khoản chi này là một khoản chi hết sức quan trọng, được

Trang 34

diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, đòi hỏi phải nắm rõ, nắm chắc nộidung cụ thể của từng khoản chi để tiến hành chính xác, hiệu quả Muốn làmđược điều đó, Nhà nước phải sử dụng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau.

Chi cho Bộ máy tổ chức

Tuyến Trung ương: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, trực tiếp quản

lý Nhà nước về lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bao gồm cáclĩnh vực: Y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y học cổtruyền, thuốc phòng chữa bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏecon người, an toàn vệ sinh thực phẩm và trang thiết bị Y tế; Quản lý Nhànước các dịch vụ công thuộc các lĩnh vực quản lý của Bộ và thực hiện đạidiện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại các Doanh nghiệp có vốn Nhànước thuộc Bộ quản lý theo quy định của Pháp Luật

Tuyến Tỉnh: Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu, giúp Uỷ bannhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh vềchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng; khám, chữabệnh; phục hồi chức năng; y dược học cổ truyền; thuốc phòng chống bệnh chongười, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người; an toàn vệ sinh thựcphẩm và trang thiết bị y tế; về các dịch vụ công thuộc ngành y tế; thực hiệnmột số quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và theo quyđịnh của pháp luật

Sở Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, hoạt động của Uỷban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanhtra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế

Tuyến huyện: Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân

dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lýNhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trên địa bàn

Trang 35

huyện, gồm: y tế dự phòng; khám chữa bệnh; phục hồi chức năng; y dược học

cổ truyền, thuốc phòng chống bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sứckhoẻ con người; an toàn vệ sinh thực phẩm, trang thiết bị y tế; quản lý cáctrạm y tế xã, phường thị trấn th ực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo sựphân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và uỷ quyền của Sở Y tế

Phòng Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công táccủa Uỷ ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra vềchuyên môn nghiệp vụ của Sở Y tế

Tuyến Xã: Tổ chức Y tế cơ sở trên địa bàn xã, phường, thị trấn (gọi

chung là y tế cơ sở) là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân,nằm trong hệ thống Y tế Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹthuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm dịch, chữa các bệnh và đỡ đẻthông thường, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá giađình, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khoẻ

Việc thành lập, sát nhập, giải thể trạm y tế xã, phường, thị trấn do Uỷban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định trên cơ sở đềnghị của uỷ ban nhân dân xã, huyện và đề nghị của Giám đốc Sở Y tế

+ Khả năng bố trí chi ngân sách cho Y tế trên cơ sở cân đối tổng thể chiNSNN năm kế hoạch;

+ Các chính sách, tiêu chuẩn, định mức do nhà nước ban hành để có thểxác định định mức chi tổng hợp trên một giường bệnh/năm;

Trang 36

+ Tình hình quản lý, sử dụng kinh phí chi ngân sách cho Y tế của cácnăm trước;

Căn cứ vào Chỉ thị của Chủ tịch UBND thành phố THÁI BÌNH, về việcxây dựng nội dung, kế hoạch tổng thể chi NSNN (trong đó có tổng chi cho Ytế), Sở Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn lập dự toán NSNN và thôngbáo số kiểm tra về dự toán NSNN cho các Sở, và UBND thành phố trong đó

về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc

Các cơ quan chức năng của tỉnh hướng dẫn các đơn vị thụ hưởng ngânsách tiến hành lập dự toán kinh phí Các đơn vị, cơ sở y tế căn cứ vào số kiểmtra, văn bản hướng dẫn tiến hành lập dự toán kinh phí kỳ kế hoạch của mình

và gửi dự toán về cơ quan tài chính hoặc đơn vị dự toán cấp trên Dự toán chicho Y tế được tổng hợp cùng với dự toán chi ngân sách hàng năm, sau khitrình cấp có thẩm quyền sẽ được gửi tới Sở Tài chính, Sở Y tế

Căn cứ tổng mức kinh phí chi NSNN cho Y tế được cấp có thẩm quyềnthông báo, Sở Y tế, Sở Tài chính dự kiến phương án phân bổ kinh phí cholĩnh vực Y tế và chi tiết cho các Sở, cơ quan liên quan phù hợp với các mụctiêu, nhiệm vụ đã được duyệt Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Y tế, vàcác Sở, cơ quan liên quan xem xét dự toán chi NSNN cho Y tế, lập phương ánphân bổ ngân sách trình UBND Tỉnh UBND Tỉnh sẽ thảo luận dự toán ngânsách, và phê chuẩn ngân sách

Sau khi dự toán NSNN đã được UBND Tỉnh phê duyệt, Sở Tài chínhthông báo dự toán chi ngân sách lĩnh vực Y tế cho các Sở, cơ quan liên quan

Trang 37

Căn cứ lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho Y tế như sau:

Chi cho con người: Các khoản chi tiền lương, tiền công và các khoản

phụ cấp, trợ cấp theo lương: tính theo lương cấp bậc, chức vụ và các khoảnphụ cấp lương theo quy định hiện hành của ngành Y tế Quỹ tiền lương, tiềncông của đơn vị sự nghiệp được xác định như sau:

do NN quy định

x (1+

Hệ số điều chỉnh tăng thêm mức lương tối thiểu

) x

Hệ số lương cấp bậc bq và

hệ số phụ cấp lương bq

x

Biên chế

và lao động hợp đồng từ 1 năm trở lên

x 12tháng

Sau khi xác định quỹ tiền lương của đơn vị, việc trả lương cho từng lao động được xác định như sau:

) x

Hệ số lương cấp bậc và hệ số phụ cấp lương của cá nhân

Từ cách xác định trên, tính được tổng kinh phí ngân sách nhà nước chicho các đơn vị sự nghiệp y tế của các quận, huyện bằng cách lấy tổng quỹlương của từng đơn vị cộng lại

Chi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ: căn cứ vào chế độ và khối lượng

hoạt động nghiệp vụ, kinh phí cho nghiệp vụ chuyên môn của sự nghiệp y tếxác định theo công thức sau:

n

i 1

Trang 38

C NVi =

Số dự kiến chi về vật liệu, dụng cụ

y tế

+

Số dự kiến chi về nghiên cứu KH

+

Số dự kiến chi về trang phục cho y

tá, bác sĩ

+

Số dự kiến chi về các khoản khác

Chi quản lý hành chính(C QL ): vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng,

công tác phí theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền quy định, được xác định theo công thức sau:

M QLi : mức chi quản lý hành chính bình quân/ 1cán bộ công nhân viên

sự nghiệp y tế tuyến cơ sở dự kiến kỳ kế hoạch thuộc đơn vị thứ i

SCNi : số cán bộ công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạch thuộc đơn vị thứ i

Chi mua sắm, sửa chữa: được xác định dựa vào yêu cầu thực tế của các

đơn vị sự nghiệp theo công thức sau:

C MS : chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của sự nghiệp y

tế tuyến cơ sở theo kế hoạch

NG i : nguyên giá tài sản cố định hiện có của đơn vị thứ i

T i : tỷ lệ % được áp dụng để xác định kinh phí dự kiến chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của đơn vị thứ i

1.2.2.5 Phân bổ ngân sách nhà nước cho Y tế

Các khoản chi Ngân sách Nhà nước hiện nay được phân bổ theo một số hình thức sau:

Trang 39

Phương thức phân bổ theo hạn mức kinh phí: định kỳ cơ quan tài chính

phân bổ hạn mức cho các đơn vị sự nghiệp Y tế Căn cứ vào hạn mức mà cácđơn vị sự nghiệp y tế rút tiền từ kho bạc để chi tiêu, hết thời hạn của hạn mức

mà hạn mức chi không hết sẽ bị xóa bỏ

Phương thức phân bổ theo lệnh chi: Kinh phí sau khi cấp phát theo lệnh

chi qua kho bạc Nhà nước của các quận, huyện, tài khoản tiền gửi của các đơn

vị Y tế sẽ được tăng thêm đúng bằng số ghi trong lệnh chi, sau khi hết niên độ

kế toán mà đơn vị không chi hết số kinh phí đó thì số còn lại nằm trong số dưcủa tài khoản tiền gửi sẽ được chuyển sang năm sau

Những căn cứ để phân bổ Ngân sách bao gồm:

Thứ nhất: Dựa vào mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự

toán Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong quá trình tổ chức thựchiện kế hoạch, bởi vì hầu hết các nhu cầu chi đã có trong định mức, tiêuchuẩn và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua

Thứ hai: Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho sự nghiệp

y tế trong kỳ báo cáo Trong quản lý và điều hành các khoản chi của NSNN ta

phải luôn tuân thủ theo quan điểm “lường thu mà chi ” Vì khoản chi cho sự

nghiệp y tế luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động các khoản thu

Thứ ba: Dựa vào các chính sách, chế độ chi Ngân sách hiện hành Đây là

căn cứ mang tính chất pháp lý cho công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Bởi lẽtính hợp lệ, hợp lý của các khoản chi Ngân sách Nhà nước sẽ được phán xét dựatrên cơ sở các chính sách chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực thihành

Các yêu cầu cơ bản trong quá trình thực hiện việc phân bổ Ngân sách Nhà nước cho Y tế

Mục tiêu cơ bản của việc tổ chức thực hiện phân bổ chi Ngân sách Nhànước cho sự nghiệp y tế là phải đảm bảo phân phối, cấp phát, sử dụng nguồn

Trang 40

vốn một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Để đạt được những mục tiêu đó,trong quá trình tổ chức thực hiện phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Ngày đăng: 19/04/2022, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w