1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khuynh hướng phê bình mới trong lý luận phê bình văn học anh

96 911 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuynh Hướng Phê Bình Mới Trong Lý Luận Phê Bình Văn Học Anh
Tác giả Vũ Thúy Bình
Người hướng dẫn PGS. TS. Phùng Quý Nhâm
Trường học Viện Trường Đại Học Sư Phạm TP. HCM
Chuyên ngành Lí luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Văn Học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 796,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phần trình bày khái niệm về phương pháp hình thức của cuốn sách trang 265- 267, Lại Nguyên Ân trong khi trình bày về phương pháp hình thức nói chung ở các nước Tây Âu như sự chú ý

Trang 1

Vũ Thúy Bình

KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH MỚI TRONG

LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC ANH

Chuyên ngành: Lí luận Văn Học

Trang 2

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến với các thầy cô đặc biệt là thầy hướng dẫn của tôi, thầy PHÙNG QÚY NHÂM đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này

Mặc dù đã cố gắng hết sức, song vì nhiều lí do, luận văn này không tránh khỏi có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy

cô và các quí bạn đọc cho sự hoàn thiện thêm của luận văn

Vũ Thuý Bình

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự ảnh hưởng của lí luận phê bình văn học phương Tây đối với nền lí luận phê bình văn học nước ta là rất rõ rệt Theo thời gian, đã, đang và sẽ có ngày càng nhiều nhà nghiên cứu và nhiều công trình nghiên cứu về nền lí luận phê bình văn học phương Tây để làm phong phú thêm cho nền lí luận phê bình văn học của nước nhà

Phê bình mới là một khuynh hướng văn học đặc biệt nổi bật về chiều dài thời gian tồn tại cũng như mức độ sâu rộng của tầm ảnh hưởng của nó đối với công cuộc nghiên cứu phê bình văn học, đặc biệt là đối với tác phẩm văn học Chú trọng vào công việc thực hành, phân tích, giải thích văn bản tác phẩm văn học, nó là khuynh hướng phê bình văn học duy nhất được giảng dạy như một môn học bắt buộc trong các trường cao đẳng và đại học của Mỹ suốt những năm tháng thịnh hành của nó

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Phê bình mới chưa nhiều, các công trình nghiên cứu về Phê bình mới ở Anh lại càng hiếm hoi

Chính vai trò của Phê bình mới như vừa nêu ở trên, việc chú trọng vào thực hành phân tích tác phẩm văn học của nó, cùng nhu cầu tìm hiểu, giao lưu, học tập của nền lí luận phê bình văn học nước nhà, đã thôi thúc tôi chọn

đề tài này:“khuynh hướng phê bình mới trong lí luận phê bình văn học

Trang 4

những ý kiến khen - chê, những công trình nghiên cứu ca ngợi hay phê phán, chỉ trích khác nhau trên thế giới Mặc dù vậy, khuynh hướng này có ảnh hưởng lớn trong giới học thuật Mỹ đến nỗi cách tiếp cận này đã trở thành tiêu chuẩn trong trường cao đẳng và đại học ở Mỹ và trở thành chương trình giảng dạy ở phổ thông trung học của Mỹ suốt những năm 1960, 1970

Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về khuynh hướng phê bình này chưa nhiều, có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau: các cuốn sách

“150 từ điển thuật ngữ văn học” (1999) của Lại Nguyên Ân, “Lí luận phê

bình văn học phương Tây thế kỉ XX” (2001) của Phương Lựu, “Sự đỏng đảnh của phương pháp” của Đỗ Lai Thúy (Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, Hà

Nội, 2004), “Lí luận phê bình văn học thế giới thế kỉ XX” (2007) Lộc Phương

Thủy (chủ biên) , công trình dịch thuật và giới thiệu cuốn sách được xem là

quan trọng của Phê bình mới: cuốn “Lí luận văn học” (Theory of Literature)

(2009) của tác giả Wellek của Nguyễn Mạnh Cường, Tạ Hương Nhi, Trịnh Bá Đĩnh (dịch), Trần Thiện Khanh (giới thiệu); Về báo và tạp chí có tạp chí Văn học nước ngoài số 2, tháng 3 - 4, năm 2003, số 1 tháng 1 - 2, năm 2005

Cuốn sách: “150 từ điển thuật ngữ văn học” (1999) của Lại Nguyên Ân

không bàn luận trực tiếp về khuynh hướng Phê bình mới Trong phần trình bày khái niệm về phương pháp hình thức của cuốn sách (trang 265- 267), Lại Nguyên Ân trong khi trình bày về phương pháp hình thức nói chung ở các nước Tây Âu (như sự chú ý về vần thơ, luật thơ, kết cấu, mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và cấu trúc, cú pháp, giọng điệu, hình thức có chứa nội dung, cốt truyện…) có nhắc đến kĩ thuật ‘đọc kĩ” tác phẩm trong khi coi nhẹ mọi thành

tố “ngoài văn học” vốn là đặc điểm của Phê bình mới Như vậy, dù không trực tiếp, Lại Nguyên Ân đã cho rằng Phê bình mới là một “ trường phái hình thức” và sử dụng phương pháp mà ông gọi là “phương pháp hình thức”

Trang 5

“Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX” (2001) do Phương

Lựu chủ biên trình bày về khuynh hướng Phê bình mới (chương chín, trang

242- 259) cả trên dòng chảy lịch đại cũng như lát cắt đồng đại Sử dụng

phương pháp lịch đại, Phương Lựu trình bày khái quát về quá trình lịch sử hình thành, phát triển, và tàn lụi của Phê bình mới qua ba thế hệ phê bình cùng với những đại biểu và một số nét về tiểu sử cũng như văn nghiệp của họ

Cụ thể là, Phương Lựu nêu lên thế hệ thứ nhất của Phê bình mới gắn với tên tuổi, tiểu sử và văn nghiệp của hai nhà lí luận phê bình Anh là: Ivor Amstrong Richards (1893- 1980) và Thomas Stearn Eliot (1888- 1965), thế hệ thứ hai của Phê bình mới bao gồm Rohn Crowne Ransom (1888- 1974) và Cleanth Brooks (1906- ?), và thế hệ thứ ba của Phê bình mới gắn với tên tuổi của nhà phê bình Rene Wellek (1903- ?) Sử dụng cách tiếp cận đồng đại, Phương Lựu nêu lên đặc điểm của khuynh hướng phê bình này thể hiện ở chiều dài thời gian, số lượng các nhà phê bình mới cũng như tính chất phức tạp, thậm chí khác nhau trong quan niệm về trọng điểm của phê bình của các nhà phê bình mới như Ivor Amstrong Richards, Thomas Stearn Eliot, Rohn Crowne Ransom, và Cleanth Brooks Cũng bằng lát cắt đồng đại, Phương Lựu tiếp tục rút ra kết luận của ông về đặc điểm của Phê bình mới mà ông cho là có bốn đặc điểm chính Đặc điểm đầu tiên về đối tượng của Phê bình mới theo Phương Lựu đó chính là văn bản Đặc điểm thứ hai là Phê bình mới đặt trọng điểm của mình ở hình thức tác phẩm Đặc điểm thứ ba về phương pháp tiếp cận tác phẩm là giải thích văn bản Từ những đặc điểm này, Phương Lựu cho rằng Phê bình mới còn được gọi bằng các tên gọi như Phê bình bản thể, Phê bình hình thức và Phê bình chữ nghĩa Cuối cùng, đặc điểm thứ tư của Phê bình mới theo Phương Lựu là sự không coi trọng việc phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại Tiếp tục với cách tiếp cận đồng đại, Phương Lựu giải thích

ba khái niệm cơ bản trung tâm của Phê bình mới mà ông cho là cần thiết để có

Trang 6

thể hiểu được khuynh hướng này đó là văn bản, ngộ nhận cảm thụ và ngộ nhận ý đồ Không những giải thích các khái niệm cơ bản này, Phương Lựu còn đưa ra những nhận xét và kiến nghị hết sức kịp thời, xác đáng và hợp lí

của ông về những khái niệm này Những trang cuối cùng của “Lí luận phê

bình văn học phương tây thế kỉ XX” bàn về khuynh hướng Phê bình mới này,

Phương Lựu dùng để trình bày sơ lược về sự tàn lụi của Phê bình mới ở Pháp gắn liền với tên tuổi, tiểu sử, văn nghiệp và quan niệm về phê bình mới của

Roland Barthes (1915-1980) Roland Barthes cùng với công trình “ Giải phẫu

phê bình” ( Antatomy of Criticism) và khuynh hướng Phê bình mới “mới” ở

Pháp đã đánh dấu sự tàn lụi của Phê bình mới vào những năm 1970

Cuốn sách :“Sự đỏng đảnh của phương pháp” của Đỗ Lai Thúy (Nhà

xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004) in bài giới thiệu về tiểu sử, văn nghiệp và lí thuyết nghệ thuật vô ngã của nhà phê bình mới Thomas Stearn

Eliot của tác giả Đỗ Lai Thúy và bài dịch “Truyền thống và tài năng cá

nhân” trích từ cuốn “Rừng thiêng” của Thomas Stearn Eliot của dịch giả

Thiệu Bích Hường

Cuốn sách: “Lí luận phê bình văn học thế giới thế kỉ XX” (2007) Lộc

Phương Thủy (chủ biên) (từ trang 27- 127) chọn dịch và giới thiệu một bài nghiên cứu về Phê bình mới của nhà nghiên cứu người Nga là E.A Suganova (do Đào Tuấn Ảnh dịch), giới thiệu tiểu sử và văn nghiệp của hai tác giả phê bình mới người Anh là Thomas Stearn Eliot (Đỗ Lai Thúy giới thiệu) và Ivor Amstrong Richards (Trần Hải Yến giới thiệu), chọn dịch và giới thiệu những bài viết tiêu biểu trong hai cuốn sách của hai nhà phê bình mới này, cụ thể là

những bài viết : “Truyền thống và tài năng cá nhân” (Trần Hải Yến dịch), “

Những nhà phê bình không hoàn hảo”, “Một nhà quí tộc lãng mạn”, “Phong

vị địa phương”, “Ghi chú về nhà phê bình Mỹ” (Bùi Phương Hải dịch) trích

từ cuốn sách “Rừng thiêng” (The Sacred Wood) của Thomas Stearn Eliot,

Trang 7

những bài viết “Giá trị như một ý niệm tối thượng”, “Lí thuyết tâm lí về giá

trị”, “Lí thuyết giao tiếp” và “Giá trị trải nghiệm của nhà thơ” (Trần Hải

Yến, Phạm Phương Chi dịch) trích từ cuốn sách “Những nguyên tắc phê bình

văn học” (The Principles of Literature) của Ivor Amstrong Richards

Nguyễn Mạnh Cường, Tạ Hương Nhi, Trịnh Bá Đĩnh dịch thuật và giới

thiệu cuốn sách được xem là quan trọng của Phê bình mới: cuốn “Lí luận văn

học” (2009) của Wellek và Warren

Tạp chí Văn học nước ngoài số 2, tháng 3- 4, năm 2003 (trang 173- 195) cũng cho đăng bài giới thiệu về tiểu sử, văn nghiệp và lí thuyết nghệ thuật vô ngã của nhà phê bình mới Thomas Stearn Eliot của tác giả Đỗ Lai

Thúy và bài dịch “Truyền thống và tài năng cá nhân” trích từ cuốn “Rừng

thiêng” của Thomas Stearn Eliot (của dịch giả Thiệu Bích Hường)

Tạp chí văn học nước ngoài số 1 tháng 1- 2, năm 2005 đăng bài nghiên

cứu : “Trường phái Phê bình mới: xưa và nay” (trang 135- 156) của nhà phê

bình: R John Willingham (Giáo sư danh sự khoa Anh ngữ, đại học Kansas, Mỹ)

Trên thế giới, sự phát triển nổi trội của khuynh hướng Phê bình mới ở Anh và Mỹ trong suốt những năm 1920 đến những năm 1960, 1970 đã tỉ lệ thuận với việc thu hút sự chú ý nghiên cứu bàn luận về khuynh hướng này Những công trình, bài viết nghiên cứu về khuynh hướng phê bình này có rất

nhiều (như các cuốn sách “A Glossary of the New Criticism” của tác giả

Elton, William (Chicago Modern Poetry Association, 1949) (sách lí giải về

các thuật ngữ do Phê bình mới đưa ra vào cuối thập niên 1940), “The Fugitive

Group: A Literary History” của tác giả Louise Cowan (Nhà xuất bản

Louisiana State University, 1959), (Cuốn sách hàng đầu về biên niên sử và tiểu sử của nhóm nhà thơ- nhà phê bình Nashville từ giai đoạn còn là sinh viên cổ xúy về sáng tạo và tư duy cho đến khi trở thành các nhà lí luận Phê

Trang 8

bình mới) “Kant và các nhà Phê bình mới miền Nam” của tác giả William J

Handy (Nhà xuất bản Texas, 1963) (Cuốn sách lần tìm lại các lý thuyết của Ransom, Tate và Brooks)), … Song, ở đây, vì nhiều lí do, người viết luận văn chỉ chọn trình bày chi tiết một vài bài viết đã được dịch ra tiếng Việt của một

số học giả, nhà lí luận phê bình nước ngoài, cụ thể là ba bài viết : “Trường

phái Phê bình mới: xưa và nay” (trích từ “ New Literary History”, (1976))

(trang 271-331) của nhà phê bình Willingham, John.R đăng trên Tạp chí văn

học nước ngoài số 1 tháng 1- 2, năm 2005 và website:

http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/ly-luan/2005, bài viết : “ Phê bình

mới của Anh và Mỹ” (năm 2002) của học giả Nguyễn Hưng Quốc (học giả

người Úc, gốc Việt, hiện đang sống và giảng dạy các môn ngôn ngữ, văn học, văn hóa và chiến tranh Việt Nam tại đại học Victoria University, Úc) đăng trên website: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature và bài viết

“ Phê bình mới” ( New Criticism) của học giả E.A.Suganova (trích từ cuốn “

Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu

và Hoa Kỳ thế kỉ XX” của I.P Ilin và E.A Tzurganova (Nxb Đại học quốc gia,

Hà Nội 2003), in trong cuốn “Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ

XX” do Lộc Phương Thủy chủ biên (trang 29- 42)

Bài viết:“Trường phái Phê bình mới: xưa và nay”(The New Criticism:

Then and Now) của nhà phê bình J.R.Willingham với quan điểm công khai

bênh vực, bảo vệ cho Phê bình mới của ông, trình bày về lịch sử hình thành của Phê bình mới từ giai đoạn khởi phát, phát triển thịnh hành đến tàn lụi, kể tên các nhà phê bình mới nổi bật cùng những tác phẩm và đóng góp của họ cho Phê bình mới qua những tác phẩm ấy, và cuối cùng ông nêu ra những hạn chế cùng những đóng góp của Phê bình mới Về lịch sử hình thành của Phê bình mới, khác với cách hiểu của Phương Lựu và E.A Suganova như đã trình bày ở trên, theo J.R.Willingham, Phê bình mới hình thành những mần mống

Trang 9

đầu tiên của mình vào năm 1907 với sự xuất hiện Câu lạc bộ Thi ca ở London, đặc biệt là các lời tuyên bố của T.E Hulme, F.S Flint, và Ezra Pound Những người này phê phán Chủ nghĩa lãng mạn mà họ cho là đã xơ mòn và Chủ nghĩa Victoria mà họ cho là suy đồi và kêu gọi những sự thay đổi đối với thơ ca Anh J.R.Willingham cho rằng Phê bình mới phát triển nổi trội vào những năm 1930- 1960 cùng với các nhà phê bình mới nhóm “Fugitives”

và suy tàn kể từ thập kỉ 1970 J.R.Willingham dành phần lớn trang viết của mình để trình bày về các nhà phê bình mới mà ông cho là chính yếu cùng nội dung khái quát của các tác phẩm của họ qua đó nhằm nêu bật những đóng góp của họ cho Phê bình mới, cụ thể là T.S Eliot ( với việc định nghĩa các khái niệm như “ truyền thống”, “ mối tương liên khách quan”…), I.A Richards (

với tác phẩm “ Practical Criticism” (1920)), nhóm “Fugitives” mà trưởng nhóm là R.C Ransom (với tác phẩm: “ The New Criticism” (1941)), Allen Tate, Brooks và Warren (với tác phẩm: “ Understanding Poetry” (1938),

“Understanding Fiction” (1941), ““Understanding Drama” (1948)), Brooks (với tác phẩm: “Modern Poetry and the Tradition” (1939) và“ The Well-

Wrought Urn” (1947)), William K Wimsatt và Rene Wellek (tác phẩm: “ Theory of Literature” (1949)), William K Wimsatt và Monroe C Beardsley (

tác phẩm “ The verbal Icon” (1954)), Wimsatt và Brooks (tác phẩm “

Literary Criticism: A Short History” (1957)), Yvor Winters và cuối cùng là

William Empson (tác phẩm “ Seven Types of Ambiguity”) Những trang cuối của “Trường phái Phê bình mới: xưa và nay”, J.R.Willingham nêu lên những

hạn chế của Phê bình mới như việc sử dụng những từ ngữ bí hiểm và khó hiểu, không tạo điều kiện để độc giả đọc một cách sáng tạo… cũng như những đóng góp của nó nhất là đối với việc làm nảy nở và phát triển về học thuật văn học…

Trang 10

Bài viết : “Phê bình mới của Anh và Mỹ” của học giả Nguyễn Hưng

Quốc giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của Phê bình mới : xuất hiện tại Anh với hai đại biểu: T.S Eliot và I.A Richards từ giữa thập niên 1920, sau đó phát triển mạnh tại Mỹ với các đại biểu chính như John Crowe Ransom, W K Wimsatt, Monroe Beardsley, Cleanth Brooks, R P Blackmur và Allen Tate từ đầu thập niên 1940 đến giữa thập niên 1960 Đặt trong mối quan hệ so sánh những điểm tương đồng và khác biệt với Hình thức luận của Nga và Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, Nguyễn Hưng Quốc trình bày khái quát về đặc điểm của Phê bình mới ở Anh và Mỹ Những đặc điểm của Phê bình mới theo Nguyễn Hưng Quốc là: bác bỏ Chủ nghĩa thực chứng trong nghiên cứu văn học, “tôn sùng” (chữ dùng của Nguyễn Hưng Quốc) văn bản tác phẩm văn học, nhấn mạnh vào việc phân tích và diễn dịch cụ thể văn bản, từ đó hình thành kĩ thuật mà ông gọi là “ đọc gần” (Close Reading), chú

ý vào ý nghĩa và cấu trúc của văn bản… Nguyễn Hưng Quốc cũng nêu ra sự khác nhau trong việc quan niệm về ý nghĩa của văn bản của các nhà phê bình mới

Bài viết “Phê bình mới” của học giả người Nga E.A.Suganova cũng

bàn về Phê bình mới cả theo dòng chảy lịch đại và lát cắt đồng đại như cuốn

sách “Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX” của Phương Lựu,

nhưng trong cách hiểu về lịch sử hình thành của Phê bình mới của học giả người Nga E.A.Suganova này có nhiều điểm khác so với cách hiểu của Phương Lựu Sử dụng cách tiếp cận lịch đại, E.A.Suganova lí giải về tiền đề hình thành của khuynh hướng Phê bình mới Theo E.A.Suganova, sự hình thành của Phê bình mới là sự phản ứng đặc thù đối với cuộc khủng hoảng của nghiên cứu văn học tự do thời Victoria cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Theo tác giả, Phê bình mới hình thành trong cuộc đấu tranh với những khuynh hướng cơ bản trong nghiên cứu phê bình văn học nửa sau thế kỉ XIX: Chủ

Trang 11

nghĩa thực chứng, Phê bình ấn tượng, Trường phái văn hóa- lịch sử Tiếp theo, khác với Phương Lựu chia Phê bình mới thành ba thế hệ, E.A.Suganova lại chia Phê bình mới thành tám giai đoạn hình thành và phát triển theo các mốc thời gian cùng với tên tuổi của các đại biểu của mỗi giai đoạn Tám giai đoạn đó theo E.A.Suganova là: những năm của thập kỉ đầu thế kỉ XX được đánh dấu bằng hoạt động của các vị tiên khu như J.E Spingarm, T.E Home; Những năm 1920 cùng với các đại biểu là: T.S Eliot, I.A Richards, W Empson ở Anh và cả những người thuộc phái Fugitives, phái Agrarians, trước tiên là J.C Ransom và A Tate ở Mỹ; Những năm 1930- 1940 cùng với các tác phẩm của các tác giả phê bình mới như J.C Ransom, A Tate, C Brooks

và R.P Warren; Những năm 1940- 1950 cùng với những tờ tạp chí do các nhà

phê bình mới đứng đầu: ở Anh như The Criterion (1922- 1939, tổng biên tập

là T S Eliot), Scrutiny (1932- 1935, đứng đầu là F.R Levins) và ở Mỹ như

Southern Review (1935- 1942, tổng biên tập là C Brooks, R.P Warren), Kenyon Review (1938- 1959, tổng biên tập là J.C Ransom), Sewanee Review

(1944- 1945, tổng biên tập là A Tate), xuất hiện thêm những tên tuổi mới như R.P Blakmur, R Wellek, W.K Wimsatt, Y Winters, K Burk; Những năm

1950 cùng với những cuốn sách của những tên tuổi như R Wellek, O Warren, W.K Wimsatt, R Krieger, C Brooks và Wimsatt; Những năm 1950-

1960, E.A.Suganova cho rằng Phê bình mới về cơ bản kết hợp một cách triết chung với những khuynh hướng phê bình văn học như: Trường phái Thần thoại học và Phê bình Hiện sinh; Những năm 1970, E.A.Suganova cho rằng Phê bình mới đã đánh mất vị trí thủ lĩnh của nó; Những năm 1980, Phê bình mới gắn liền với tên tuổi của giáo sư trường đại học tổng hợp California là Marry Krieger Sử dụng cách tiếp cận đồng đại đối với Phê bình mới, E.A.Suganova trình bày khái quát quan điểm về phê bình, đối tượng của phê bình, phương pháp phê bình…của các nhà phê bình mới theo thứ tự các giai

Trang 12

đoạn hình thành và phát triển của khuynh hướng phê bình này mà bà đã phân chia: quan điểm của J.E Spingarm, T.E Home, T.S Eliot, I.A Richards, quan điểm của nhóm fugitives, của C Brooks E.A.Suganova cũng rút ra kết luận về các đặc điểm cơ bản của Phê bình mới như: sự đọc kĩ (close reading) ,

sự nghiên cứu khép kín văn bản của tác phẩm nghệ thuật, nền tảng phân tích

cơ bản của Phê bình mới là phương pháp nghiên cứu phân tích văn bản được

cô lập khỏi các hiện tượng của thực tại và đời sống của nhà văn, nhiệm vụ phương pháp luận đối với nhà phê bình là tìm được cách thức tồn tại (mode of existence) của cấu trúc tác phẩm Song song với việc nêu ra các đặc điểm cơ bản của Phê bình mới, E.A.Suganova còn đưa ra kết luận của bà về các nguyên tắc cơ bản của lí luận Phê bình mới đó là ba nguyên tắc: 1 Tác phẩm nghệ thuật là đối tượng chứ không phải thông báo 2 Với tư cách là đối tượng, tác phẩm nghệ thuật tồn tại biệt lập với nhà nghệ sĩ, giống như “ đồ nữ trang đối với thợ kim hoàn” 3 Tác phẩm nghệ thuật tồn tại như một đối tượng biệt lập với nghệ sĩ, có một chỉnh thể cấu trúc toàn vẹn và hữu cơ Những trang cuối của bài nghiên cứu về Phê bình mới này, E.A.Suganova có

đề cập đến khuynh hướng Phê bình mới ở Italia và Pháp (với tên tuổi của hai nhà phê bình mới Tz Todorov và R Barthes ở Pháp)

Như vậy, điểm qua lịch sử nghiên cứu về Phê bình mới cả ở Việt Nam

và thế giới, chúng ta dễ dàng nhận thấy những công trình nghiên cứu về Phê bình mới thường tập trung vào những vấn đề sau: lịch sử hình thành, phát triển thịnh hành và tàn lụi của Phê bình mới, các đại biểu tiêu biểu của Phê bình mới cùng một số nét khái quát về tiểu sử và quan điểm phê bình của họ qua các tác phẩm chính yếu của họ, đặc điểm cơ bản của Phê bình mới…Qua việc trình bày các công trình nghiên cứu về Phê bình mới của các nhà nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy rằng, ý kiến của các nhà nghiên cứu về các đại biểu chính của Phê bình mới, các tác phẩm quan trọng của họ, quan điểm phê bình

Trang 13

của họ và các đặc điểm cơ bản của Phê bình mới, nhìn chung, là khá thống nhất Sự khác nhau trong cách nhìn nhận về Phê bình mới của họ phần lớn tập trung ở phần nghiên cứu về lịch sử hình thành của Phê bình mới Phê bình mới là một khuynh hướng phê bình văn học kéo dài trong nhiều thập kỉ, tồn tại ở nhiều nước, tập hợp rất nhiều nhà phê bình mới và cả những ai chưa tự biết mình là nhà phê bình mới với những quan niệm về phê bình nhiều khi rất khác nhau, thậm chí quan niệm của chính bản thân mỗi nhà phê bình mới ở những giai đoạn khác nhau cũng khác nhau, trọng điểm phê bình của họ cũng không giống nhau…Cho nên, việc nghiên cứu về khuynh hướng phê bình này rất khó khăn, phức tạp và việc các nhà nghiên cứu có một vài ý kiến đây đó rải rác khác nhau về lịch sử hình thành của Phê bình mới cũng là điều dễ hiểu

Các công trình nghiên cứu nêu trên về Phê bình mới phần nhiều đều tập trung nghiên cứu về toàn bộ khuynh hướng phê bình này, đặc biệt là ở Anh và

ở Mỹ Ta rất ít thấy những công trình nghiên cứu tập trung đi sâu vào nghiên cứu về Phê bình mới ở từng nước mà nó hiện diện và ảnh hưởng để làm nổi rõ những nét đặc trưng về lịch sử hình thành, các nhà phê bình mới tiêu biểu, tiểu sử và quan điểm của họ, các tác phẩm của họ cũng như các đặc điểm của Phê bình mới ở từng nước cũng như trong từng giai đoạn phát triển của nó

3 Đối tượng nghiên cứu

Khuynh hướng phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

4 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tôi không đi vào nghiên cứu làm rõ toàn bộ khuynh hướng Phê bình mới trên thế giới mà chỉ tập trung vào khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh, làm rõ các tiền đề hình thành, các tác giả tiêu biểu, và các đặc điểm cơ bản của khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

5 Mục đích nghiên cứu

Trang 14

Luận văn này tập trung đi sâu làm rõ các tiền đề hình thành, các tác giả tiêu biểu, và các đặc điểm cơ bản của khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

6 Các phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp khoa học chung: phân tích, tổng hợp, so sánh…

 Phương pháp lịch sử phát sinh được dùng để khảo sát các tiền đề hình thành của khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

 Phương pháp tiểu sử được dùng để khảo sát các tác giả tiêu biểu của khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

 Nghiên cứu lịch đại kết hợp với nghiên cứu đồng đại về khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

7 Những đóng góp mới của luận văn

Thực hiện luận văn này, người viết mong muốn làm rõ các tiền đề hình thành, các tác giả tiêu biểu, và các đặc điểm cơ bản của khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh một cách rõ ràng hơn, sâu sắc hơn, cụ thể hơn, toàn diện và có hệ thống hơn

Thêm nữa, vì chỉ khảo sát về Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh, thay vì nghiên cứu toàn bộ khuynh hướng phê bình này, luận văn sẽ có điều kiện tập trung đi sâu nêu bật diện mạo của Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn này ngoài mở đầu và kết luận gồm 3 chương:

Chương 1 Các tiền đề hình thành khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

1.1) Tiền đề xã hội và văn hóa

Trang 15

1.2) Tiền đề triết học

1.3) Tiền đề học thuật

Chương 2 Các tác giả tiêu biểu của khuynh hướng Phê bình mới trong

lí luận phê bình văn học Anh

2.1) Thomas Stearn Eliot

2.1.1) Tiểu sử và các tác phẩm chính

2.1.2) Quan điểm phê bình

2.2) Ivor Amstrong Richards

2.2.1) Tiểu sử và các tác phẩm chính

2.2.2) Quan điểm phê bình

2.3) William Empson

2.3.1) Tiểu sử và các tác phẩm chính

2.3.2) Quan điểm phê bình

Chương 3 Các đặc điểm cơ bản của khuynh hướng Phê bình mới trong

lí luận phê bình văn học Anh

3.1) Phê bình mới xem bản thân văn bản tác phẩm độc lập và khép kín

là đối tượng của phê bình văn học

3.2) Phê bình mới lấy việc phân tích chỉnh thể cấu trúc toàn vẹn và hữu

cơ của văn bản tác phẩm văn học làm nội dung của phê bình văn học 3.3) Phê bình mới xem kĩ thuật đọc kĩ lưỡng đối với văn bản tác phẩm văn học là phương pháp của phê bình văn học

Trang 16

CHƯƠNG I CÁC TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH MỚI TRONG LÍ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC ANH

Phê bình mới là một kiểu phê bình của những người theo Chủ nghĩa hình thức hình thành trong suốt hai cuộc chiến tranh thế giới Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh được chính thức hình thành bắt đầu từ những năm 1920, 1930 của thế kỉ XX rồi sau đó được các giáo sư đại học ở

Mỹ như John Crowe Ransom, Allen Tate, Brooks, Warren, William K Wimsatt, Rene Wellek, M Beardsley, Yvor Winter…kế thừa và phát triển mạnh mẽ trong nền lí luận phê bình văn học Mỹ vào những năm 1930- 1960 Trong nền lí luận phê bình văn học Mỹ, Phê bình mới đạt đến đỉnh cao của nó suốt từ những năm 1940 và những năm 1950 Sự tàn lụi của của Phê bình mới

là vào đầu những năm 1970 Tuy thế, Phê bình mới vẫn tiếp tục phát huy những ảnh hưởng yếu ớt của mình ở Pháp, Canada và Italia Trường phái phê

bình này chính thức có cái tên của mình từ tác phẩm “The New Criticism”

(Phê bình mới) (1941) của John Crowe Ransom - một nhà phê bình mới

người Mỹ

Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh giữ vai trò là người tiên phong, đặt nền móng cho cả khuynh hướng phê bình này Sự hình thành của Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh được đặt trên

cơ sở những quyển sách và những bài luận được viết trong suốt những năm

1920, 1930 bởi Thomas Stearn Eliot “The Sacred Wood” (Rừng thiêng) (1920) ,“The Funtion of Criticism” (Chức năng của phê bình) (1933), Ivor Amstrong Richards “The Principles of Literature” (Những nguyên tắc phê

bình) (1929), “Practical Criticism” (Phê bình thực chứng) (1930), và

William Empson “Seven Types of Ambiguity” (Bảy loại mơ hồ, nhập nhằng,

Trang 17

đa nghĩa) (1930), “Some Versions of Pastoral” (Những kịch bản đồng quê)

(1935)

Về đại thể, Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh được hình thành dựa trên những tiền đề sau:

1.1) Tiền đề xã hội và văn hóa

Sự phát triển ổn định về kinh tế- chính trị- văn hóa thời kì Victoria thế

kỉ XIX đã chấm dứt Bước sang thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu của thế

kỉ này, nước Anh cùng với thế giới đã chứng kiến những đảo lộn sâu đậm về chính trị, xã hội, kinh tế ở mức độ toàn cầu Chiến tranh thế giới nhứ nhất (1914- 1918) giữa phe liên minh: Đức- Ao- Hung và phe hiệp ước: Anh- Pháp- Nga nổ ra Kết thúc chiến tranh, Anh tuy là nước thắng trận nhưng tình hình kinh tế những năm sau chiến tranh bị suy thoái rõ rệt Nền kinh tế của Anh bị giảm sút rõ rệt do hậu quả của chiến tranh mang lại Ngân sách bị ảnh hưởng nặng nề bởi những món nợ thời chiến Anh bị mất 70% tàu buôn, do vậy nền ngoại thương giảm sút, chỉ bằng một nửa trước chiến tranh Nợ nhà nước tăng lên gấp 12 lần so với năm 1914 Từ địa vị chủ nợ, Anh trở thành con nợ của Mỹ với 5,6 tỉ đôla Năm 1920, sản lượng công nghiệp của Anh bị giảm sút 32,5% so với năm 1913 Chiến thắng không những không củng cố được địa vị của chủ nghĩa đế quốc Anh mà còn làm cho nó suy yếu đi Nạn thất nghiệp hoành hành Sự giải ngũ hàng vạn binh lính không tìm được chỗ làm Nền ngoại thương giảm sút do các bước ưu tiên mà Anh quốc đã có trên các cường cuốc công nghiệp hồi thế kỉ XIX không còn nữa Vàng không ngừng chảy ra khỏi nước Anh Tình trạng bãi công nổ ra và không ngừng tăng lên Trong năm 1918, ở Anh đã xảy ra 1.156 vụ gọi là “ xung đột công nghiệp” Trong những năm 1919 đến 1921, đã có 6,5 triệu người bãi công Trong năm 1926, nạn đình công của công nhân xảy ra do họ bị cắt giảm lương

Trang 18

Cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra ở nước Anh vào năm 1930 như một hệ quả tất yếu Thêm vào đó, sự tan rã của đế quốc Anh bắt đầu bằng sự độc lập của các nước Úc, Nam Phi, Ireland, Ấn Độ, Pakistan…Một sự thất vọng, sầu não nặng nề trước sự tiến bộ, những ảo tưởng chính trị chấm dứt, tư tưởng vô chính phủ diễn ra trong con người của thế kỉ XX Ra đời trong hoàn cảnh đó, Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh với đặc điểm cơ bản là “rút vào văn bản”, không quan tâm đến những yếu tố “ bên ngoài” văn học, xét đến cùng, như một sự phản ứng đặc thù của con người thất vọng, sầu não, quay lưng lại với thế giới để tự thu rút vào con người cá nhân bên trong mình

Nước Anh, bước sang thế kỉ XX, cũng là bước khởi đầu của thời kì hiện đại được đánh dấu bằng những thay đổi to lớn về xã hội, văn hóa, khoa học kĩ thuật, triết học…Việc tự dân chủ hóa được hoàn tất: phụ nữ được quyền bầu cử vào năm 1918, nhiều cuộc cải cách xã hội xảy ra trong giảng dạy, pháp luật, y tế…, ảnh hưởng sâu sắc của Freud và Max, cuộc cách mạng khoa học cùng với Einstein và thuyết tương đối, Heisenberg và những khám phá làm xáo trộn thuyết vũ trụ của Newton… là những dấu hiệu của một cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực: tư tưởng, khoa học kĩ thuật, triết học, văn học nghệ thuật Trong lĩnh vực triết học, trường phái duy tâm qui tụ xung

quanh F.H Bradley bị thay thế bởi một khuynh hướng được gọi là: “Sự

chuyển hướng Ngôn Ngữ” ( The Linguistic Movement), trong đó các triết gia

tiêu biểu nhất là : Frege, G.E Moore, Bertrand Russell và Wittgenstein, Carnap Ảnh hưởng của họ chiếm lĩnh thế kỉ XX và lấn sang những lĩnh vực của thần học và phê bình Trong lĩnh vực phê bình, truyền thống Victoria của

“giới văn chương” mà tiêu biểu là Edmund Goose và George Saintsbury được thay thế bằng khuynh hướng của những người chuộng những tiêu chuẩn trí thức, khoa học và ngữ học Đây cũng là thời kì của thái độ thách thức đối với

Trang 19

những giá trị cũ trong nghệ thuật và cuộc sống Hoàn cảnh xã hội, văn hóa, khoa học kĩ thuật, triết học, văn học nghệ thuật đã ươm mầm cho sự hình thành của khuynh hướng Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh

1.2 ) Tiền đề triết học

Bước sang thế kỉ XX, triết học phương Tây cũng chuyển từ cận đại sang hiện đại được đánh dấu bằng tiêu chí : chuyển hướng ngôn ngữ, nghĩa là chú trọng tác dụng của nhân tố ngôn ngữ trong việc nghiên cứu triết học Triết học phân tích là trào lưu tư tưởng đánh dấu bước chuyển của triết học từ thời

kì cận đại sang thời kì hiện đại bằng công lao to lớn trong việc chuyển hướng ngôn ngữ này Có thế nói, việc chuyển hướng ngôn ngữ là kết quả của trào lưu tư tưởng này

Sự hình thành của Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh là

do chịu ảnh hưởng những tư tưởng của triết học phân tích đặc biệt là triết học phân tích giai đoạn đầu

Triết học phân tích (Analitic philosophy) là một trong mấy trào lưu tư tưởng chủ yếu trong triết học phương Tây thế kỉ XX, xuất hiện hồi đầu thế kỉ

ở Cambridge (Anh) Sự hình thành triết học phân tích là kết quả quan trọng của phong trào chống chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của các nhà triết học phương Tây hồi đầu thế kỉ Chính vì lẽ đó, triết học phân tích cực lực phản đối siêu hình học tư biện của chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối Chống siêu hình học, họ đồng thời cũng chống chủ nghĩa tâm lí Họ cho rằng sở dĩ có siêu hình học là do dùng sai ngôn ngữ Do đó, các nhà triết học phân tích lấy phương pháp logic và phân tích ngôn ngữ làm tiêu chí chủ yếu Họ quan tâm đến việc phân chia sự vật phức tạp thành các bộ phận hợp thành Sử dụng phương pháp phân tích, họ tiến hành phân tích ngôn ngữ Miêu tả và giải thích ý nghĩa của lối biểu đạt ngôn ngữ là nhiệm vụ đầu tiên của triết học phân tích, cũng là tiêu

Trang 20

chí quan trọng của triết học phân tích, cho nên triết học phân tích còn được gọi là “triết học phân tích ngôn ngữ” Bởi lẽ, các nhà triết học phân tích khẳng định rằng, làm sáng tỏ ý nghĩa của lối biểu đạt ngôn ngữ, bất kể đó là lối biểu đạt của ngôn ngữ khoa học hay ngôn ngữ thông thường là nhiệm vụ của triết học

Các nhà triết học phân tích thời kì đầu của trào lưu tư tưởng này tiểu biểu là:

G Frege, Moore, B Russell, Wittgenstein, và chủ nghĩa kinh nghiệm logic

mà người tiêu biểu là Carnap

G Frege được xem là cha đẻ của triết học phân tích Tư tưởng của

Frege là nguồn gốc của triết học phân tích đương đại Trong tác phẩm “Cơ sở

tính toán” của mình, Frege qui định ba nguyên tắc cho việc nghiên cứu logic

Đó là: phân biệt rõ cái tâm lí học và cái logic, cái chủ quan và cái khách quan; Nghiên cứu quan hệ trong câu, chứ không nghiên cứu ý nghĩa từ ngữ riêng lẻ; Chú ý phân biệt khái niệm và đối tượng Liên quan đến nguyên tắc thứ nhất, Frege cho rằng: chân lý khách quan không tùy thuộc vào phán đoán của con người; tư tưởng không phải là hoạt động chủ quan của tư duy, mà là nội dung khách quan của tư duy Frege nhấn mạnh phải phân biệt ý nghĩa của từ ngữ với quan niệm tương quan, phải phân biệt nội dung được phán đoán với phán đoán trên tư cách một hoạt động tư duy Cái trước là khách quan, không tùy thuộc vào hoạt động tư duy của cá nhân, cũng là cái chung, có thể được các cá nhân khác nhau nắm bắt Cái sau là chủ quan, là hoạt động tâm lí của cá nhân, khác nhau ở các cá nhân khác nhau Logic không nghiên cứu chủ thể vì sao đưa ra phán đoán này nọ, mà chỉ nghiên cứu tính chất của bản thân tư tưởng khách quan và một số quan hệ giữa các tính chất Liên quan đến nguyên tắc

thứ hai, Frege đề xuất nguyên tắc ngữ cảnh: “chỉ có trong ngữ cảnh của câu

nói, chứ không phải trong từ ngữ cô lập, mới có thể tìm được ý nghĩa của từ ngữ” Frege đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc ngữ cảnh:

Trang 21

“Thực tế, chỉ có trong một câu hoàn chỉnh, từ ngữ mới có ý nghĩa” Liên

quan đến nguyên tắc thứ ba, Frege nêu ra sự phân biệt về ý nghĩa (hàm nghĩa)

và ý vị (chỉ xưng) Frege phân biệt tách bạch ý nghĩa của danh xưng với đối tượng mà nó chỉ xưng Frege quan niệm rằng: nghiên cứu logic trước tiên là nghiên cứu ý nghĩa ngôn ngữ, mà phân tích ý nghĩa ngôn ngữ là nhiệm vụ chủ yếu của triết học Frege coi nghiên cứu ý nghĩa là nhiệm vụ trước tiên của triết học, coi lý luận ý nghĩa là một phần cơ sở của triết học

Nhà triết học Moore, cụ thể hơn, lại chú trọng phân tích ý nghĩa của lối biểu đạt ngôn ngữ hàng ngày Moore cho rằng khái niệm độc lập với tâm hồn người sử dụng, ý nghĩa của khái niệm chỉ liên quan đến sự biểu đạt của khái niệm, chứ không liên quan đến hoạt động tâm lí của người sử dụng khái niệm Nhiệm vụ của nhà triết học là phân tích khái niệm phức tạp thành khái niệm đơn giản, làm rõ quan hệ giữa các khái niệm sau

Trong phong trào triết học phân tích, Russell là người đầu tiên chỉ rõ vấn đề triết học trải qua phân tích đều là vấn đề ngôn ngữ, suy cho cùng cũng đều là vấn đề logic Bằng lối phân tích logic đối với ngôn ngữ, có thể giải quyết mọi vấn đề triết học thông thường Phương pháp của Russell được gọi

là phương pháp phân tích logic Russell cho rằng, ngôn ngữ hàng ngày về mặt

từ vựng và cú pháp đều không rõ ràng, thường làm cho người ta lầm lẫn Để loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của từ vựng và cú pháp ngôn ngữ thường ngày, Russell cho rằng cần sử dụng phương pháp phân tích logic để tiến hành phân tích và cải tạo, từ đó xây dựng một thứ ngôn ngữ nhân tạo lý tưởng Russell gọi phương pháp phân tích logic là phương pháp phân tích hình thức Phương pháp này chủ yếu là phương pháp đưa ra định nghĩa, bao gồm “định nghĩa thực tại” và “ định nghĩa ngữ cảnh” Cái chung của hai phương pháp định nghĩa trên là ở chỗ, chúng đều phân tích thành phần khác nhau của một vật phức hợp nhất định, cuối cùng làm sáng tỏ chỗ mơ hồ của vật phức hợp đó

Trang 22

Wittgenstein tiếp thu và phát triển nguyên tắc ngữ cảnh của Frege, cho rằng tên gọi chỉ có ý nghĩa trong mệnh đề Nhưng ông tiến thêm một bước, phân biệt tên gọi với phù hiệu nói chung, cho rằng ý nghĩa của tên gọi là đối tượng, phù hiệu đơn giản nhất đại diện cho tên gọi có tác dụng trong mệnh đề; còn phù hiệu nói chung thì không đại diện cho bất kì đối tượng hoặc sự thực nào cả, ý nghĩa hoặc tác dụng của nó trong mệnh đề là do phương thức liên tiếp qui định, bản thân nó chỉ là yếu tố logic tạo nên mệnh đề, là biến số trong mệnh đề Ý nghĩa của các biến số mệnh đề tuỳ thuộc vào tác dụng và địa vị logic của chúng trong mệnh đề, chứ không vào quan hệ giữa chúng với sự thực hoặc đối tượng Thông qua đề xuất và áp dụng thuyết hàm số chân giá trị vào nghiên cứu ngôn ngữ thường ngày, Wittgenstein cho rằng: có thể dùng tiêu chuẩn logic so sánh và phán đoán các mệnh đề trong ngôn ngữ thường ngày, phát hiện hình thức logic của tư tưởng tiềm ẩn được biểu đạt trong ngôn ngữ thường ngày, từ đó xác định giới hạn biểu đạt của ngôn ngữ Thuyết trò chơi ngôn ngữ của Wittgenstein cho rằng ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng thực

ra chẳng qua là một trò chơi Do đó, ông cho rằng điều mà ta cần làm là khảo sát các trò chơi ngôn ngữ cụ thể khác nhau, qua đó nắm vững cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau Trò chơi ngôn ngữ có tính tự chủ, không tuỳ thuộc vào bất cứ đối tượng bên ngoài nào mà tuỳ thuộc vào việc sử dụng đúng hay sai Trò chơi ngôn ngữ rất đa dạng và phức tạp, không thể qui các trò chơi ngôn ngữ về một bản chất đơn nhất Trò chơi ngôn ngữ cần tuân thủ luật chơi, luật chơi khác nhau dẫn đến trò chơi khác nhau, cũng quyết định cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau

Chủ nghĩa kinh nghiệm logic mà người tiêu biểu là Carnap đã đề xướng phân tích cú pháp logic đối với ngôn ngữ Theo Carnap, cú pháp logic là chỉ

lý luận về hình thức ngôn ngữ Xuất phát điểm của cú pháp logic Carnap là phân biệt “ vấn đề bên trong” và “ vấn đề bên ngoài” ngôn ngữ “Vấn đề bên

Trang 23

trong” là chỉ vấn đề đối tượng tồn tại ở trong kết cấu ngôn ngữ, có thể căn cứ tính chất của đối tượng mà dùng phương pháp logic hay phương pháp kinh nghiệm để giải quyết “Vấn đề bên ngoài” thì chỉ vấn đề đối tượng tồn tại như một chỉnh thể, không thể giải quyết bằng logic hay bằng kinh nghiệm; bản thân việc nêu vấn đề loại này đã là sai lầm, cần phải coi đó là vấn đề siêu hình học mà từ bỏ nó đi Như thế, mọi mệnh đề đều liên quan đến kết cấu ngôn ngữ của cách nêu vấn đề, là kết quả của việc người ta sử dụng kết cấu ngôn ngữ hoặc phương thức nói năng khác nhau, chứ không liên quan đến vấn đề đối tượng tồn tại ở bên ngoài Cú pháp logic là một thứ lí luận xác định tính

thích đáng của kết cấu ngôn ngữ Carnap viết: “ đối với người muốn phát

triển hoặc sử dụng phương pháp ngữ văn mà nói, vấn đề quyết định không phải là vấn đề bản thể luận liên quan đến sự tồn tại của đối tượng trừu tượng,

mà là vấn đề liên quan đến việc sử dụng hình thức ngôn ngữ trừu tượng; đến việc phân tích, lí giải ngôn ngữ như thế nào cho kết quả tốt nhất”

Những quan điểm của triết học phân tích cũng như những đại biểu của

nó như đã nêu trên về việc phân biệt cái khách quan và cái chủ quan (cho rằng phải phân biệt ý nghĩa của từ ngữ với quan niệm tương quan, phải phân biệt nội dung được phán đoán với phán đoán trên tư cách một hoạt động tư duy Cái trước là khách quan, không tùy thuộc vào hoạt động tư duy của cá nhân, cũng là cái chung, có thể được các cá nhân khác nhau nắm bắt Cái sau là chủ quan, là hoạt động tâm lí của cá nhân, khác nhau ở các cá nhân khác nhau Logic không nghiên cứu chủ thể vì sao đưa ra phán đoán này nọ, mà chỉ nghiên cứu tính chất của bản thân tư tưởng khách quan và một số quan hệ giữa các tính chất, cho rằng khái niệm độc lập với tâm hồn người sử dụng, ý nghĩa của khái niệm chỉ liên quan đến sự biểu đạt của khái niệm, chứ không liên quan đến hoạt động tâm lí của người sử dụng khái niệm, chỉ quan tâm nghiên cứu đối tượng tồn tại ở trong kết cấu ngôn ngữ chứ không quan tâm

Trang 24

đến đối tượng tồn tại như một chỉnh thể ở bên ngoài ngôn ngữ), chú trọng nghiên cứu hình thức logic và ý nghĩa của ngôn ngữ, từ ngữ và cú pháp logic, cho rằng ý nghĩa của ngôn ngữ tuỳ thuộc vào tác dụng và địa vị logic của chúng trong câu, chứ không vào quan hệ giữa chúng với sự thực hoặc đối tượng, triệt để loại bỏ tâm lí học, sử dụng phương pháp phân tích logic hay phương pháp phân tích hình thức đối với ngôn ngữ, phân tích ý nghĩa của ngôn ngữ trong ngữ cảnh chứ không phải chú ý đến đối tượng hoặc sự thực ở bên ngoài ngôn ngữ, cho ngôn ngữ là trò chơi, nghiên cứu các cách thức biểu đạt ngôn ngữ, các loại trò chơi ngôn ngữ, khảo sát các trò chơi ngôn ngữ cụ thể khác nhau, qua đó nắm vững cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau, chú trọng miêu tả và giải thích ý nghĩa của lối biểu đạt ngôn ngữ, chú ý phân tích chỉnh thể nghiên cứu thành các bộ phận hợp thành và nghiên cứu mối quan hệ giữa chúng, phân tích thành phần khác nhau của một vật phức hợp nhất định, cuối cùng làm sáng tỏ chỗ mơ hồ của vật phức hợp đó ….đã có ảnh hưởng đến việc hình thành Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

1.3 ) Tiền đề học thuật

1.3.1) Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh được hình thành trên cơ sở tiếp thu quan niệm của Ngữ nghĩa học hiện đại của Ivor Armstrong Richards về ý nghĩa của ngôn ngữ

Ngữ nghĩa học ( Semantics) hình thành ở Anh từ những năm 20 của thế

kỉ XX mà đại biểu tiêu biểu nhất là Ivor Armstrong Richards Do ảnh hưởng những quan niệm của triết học phân tích về việc phân biệt tách bạch giữa ý nghĩa và ý vị, về lý thuyết ngữ cảnh…,trong lí thuyết về ý nghĩa của mình, Ivor Armstrong Richards cũng chủ trương phân biệt rạch ròi giữa tư tưởng, ngôn ngữ và sự vật (đối tượng chỉ danh của ngôn ngữ với tư cách là phù hiệu) Từ sự phân biệt này, Richards chủ trương phân chia ngôn ngữ thành hai loại là ngôn ngữ phù hiệu và ngôn ngữ tình cảm tương ứng với chức năng chỉ

Trang 25

danh và chức năng khơi gợi thái độ và tình cảm của ngôn ngữ Trong hai loại chức năng này, I.A Richards đặc biệt nhấn mạnh chức năng biểu đạt tình cảm của ngôn ngữ Loại ý nghĩa tình cảm này của từ ngữ sẽ thay đổi tùy nơi, tùy lúc và tùy người I.A Richards có lấy ví dụ từ “đêm” thật ra có không biết bao nhiêu là sắc thái tình cảm thậm chí đối với ngay một con người với những tâm cảnh khác nhau Từ đã vậy, đến câu cũng vậy Về ngữ pháp và ý nghĩa logic tuy có thể chỉ là một ý nghĩa tương đối ổn định, nhưng ý nghĩa tình cảm thì muôn màu, muôn vẻ Từ đây, I.A Richards đi đến lí thuyết về ngữ cảnh I.A Richards đã tiếp thu và mở rộng lí thuyết ngữ cảnh của các nhà triết học

phân tích Ngữ cảnh trong quan niệm của I.A Richards trong “ Triết học tu

từ”, chương hai:( Mục đích của trần thuật và chủng loại của ngữ cảnh),

không chỉ là “ những từ trước và sau một từ nào đó xác định ý nghĩa của nó” I.A Richards cho rằng ngữ cảnh hiểu theo nghĩa hẹp như thế mới chỉ là ngữ cảnh bên trong văn bản I.A Richards đề nghị cần phải hiểu ngữ cảnh ra bên ngoài văn bản, nghĩa là phải kể cả hoàn cảnh phát ngôn, bao gồm cả những

“sự việc vụt hiện” liên quan đến việc giải thích ngôn từ trong văn bản Những

sự việc đó có thể xuất hiện đồng thời với sự ra đời của văn bản, cũng có thể là trong quá khứ, miễn là có liên quan đến một khía cạnh nào đó với ngôn từ trong văn bản mà người ta có thể liên tưởng đến Những sự việc này tuy không hiện diện trong văn bản, nhưng nó lại ẩn hiện đằng sau bộ phận ngôn

từ nào đó của văn bản, không thể không tác động đến việc giải nghĩa những

ngôn từ đó I.A Richards cho rằng: “chính là từ những bộ phận không xuất

hiện này, từ ngữ lại có được công hiệu biểu thị đặc tính của mình” (“Triết học tu từ”) Về vai trò của ngữ cảnh, I.A Richards cho rằng, vai trò của ngữ

cảnh trước hết là xác định phạm vi ý nghĩa câu từ, ý nghĩa nào được xác nhận,

ý nghĩa nào cần phải loại bỏ Mặt khác, ngữ cảnh cũng có tác dụng phối hợp

từ ngữ với nhau và I.A Richards ví nó như “vận động thân thể” I.A Richards

Trang 26

viết: “tôi chỉ động tay một cái, mà trên thực tế đã dùng đến xương cốt gân

thịt của toàn thân Nó làm hậu thuẫn và phối hợp với động tác của tay Cũng vậy, một từ ngữ có được sức mạnh trong hệ thống chi viện to lớn những từ ngữ khác trong những ngữ cảnh khác.” (“Triết học tu từ”)

Từ sự phân chia ngôn ngữ ra thành ngôn ngữ phù hiệu và ngôn ngữ tình cảm, cùng sự lí giải về ngữ cảnh và chức năng của ngữ cảnh, I.A Richards đã

đi đến kết luận về tính đa nghĩa của ngôn ngữ I.A Richards viết: “nếu tu từ

học cũ xem đa nghĩa như một sai lầm của ngôn ngữ, cứ mong muốn hạn chế hoặc tiêu trừ hiện tượng này, thì tu từ học mới lại xem nó là kết quả tất yếu của năng lực ngôn ngữ Đại đa số hình thức quan trọng mà chúng ta biểu đạt

tư tưởng đều không tách khỏi thủ pháp này, nhất là trong ngôn ngữ thi ca và tôn giáo lại càng không thể xa rời thủ pháp này” (“Triết học tu từ”) I.A

Richards đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của tính đa nghĩa này trong ngôn

ngữ thơ ca, cũng như trong nghiên cứu thơ ca : “sự thực vô cùng quan trọng

của nghiên cứu văn học – hoặc việc nghiên cứu bất kì phương thức giao lưu nào khác, chính là vì luôn luôn tồn tại nhiều loại ý nghĩa…Bất kể chúng ta với tư cách là người chủ động trong nói năng hoặc viết lách, hoặc là người bị động trong khi nghe và đọc, thì cái ý nghĩa tổng quát (total meaning) hầu như mãi mãi là sự hỗn hợp của mấy loại ý nghĩa không giống nhau và có tác dụng khác nhau Ngôn ngữ- nhất là ngôn ngữ đặc sắc được sử dụng trong thơ ca- không phải thực thi một nhiệm vụ, mà đồng thời thực thi mấy loại nhiệm vụ Nếu không hiểu điều này, không chú ý sự khác nhau giữa các loại công dụng

đó, thì chúng ta sẽ tạo ra những sự ngộ nhận đối với phần lớn những sự khó khăn gặp phải” (“Phê bình thực chứng”)

Chính I.A Richards đã vận dụng lý thuyết về ý nghĩa, về ngữ cảnh và chức năng của nó, về tính đa nghĩa của ngôn ngữ, đặc biệt là của thơ của mình…vào phê bình và hình thành nên kĩ thuật đọc kĩ lưỡng ( close reading) -

Trang 27

phương pháp đọc văn bản của Phê bình mới Cũng chính vì vậy mà I.A Richards được tôn xưng là thuỷ tổ của Phê bình mới

1.3.2) Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh được hình thành trên cơ sở phê phán, phủ nhận những khuynh hướng, trường phái nghiên cứu, lí luận phê bình văn học trước nó

Cũng như sự xuất hiện của những trường phái, khuynh hướng nghiên cứu, lí luận phê bình văn học ở Tây Âu khác, Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh hình thành trên cơ sở phê phán, phủ nhận những trường phái, khuynh hướng nghiên cứu, lí luận phê bình văn học xuất hiện trước nó,

Âu sau cách mạng Pháp 1789 Văn học lãng mạn chủ yếu biểu hiện những cung bậc tình cảm, cảm xúc của cái tôi nhà nghệ sĩ Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Anh xuất hiện vào đầu thế kỉ XIX Cùng với nó là sự xuất hiện của phê bình lạng mạn Phê bình văn học Anh thời kì lãng mạn gắn liền với tên tuổi và tác phẩm của hai nhà thơ, nhà phê bình là William Wordsworth với

Lời nói đầu của “Lyrical Ballads” (1800) và Samuel Taylor Coleridge với

“Biographia Literaria” (1817) Vào năm 1800, William Wordsworth trong Lời nói đầu của “Lyrical Ballads” đã đưa ra định nghĩa về bản chất của thơ ca

là “ cảm xúc được hồi tưởng ở trạng thái tĩnh”, hoặc “ dòng chảy thanh thoát

của những cảm xúc mạnh mẽ” (“the spontaneous overflow of powerful feelings”) Với định nghĩa này, Wordsworth đã đưa ra một quan điểm khác về

Trang 28

bản chất của thơ ca so với quan niệm chuẩn mực về thơ ca thời đó, chuyển dịch trung tâm của sự chú ý của thơ ca và phê bình thơ ca từ tác phẩm như một sự phản ánh và bắt chước hiện thực sang nhà nghệ sĩ và mối quan hệ của nhà nghệ sĩ đối với tác phẩm Trong quan niệm của nhà thơ và nhà phê bình lãng mạn, thơ ca vẫn là tấm gương nhưng thay vì là tấm gương hướng ra ngoài để phản ánh hiện thực bên ngoài, họ đã sớm đề nghị rằng tấm gương phải được chuyển vào bên trong để phản ánh những trạng thái cảm xúc của nhà nghệ sĩ

Các nhà phê bình mới cực lực phản đối quan niệm của các nhà thơ và nhà phê bình lãng mạn đã quá đề cao cảm xúc cá nhân của nhà nghệ sĩ Các nhà phê bình mới cho rằng cái tôi của nhà nghệ sĩ chỉ có vai trò trung gian để dịch chuyển hiện thực được miêu tả vào trong tác phẩm, rằng thơ ca là nghệ thuật vô ngã Do đó, nghiên cứu phê bình văn học phải hướng trọng tâm chú ý vào bản thân tác phẩm chứ không phải vào nhà nghệ sĩ và những ấn tượng cảm xúc của họ như các nhà phê bình lãng mạn đã làm

Chủ nghĩa thực chứng là một trường phái triết học xuất hiện sớm nhất vào thập niên 30 thế kỉ XIX ở nước Pháp ,vào thập niên 40 ở nước Anh với các đại biểu là: August Comte (nhà triết học Pháp), James Mill và Herbert Spencer (hai nhà triết học Anh) Chủ nghĩa thực chứng ra đời trên tinh thần chống siêu hình học nên nó được xây dựng trên cơ sở khoa học tự nhiên thực chứng, lấy khoa học tự nhiên thực chứng làm nội dung và phương pháp của mình Một trong những mục đích của triết học thực chứng là chiếu theo nguyên tắc chủ nghĩa thực chứng mà thống nhất các môn khoa học với nhau Chính vì thế, James Mill không chỉ đòi làm cho phương pháp logic của ông trở thành phương pháp của vật lí học (khoa học tự nhiên), mà còn đòi nó phải trở thành phương pháp của các khoa học tinh thần và đạo đức (tâm lí học, sử học, văn học, chính trị học…)

Trang 29

Các nhà phê bình mới phản bác chủ trương đó của chủ nghĩa thực chứng rằng nghệ thuật phải được giải thích bằng những phương pháp của khoa học tự nhiên Việc các khoa học nhân văn có những mục đích, những hệ thống tri thức có tổ chức, những phương pháp riêng mang tính đặc trưng của mình là nét chung liên kết các loại lí luận phản thực chứng của phê bình văn học trong đó có khuynh hướng Phê bình mới

Trường phái văn hoá- lịch sử ra đời trên cơ sở ảnh hưởng những quan niệm của chủ nghĩa thực chứng thịnh hành vào những năm 30, 40 của thế kỉ XIX Những đại biểu của trường phái văn hoá- lịch sử phải kể đến những tên tuổi là: Hyppolyte Taine (1828- 1893) và Gustave Lanson (1857- 1934) Các đại biểu của trường phái văn hoá- lịch sư đã cố gắng giải thích sự phát triển của nghệ thuật bằng những hoàn cảnh xã hội, tìm tòi những nguyên nhân lịch

sử xã hội trong sự phát triển của chúng Hyppolyte Taine gọi những động lực chung cho sự phát triển văn hoá và nghệ thuật của mọi thời đại là những sức mạnh nguyên khai bao gồm chủng tộc, môi trường và khoảnh khắc Họ coi sáng tạo nghệ thuật, mặc dù với những phương pháp đặc thù, nhưng nó cũng

chỉ là một hiện tượng văn hoá phản ánh trung thành lịch sử “Nghệ thuật chỉ

tổng kết cái mà lịch sử đã tạo nên” (“Triết lí nghệ thuật” của Hyppolyte

Taine)

Các nhà phê bình mới phê phán quan điểm của trường phái văn hóa lịch sử đã xem xét các yếu tố như chủng tộc, thời đại, môi trường của một tác phẩm của nhà thơ như là một yếu tố trong phê bình Các nhà phê bình mới cho rằng xem xét bất cứ thứ gì này hơn là cái gì được bao chứa trong văn bản cũng giống như một lời phát biểu mang tính xã hội, một luận thuyết chính trị, một tài liệu sử học- bất cứ cái gì khác hơn là một tác phẩm nghệ thuật Kết quả của một sự nghiên cứu như thế là một sự đóng góp đối với sự nghiên cứu của chính trị hoặc của sử học chứ không phải đối với phê bình văn học Các

Trang 30

nhà phê bình mới khẳng định rằng công việc của nhà phê bình không phải để ghi vào mục lục cái mà những đối tượng bên ngoài được mang vào hoặc ảnh hưởng, tác động lên một tác phẩm cụ thể, mà là để nghiên cứu những yếu tố

ở trong tác phẩm và khám phá bằng cách như thế nào nhà nghệ sĩ biến đổi thực tế thành nghệ thuật

Trường phái ấn tượng là một trào lưu nghệ thuật bắt đầu tại Pháp vào cuối thế kỉ XIX trong lĩnh vực hội hoạ sau đó lan rộng sang cả lĩnh vực văn học nghệ thuật trong đó có phê bình Phương pháp nhận thức đối tượng của phê bình ấn tượng chủ nghĩa là đồng nhất mình với đối tượng để tự xem xét, tức là xóa nhoà đường biên giữa chủ thể và khách thể, biến việc đứng ngoài quan sát thành sự tự quan sát, chiêm nghiệm từ bên trong Chính vì thế, phê bình ấn tượng nhấn mạnh hàng đầu vào trong những sự trải nghiệm chủ quan của người đọc, của nhà phê bình trong khi đọc một tác phẩm cụ thể Để có những cảm giác về sự hiện diện của tác phẩm và diễn tả chúng, đó là chức năng của phê bình đối với các nhà phê bình ấn tượng Thông thường, một nhà

phê bình ấn tượng sẽ diễn tả thái độ của mình phần nào theo kiểu: “Đây là

một bài thơ đẹp, hãy để chúng tôi nói : “Prometheus được cởi trói” Để đọc

một tác phẩm đối với nhà phê bình ấn tượng là một sự trải nghiệm, một sự rung lên niềm vui thích Tất cả những thứ mà một nhà phê bình ấn tượng làm

là như thế nào tác phẩm tác động lên họ, những cảm giác mà tác phẩm đưa cho họ là gì

Các nhà phê bình mới phê phán cách làm trên của phê bình ấn tượng

Họ cho rằng phê bình ấn tượng đã đi ra xa khỏi phê bình văn học khi chuyển dịch sai lệch trọng tâm phê bình từ bản thân tác phẩm sang ấn tượng, cảm giác của nhà phê bình Các nhà phê bình mới cho rằng phương pháp phân tích của phê bình ấn tượng là hời hợt, nông cạn, tùy tiện bởi theo họ, có bao nhiêu

ấn tượng và sự diễn tả ấn tượng sẽ có bấy nhiêu tác phẩm văn học mới được

Trang 31

tạo ra để thay thế chính bản thân tác phẩm văn học đã đưa cho họ những ấn tượng và cảm giác đó Phê bình mới khẳng định cái mà phê bình văn học quan tâm phải là chính bản thân văn bản tác phẩm chứ không phải những ấn tượng hay cảm giác chủ quan của nhà phê bình như là các nhà phê bình ấn tượng đã làm

Phê bình Mác- xít là một khuynh hướng phê bình văn học hình thành trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng do Marx đề xuất, được Engels và Lenin tiếp tục hoàn thiện Phê bình Mác- xít vốn có nền tảng từ phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa của thế kỉ XIX nhưng thực sự trở thành một khuyng hướng có hệ thống cơ sở lí luận thì phải đến thập niên cuối cùng của thế kỉ này Các nhà phê bình Mác – xít tiêu biểu là Christopher Caudwell (người

Anh) với tác phẩm: “ Illusion and Reality” (1937), Bernard Smith (người Mỹ) với tác phẩm: “Forces in American Criticism” (1939) và Georgy Lukacs (nhà

mỹ học Hungary) với tác phẩm: “Geothe and His Age” (1947) Phê bình Mác-

xít xem văn học là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng là đời sống kinh tế xã hội của thời đại và ít nhiều phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội đó Phê bình Mác- xít đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thế giới quan nhà văn, ý thức hệ tư tưởng của giai cấp mà nhà văn xuất thân đối với tác phẩm của họ, cho rằng thế giới quan quyết định sáng tác Thế giới quan của nhà văn là sản phẩm của nguồn gốc xuất thân, nền giáo dục, hoàn cảnh xã hội và thời đại…

Các nhà phê bình mới cực lực phê phán quan niệm của các nhà phê bình Mác- xít đã quá nhấn mạnh vào những điều kiện vật chất kinh tế xã hội của sự sáng tạo của một tác phẩm, thế giới quan của nhà văn đối với sự sáng tạo tác phẩm và những hệ tư tưởng đang thịnh hành bao quanh sự sáng tạo của tác phẩm Các nhà phê bình mới khẳng định đối tượng của phê bình là bản thân văn bản tác phẩm chứ không phải là tư tưởng của nhà văn, của giai

Trang 32

cấp, của thời đại Cho rằng những yếu tố về hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội, nhà văn và thế giới quan nhà văn là những yếu tố ngoài văn học, các nhà phê bình mới đi đến khẳng định: tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc hữu cơ tồn tại độc lập, có giá trị tự thân và giá trị nằm ngay trong chính sự tồn tại của nó

Nói tóm lại, Phê bình mới phê phán tất cả các khuynh hướng, trường phái phê bình trong nền lí luận phê bình truyền thống hình thành từ thế kỉ XX còn lưu truyền đến lúc bấy giờ Phê bình mới phủ nhận tất cả những lí thuyết phê bình văn học mà đặt trọng điểm phê bình của mình vào nhà nghệ sĩ (tiểu

sử, hoàn cảnh sống, đời sống cá nhân, trạng thái tâm lí, cảm xúc, ý thức hệ ), hoàn cảnh xã hội- lịch sử, môi trường, chủng tộc, văn hoá, ý thức hệ tư tưởng, thời đại, ấn tượng, trải nghiệm của cá nhân nhà phê bình hay người đọc thông thường… Các nhà phê bình mới cho tất cả những yếu tố đó là những yếu tố ngoài văn học Họ cho rằng các nhà phê bình tập trung sự chú ý của anh ta vào những yếu tố trên chỉ làm cho anh ta đi xa ra khỏi văn học Một nhà phê bình phân tích một tác phẩm trong mối quan hệ với những yếu tố bên ngoài bản thân văn bản tác phẩm chỉ dựng nên một bức tường giữa anh ta với ý nghĩa của tác phẩm mà thôi

Trái lại, các nhà phê bình mới kêu gọi phê bình văn học phải đặt trọng tâm chú ý của mình vào chính văn bản tác phẩm văn học bằng việc nêu cao

khẩu hiệu: “quay trở lại với văn bản tác phẩm” (“the return to the text”)

Bằng khẩu hiệu này, các nhà phê bình mới khẳng định rằng: tác phẩm thơ văn

là một thực thể hữu cơ, độc lập tự chủ, tồn tại một cách khách quan Nhà phê bình không nên bàn những chuyện bên ngoài mà chỉ bình giá, phân tích trong phạm vi nội tại của văn bản tác phẩm mà thôi Họ cho rằng nhiệm vụ của nhà phê bình là xem xét những yếu tố và ý nghĩa của một tác phẩm từ bên trong,

từ những thứ mà bản thân tác giả đã đặt vào bên trong văn bản, nơi mà anh ta đặt nó và như thế nào nó liên hệ với những yếu tố xung quanh nó

Trang 33

Như vậy, hoàn cảnh lịch sử - xã hội của nước Anh đầu thế kỉ XX với nhiều biến động theo hướng tiêu cực sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sự chuyển biến theo hướng hiện đại hoá của các lĩnh vực văn hóa, sự xuất hiện cùng những tư tưởng và phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng của trào lưu triết học phân tích, nhất là yêu cầu “chuyển hướng ngôn ngữ” của trào lưu triết học này, sự kế thừa, ảnh hưởng những quan niệm của Ngữ nghĩa học về

ý nghĩa của ngôn ngữ, và sự phê phán hay phủ nhận những trào lưu, trường phái phê bình có trước đó như chủ nghĩa lãng mạn, phê bình Mác- xít, trường phái văn hoá- lịch sử, chủ nghĩa thực chứng, phê bình ấn tượng, là những tiền

đề chủ yếu đặt nền móng cho sự hình thành của Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh

Như trên đã nói, Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh giữ vai trò là người đặt nền móng cho cả khuynh hướng phê bình này Sự hình thành của nó được đặt trên cơ sở những bài luận và những quyển sách được viết trong suốt những năm 1920, 1930 của các tác giả mà tiêu biểu nổi trội nhất là ba tác giả, Thomas Stearn Eliot, Ivor Armstrong Richards, và William Empson Ba nhà phê bình mới này cùng những quan niệm và tác phẩm của

họ, chính là những người đã có công đầu trong việc hình thành nên khuynh hướng Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu về tiểu sử cuộc đời, những quan niệm chính cùng những đóng góp cho khuynh hướng Phê bình mới trong nền lí luận phê bình văn học Anh của ba nhà phê bình mới Anh này là nội dung của chương hai trong luận văn nghiên cứu về khuynh hướng Phê bình mới trong lí luận phê bình văn học Anh

Trang 34

CHƯƠNG II CÁC TÁC GIẢ TIÊU BIỂU CỦA KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH MỚI TRONG LÍ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC ANH

2.1) Thomas Stearn Eliot

2.1.1) Tiểu sử và các tác phẩm chính

Thomas Stearn Eliot (sinh ngày 26, tháng 9, năm 1888– mất ngày 4, tháng giêng, năm 1965) là một nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học Anh Có thể nói không quá rằng, ông là nhà thơ ngôn ngữ Anh quan trọng nhất của thế kỉ XX Eliot được sinh ra trong gia đình Eliot, có nguồn gốc từ nước Anh cổ, đã chuyển dời đến St Louis, Missouri, Mỹ Bố của ông, Henry Ware Eliot là một thương gia thành đạt Mẹ của ông, Charlotte Champe Stearns viết thơ và

là một người hoạt động xã hội Từ năm 1898 đến 1905, Eliot tham gia vào học viện Smith để học tiếng Latin, Hy- Lạp cổ, tiếng Pháp và tiếng Đức Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia vào học viện Milton tại Massachusetts Từ 1906 đến 1909, ông học triết học tại Harvard, lấy được bằng cử nhân sau ba năm học Từ 1909–1910, ông làm trợ giảng triết học tại Harvard Từ 1910–1911, ông sống ở Paris, học triết học tại Sorbonne Từ 1911-1914, ông trở lại Harvard, học triết học Ấn độ và tiếng Sanskrit Vào năm 1914, ông nhận được một học bổng vào trường cao đẳng Merton, Oxford, Anh Năm 1915, ông kết hôn lần thứ nhất với Vivienne Haigh-Wood, một nữ gia sư tại Cambridge Vào năm 1917, ông làm việc tại ngân hàng Lloyds, London Vào năm 1925, ông rời Lloyds để làm việc tại nhà xuất bản Faber and Gwyer, sau đó là nhà

Trang 35

xuất bản Faber and Faber Năm 1927, Eliot đã cải đạo theo giáo phái Anh, và vào tháng 10 năm đó, tham gia quyền công dân Anh Khoảng năm 1932, khi Harvard đề nghị ông giữ chức giáo sư Charles Eliot Norton trong một năm từ 1932-1933, ông để Vivien ở Anh, trở về Mỹ Năm 1948, ông được nhận giải thưởng Nobel Năm 1957, ông kết hôn lần thứ hai với Valerie Fletcher- thư kí của ông tại nhà xuất bản Faber và Faber Vào đầu những năm 1960, do sự xuống cấp của sức khỏe, ông làm cố vấn biên tập cho nhà xuất bản Wesleyan University, Connecticut Eliot mất vì bệnh ung thư phổi tại London vào năm

1965

Các tác phẩm phê bình chính của Thomas Stearn Eliot phải kể đến là:

“The Second-Order Mind” (Trí óc trật tự thứ hai) (1920), “The Sacred Wood:

Essays on Poetry and Criticism” (Rừng thiêng: những bài tiểu luận về thơ ca

và phê bình) (1920), “The Use of Poetry and The Use of Criticism” (Chức năng của thơ ca và chức năng của phê bình) (1933), “The Frontiers of

Criticism” (Những biên giới phê bình) (1956)…

2.1.2) Quan điểm phê bình

Eliot có những đóng góp quan trọng đối với lĩnh vực phê bình văn học, đặc biệt mạnh mẽ đến khuynh hướng Phê bình mới Trong khi có phần tự đánh giá thấp tác phẩm của ông, ông đã từng nói phê bình của ông chỉ là một

“sản phẩm phụ” của “phân xưởng thơ ca cá nhân” của ông, Eliot được một số người xem như là một trong những nhà phê bình văn học lớn nhất của thế kỉ

XX Nhà phê bình William Empson đã từng nói: “Tôi không biết được chắc

chắn nhiều bao nhiêu trí óc của chính tôi mà Eliot đã tạo ra Ông là một sự ảnh hưởng rất sâu sắc, có lẽ không khác gió đông”

Đóng góp quan trọng của Eliot cho Phê bình mới chủ yếu được thể hiện

ở những quan niệm của ông trong những bài tiểu luận được ông viết trong

quyển sách: “Rừng thiêng: những bài tiểu luận về thơ ca và phê bình”, cụ thể

Trang 36

là: “Tradition and The Individual Talent” (Truyền thống và tài năng cá nhân),

"Hamlet and His Problems” (Hamlet và những vấn đề của chàng), và “The perfect Ctictics” (Nhà phê bình hoàn hảo)

Có thể nói, “Truyền thống và tài năng cá nhân” là một trong những bài

tiểu luận quan trọng nhất của khuynh hướng Phê bình mới Trong bài tiểu luận phê bình này, Eliot đã cắt nghĩa một trong những khái niệm cơ bản của Phê bình mới là “Truyền thống” và khẳng định vai trò quan trọng của nó với

tư cách là tiêu chí để định giá giá trị của nhà nghệ sĩ cùng tác phẩm của anh

ta Truyền thống, theo Eliot, trước hết đòi hỏi ý thức lịch sử Ý thức lịch sử là chiếc cầu nối gắn kết quá khứ với hiện tại Ý thức lịch sử mang trong mình cả tính nhất thời và cả tính vĩnh hằng, cả quá khứ và hiện tại Cho nên, Eliot cho rằng mỗi nhà thơ phải có ý thức lịch sử, ý thức về truyền thống văn học Ý thức lịch sử là điều thiết yếu đối với ai muốn trở thành nhà thơ Ông viết:

“chính ý thức lịch sử này cho nhà nghệ sĩ cảm nhận về quá khứ không đơn thuần chỉ là quá khứ, mà còn là hiện tại; Ý thức lịch sử này thúc giục nhà nghệ sĩ phải sáng tác, cảm nhận trong anh ta không chỉ thế hệ anh ta mà còn

cả một nền văn học châu Âu như một chủ thể tồn tại cùng thời Tạo nên một dãy cùng thời, ý thức lịch sử này là ý thức của sự nhất thời, của sự vĩnh hằng,

là cảm nhận sự gắn kết giữa nhất thời và vĩnh hằng, đồng thời cũng xác định nhà thơ là thuộc về truyền thống Chính ý thức này đã giúp cho nhà thơ với

độ nhạy bén cao có thể hiểu được vị trí của mình trong thời đại và cuộc sống hiện tại của mình” Eliot cho rằng, nhà nghệ sĩ, dù ít hay nhiều, khi sáng tác

và trong sáng tác, đều phụ thuộc vào truyền thống văn học, học tập, ảnh hưởng từ truyền thống Không có một nhà thơ, một nghệ sĩ trong bất cứ ngành

nghệ thuật nào lại tự mình bộc lộ tất cả Eliot viết: “nếu tiếp cận với một nhà

thơ mà không có định kiến trước, chúng ta sẽ thấy rằng không chỉ cái tốt nhất

mà cả cái cá nhân nhất trong sáng tạo của anh ta cũng bắt rễ ở nơi mà tổ tiên

Trang 37

của anh ta, các nhà thơ quá khứ, khẳng định sự bất tử của mình mạnh mẽ hơn

cả, tức là bắt rễ từ truyền thống văn học” Từ việc cắt nghĩa truỵền thống và

mối quan hệ của nó với nhà nghệ sĩ, Eliot đi đến kết luận về tiêu chí để định

giá giá trị của nhà nghệ sĩ Ông viết: “Ý nghĩa và giá trị sáng tạo của họ chỉ

thật sự trọn vẹn khi họ so sánh với các nhà thơ của quá khứ Không thể đánh giá một nhà nghệ sĩ một cách riêng rẽ; nếu cần phải đối chiếu và so sánh thì hãy đặt anh ta vào cùng một hàng với các nghệ sĩ của các thời đã qua Về một phương diện nào đó, nhà thơ cần phải hiểu rằng anh ta sẽ được đánh giá trên

cơ sở những tiêu chí do quá khứ đề ra” Như vậy, Eliot cho rằng, nghệ thuật

phải được hiểu không phải trong một khoảng không, mà là trong bối cảnh của những mảnh trước của nghệ thuật Một cách cụ thể, quan niệm này giới thiệu

ý niệm rằng giá trị của một tác phẩm nghệ thuật phải được xem xét trong bối cảnh của tất cả những tác phẩm trước, một “ trật tự đồng thời” của những tác phẩm

Một nội dung cũng không kém quan trọng được trình bày trong

“Truyền thống và tài năng cá nhân” đó là lí thuyết nghệ thuật vô ngã của

Eliot Chính lí thuyết nghệ thuật vô ngã này đã góp phần đặt cơ sở nền tảng cho Phê bình mới Trên cơ sở phản bác quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn cho rằng: “thơ ca là dòng chảy tự do của những cảm xúc”, hay thơ ca là “cảm xúc được hồi tưởng ở trạng thái tĩnh” ( Wordsworth), Eliot đã đi đến khẳng định: cảm xúc của nghệ thuật thì phi cá nhân Eliot cho rằng có ba yếu tố liên quan đến quá trình sáng tạo bài thơ là: nhận thức (mind), tình cảm (feeling) và cảm xúc (emotion) của nhà thơ Nhận thức của nhà thơ, theo Eliot, một phần hay toàn bộ dựa vào kinh nghiệm nghiệm sống của nhà thơ Nhận thức này đóng vai trò trung gian, “thấm sâu và chuyển biến những tình cảm mãnh liệt, những niềm đam mê vốn là tư liệu, chất liệu của nhận thức” Quá trình sáng tạo bài thơ không thể không có mặt của nhận thức, nhưng nó chỉ là trung gian

Trang 38

để “những tình cảm đặc biệt hoặc rất khác nhau được tự do để tham gia vào những kết hợp mới” Những kết hợp mới được tạo thành hoàn toàn không có dấu vết của nhận thức bởi vì nhận thức này của nhà thơ, theo Eliot, thì thụ

động, trung lập và không thay đổi Ông viết: “nhận thức của nhà thơ là chiếc

bình chứa đặc biệt thu thập và trữ trong mình vô số những tình cảm, câu thơ, hình tượng, những thứ này sẽ ẩn náu ở đó và chỉ thể hiện khi có đủ thành phần cần thiết để thiết lập một chủ thể mới hoàn chỉnh” Tình cảm của nhà

thơ, theo Eliot, được nhà thơ thể hiện cụ thể trong ngôn từ, câu chữ hay hình ảnh Do đó, Eliot cho rằng, tình cảm này chính là tình cảm của bài thơ và được phép có mặt trong bài thơ Eliot phân biệt sự khác nhau giữa tình cảm của bài thơ và cảm xúc của nhà thơ Theo Eliot, cảm xúc của nhà thơ thì cụ thể hơn, mang tính chủ quan, và do những sự kiện cụ thể trong cuộc sống nhà thơ khơi dậy Cho nên nó chính là cảm xúc riêng tư, chủ quan của cá nhân nhà thơ Eliot cho rằng những cảm xúc riêng tư này chỉ là những thành tố ban đầu và không đóng vai trò quan trọng gì đối với bài thơ Từ đó, Eliot đi đến khẳng định rằng: các nhà thơ tuyệt đối không thể hiện cái tôi cá nhân của mình mà chỉ đóng vai trò trung gian cho “những ấn tượng và những trải nghiệm kết hợp theo những cách thức cụ thể, riêng biệt và bất ngờ” Ông viết:

“Những ấn tượng và những sự trải nghiệm quan trọng đối với tác giả có thể không có mặt trong thơ ca, và những ấn tượng và những sự trải nghiệm đó quan trọng trong thơ ca có thể có một vai trò rất không đáng kể đối với con người cá nhân nhà thơ Về bản chất, các nhà thơ thường từ chối chính bản thân mình vì một điều gì đó có ý nghĩa hơn Hoạt động của người nghệ sĩ là

sự hi sinh bản thân, là sự quên mình không ngừng” Từ việc khẳng định cảm

xúc nghệ thuật thì phi cá nhân, thơ ca không phải là sự thể hiện cảm xúc chủ quan, riêng tư hay “cái tôi cá nhân” của nhà thơ, Eliot đi đến đề nghị quan trọng cho phê bình: một nhà phê bình đích thực và đánh giá đúng thực sự, xét

Trang 39

cho cùng, bao giờ cũng hướng vào thơ ca chứ không phải vào nhà thơ Bởi vì ông cho rằng hướng sự tập trung chú ý đến bài thơ chứ không phải là nhà thơ thì mới có thể đánh giá một cách công bằng hơn những bài thơ hay cũng như những bài thơ dở Đánh giá thơ chỉ nên dựa vào chính bản thân bài thơ và xem xét bài thơ đó với bối cảnh của tất cả những tác phẩm trước với một “ trật tự đồng thời” của những tác phẩm, chứ không phải dựa vào tác giả của nó

là một nguyên tắc phê bình thơ ca quan trọng của Phê bình mới Nguyên tắc

này sau này được tiếp tục kế thừa và phát triển trong bài tiểu luận “ The

Intentional Fallacy” (Ngộ nhận ý đồ) trong tác phẩm “The Verbal Icon” của

hai nhà phê bình mới người Mỹ là William Kurtz Wimsatt và Monroe Beardsley Nguyên tắc này cũng góp phần đưa đến kĩ thuật đọc khép kín và kĩ lưỡng của phê bình mới trong đó văn bản tác phẩm được tập trung xem xét

mà loại bỏ những yếu tố như là tiểu sử hay ý đồ của tác giả

Trong bài tiểu luận: “Hamlet và những vấn đề của chàng”, Eliot đã đưa

ra một ý niệm cũng quan trọng đối với Phê bình mới về một “objective correlative” (“Sự tương quan đối tượng”) Sự tương quan đối tượng này đặt một mối liên quan, quan hệ giữa những từ trong nguyên bản và những sự

kiện, những trạng thái tinh thần, hoặc những sự trải nghiệm Eliot viết: “cách

duy nhất thể hiện cảm xúc theo hình thức tác phẩm nghệ thuật là tìm ra một

“tương quan đối tượng”; nói khác đi là một hệ các khách thể, một tình thế, một chuỗi sự kiện sẽ làm công thức cho cảm xúc đặc biệt đó; đến mức khi những sự kiện bên ngoài, thứ phải hoàn tất bằng cảm nhận giác quan đã sẵn sàng, cảm xúc này lập tức trỗi dậy” Quan niệm này thừa nhận rằng một bài

thơ có nghĩa là cái mà nó nói, do đó một sự phê bình, đánh giá khách quan cần phải dựa trên những sự diễn dịch, phân tích đối với tác phẩm

Trong bài tiểu luận “ Nhà phê bình hoàn hảo”, Eliot đã đưa ra những

quan niệm quan trọng của ông cho Phê bình mới về yêu cầu đối với phê bình

Trang 40

và nhà phê bình Trên cơ sở phê phán hướng tượng trưng trong phê bình gắn liền với tên tuổi của hai nhà phê bình Coleridge và Matthew Arnold (đã định nghĩa thơ ca bằng cảm xúc chứ không phải bằng tri giác) và hướng phê bình

ấn tượng gắn với tên tuổi của nhà phê bình ấn tượng Symons (đã trộn lẫn cảm xúc và tri giác trong phê bình), Eliot đi đến đưa ra quan điểm của ông về phê bình và nhà phê bình Theo Eliot, một bộ óc phê bình thích đáng của một nhà phê bình hoàn hảo, không có khiếm khuyết phải là một bộ óc “thông minh xuất chúng và bao quát”, nghĩa là khi xem xét bất cứ đối tượng khách thể nào thì phải quan sát một cách đơn độc và kiên định vào đối tượng, hoàn toàn vận dụng trí thông minh, khả năng hiểu biết, tri giác của mình mà không có sự tham gia, can thiệp vào của mối quan tâm, sở thích cá nhân hoặc mong muốn thỏa mãn một xung lực cá nhân, riêng tư của người xem xét Trí thông minh như thế được Eliot gọi là trí thông minh vô tư, không vụ lợi và mang tính tự

do Như vậy, không chỉ thơ ca không thể hiện cảm xúc cá nhân của nhà nghệ

sĩ mà cảm xúc cá nhân, riêng tư của nhà phê bình cũng không được thể hiện trong phê bình Chính ở đây, Eliot kêu gọi các nhà phê bình phải khách quan, công bằng trong khi đánh giá tác phẩm Phê bình phải đạt được yêu cầu khách quan, nó không phải là địa hạt để thể hiện cảm xúc riêng tư, cá nhân của nhà

phê bình Eliot viết: “nhà phê bình văn học nên không có những cảm xúc

ngoại trừ những cảm xúc được gây ra một cách trực tiếp, tức thì bởi một tác phẩm nghệ thuật và những cái này thì, khi có giá trị, có lẽ không được gọi là những cảm xúc chút nào hết” Eliot chỉ ra sự phân biệt thơ ca với trạng thái

cảm xúc được gợi lên trong chính bản thân người đọc bởi thơ ca, một trạng thái mà có thể chỉ đơn thuần là một sự đam mê, ham thích của những xúc cảm của chính bản thân người đọc Eliot cho rằng người đọc không hiểu biết thì hoàn toàn không có khả năng để phân biệt thơ ca với trạng thái cảm xúc được gợi lên trong chính bản thân anh ta bởi thơ ca Trong khi đó, Eliot yêu cầu nhà

Ngày đăng: 19/02/2014, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Lại Nguyên Ân (,1999),150 từ điển thuật ngữ văn học, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
3) Trịnh Bá Đĩnh (,2002) Chủ Nghĩa cấu trúc và văn học, nhà xuất bản Văn hoc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ Nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: nhà xuất bản Văn hoc
Năm: 2002
4) Lưu Phóng Đồng (,1994) Triết học phương Tây hiện đại, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
5) Nguyễn Hào Hải (,2001) Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại
Nhà XB: nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
6) Phương Lựu (,2001) Lí luận phê bình văn học phương tây thế kỉ XX, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học phương tây thế kỉ XX
Nhà XB: nhà xuất bản Văn Học
7) Phương Lựu (,1999) Mười trường phái lí luận phê bình văn học phương tây đương đại, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười trường phái lí luận phê bình văn học phương tây đương đại
Nhà XB: nhà xuất bản Giáo Dục
8) Bùi Đức Mãn (,2002 ) Lịch sử các nước trên thế giới_ lược sử nước Anh, nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các nước trên thế giới_ lược sử nước Anh
Nhà XB: nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh
9) Huỳnh Như Phương (,2004) Chủ Nghĩa hình thức Nga, nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ Nghĩa hình thức Nga
Nhà XB: nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
10) Lê Văn Sự (,2000), Văn học Anh lịch sử và trích giảng, nhà xuất bản Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Anh lịch sử và trích giảng
Nhà XB: nhà xuất bản Đồng Nai
11) Lộc Phương Thủy (chủ biên) (,2007) Lí luận phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học thế giới thế kỉ XX
Nhà XB: nhà xuất bản Giáo Dục
12) Đỗ Lai Thúy (,2001) Nghệ thuật như là một thủ pháp, nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật như là một thủ pháp
Nhà XB: nhà xuất bản Hội Nhà Văn
13) Đỗ Lai Thúy (,2004) Sự đỏng đảnh của phương pháp, nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đỏng đảnh của phương pháp
Nhà XB: nhà xuất bản văn hóa thông tin
14) Nguyễn Thành Thống (,1997) Lịch sử văn học Anh trích yếu, nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí MinhTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Anh trích yếu
Tác giả: Nguyễn Thành Thống
Nhà XB: nhà xuất bản Trẻ
Năm: 1997
15) David E. Cooper; Lưu Văn Hy (dịch) (,2005) Các trường phái triết học trên thế giới, nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái triết học trên thế giới
Nhà XB: nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
16) David M. Wallace (,1970) Literary Ctiticism As Idealogy: A Ctitique of The New Criticism, University of Bristish Columbia, Literary Theory and Criticism: An Oxford Guide Sách, tạp chí
Tiêu đề: Literary Ctiticism As Idealogy: A Ctitique of The New Criticism", University of Bristish Columbia
17) Irot Armstrong Richards (,1924) Principles of Literature, nhà xuất bản Kegan Paul, Trench, Trubner: London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Literature
Nhà XB: nhà xuất bản Kegan Paul
18) Irot Armstrong Richards (,1929) Practical Criticism, nhà xuất bản Kegan Paul, Trench, Trubner: London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practical Criticism
Tác giả: Irot Armstrong Richards
Nhà XB: Kegan Paul, Trench, Trubner
Năm: 1929
19) T.S. Eliot (,1920) The Sacred Wood, nhà xuất bản Methuen & Co. LTD 36 Essex Street W.C London Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Sacred Wood
Nhà XB: nhà xuất bản Methuen & Co. LTD 36 Essex Street W.C London
20) Mark Jancovich (,1993) The cultural politics of the New Criticism, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cultural politics of the New Criticism
21) William Empson (,1930) Seven Types of Ambiguity, nhà xuất bản Chatto and Windus London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seven Types of Ambiguity
Nhà XB: nhà xuất bản Chatto and Windus London

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w