MỤC TIÊU CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỸ GIAI ĐOẠN NĂM 2000-2010 • Lập kế hoạch và phát triển các chiến lược phát triển kinh tế; • Xây dựng hoặc cải tạo các tòa nhà công vụ; • T
Trang 1NGƯỜI TRÌNH BÀY: TS.NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THU
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM HIỆN ĐẠI TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG
– KINH NGHIỆM TỪ NƯỚC MỸ
SINH HOẠT KHOA HỌC
BỘ MÔN KINH TẾ CÔNG CỘNG
THÁNG 4/2019
1
Trang 2PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- “Phát triển kinh tế” liên quan đến tái cấu trúc và tăng trưởng của một nền kinh tế nhằm nâng cao đời sống kinh tế của những người sống ở một nơi nào đó (IEDC)
- Kết quả chính của phát triển kinh tế là tăng thu nhập và sự giàu có (Cheshire và Malecki 2004; Blair 1995)
- Quá trình phát triển kinh tế là sự kết hợp lao động, vốn và công nghệ của một nơi nào đó theo những cách sáng tạo dẫn đến tăng trưởng kinh tế phúc lợi (Blakely và Bradshaw 2002)
2
Trang 3VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- Chính phủ đóng vai trò là trọng tài, thành lập các quy tắc hoạt động thông qua khung pháp lý, và quy định trong hoạt động kinh doanh
- Chính phủ là nhà đầu tư quan trọng trong những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thực hiện (hàng hóa công cộng…) Những khoản đầu tư có nhiều hình thức nhưng nhìn chung phục vụ để tăng cường lực lượng lao động, cơ
sở hạ tầng, công nghệ hoặc khả năng đổi mới (IEDC)
3
Trang 4MỤC TIÊU CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỸ GIAI ĐOẠN NĂM 2000-2010
• Lập kế hoạch và phát triển các chiến lược phát triển kinh tế;
• Xây dựng hoặc cải tạo các tòa nhà công vụ;
• Thành lập các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp;
• Xây dựng các khu công nghiệp;
• Xây dựng và sửa chữa đường và đường phố;
• Xây dựng hệ thống nước và cống rãnh
4
Trang 5CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ MỸ CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
5
Sources: Federal reserve bank of Kansas city, 2006
Trang 6CHI TIÊU CỦA CP MỸ CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG
6
Sources: Federal reserve bank of Kansas city, 2006
Trang 7SỰ THAY ĐỔI TƯ DUY TRONG HOẠCH
ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG
- Quan điểm cũ: phát triển vùng thường là một trò chơi có tổng bằng 0 và những gì thu được của vùng này thường là sự mất mát của vùng khác Kết quả là, một số nhà phân tích theo đuổi chiến lược phát triển kinh tế truyền thống đã cho rằng tồn tại cuộc chiến kinh tế giữa các vùng (Burstein và Rolnick 1995)
- Quan điểm hiện đại: Toàn cầu hóa làm thị trường toàn cầu thay đổi nhanh chóng buộc các vùng và các quốc gia phải có cách cạnh tranh mới Quan điểm cho rằng cần tập trung nhiều hơn vào chính bản thân vùng, giúp các vùng nhận ra thế mạnh, sự khác biệt riêng có của vùng, giúp đỡ các doanh nghiệp và công nhân lành nghề phát triển dựa trên thế mạnh của mình, đổi mới và nắm bắt cơ hội thị trường mới.
7
Trang 8BA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trang 9GIAI ĐOẠN 1: TUYỂN DỤNG CÔNG NGHIỆP
- Tuyển dụng công nghiệp, thường được gọi là “smokestack chasing” (nền CN đuổi theo khói), chiếm ưu thế từ những năm 1950 đến đầu những năm 1980 Mục tiêu là làm bất cứ điều gì để thu hút một nhà máy đến vùng Chiến lược này xuất phát từ lý thuyết về nền kinh tế dựa trên xuất khẩu, lần đầu tiên được đưa ra bởi North (1950) Lý thuyết này về cơ bản nhìn vào sự phát triển kinh
tế từ quan điểm là tiền phải chảy vào vùng và làm gì để nó lớn lên Cách duy nhất để có thêm tiền là xuất khẩu nhiều hơn
Quan điểm này đã dẫn đến một loạt các khoản trợ cấp, giảm thuế và các cơ chế khuyến khích tài chính khác từ chính quyền tiểu bang và vùng để thu hút các công ty, thường các công ty công nghiệp, đến một vùng cụ thể Một loạt các hoạt động tuyển dụng công nghiệp đã kéo dài đến thế kỷ 21, đến khi lý thuyết chuyển sang giai đoạn mới
9
Trang 10GIAI ĐOẠN 2: CẠNH TRANH BẰNG CHI PHÍ
- Sự khởi đầu của việc bãi bỏ quy định vào đầu những năm 1980 đã mở ra một kỷ nguyên của giai đoạn cạnh tranh bằng chi phí Bãi bỏ quy định là một động lực, như là con đường để các chính sách giúp các doanh nghiệp tìm cách để giảm chi phí kinh doanh, tăng quy mô hoạt động
Cắt giảm chi phí là một mục tiêu xứng đáng, nhưng hội nhập toàn cầu thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng sâu rộng làm dấy lên nghi ngờ mới
về hiệu quả của chiến lược phát triển theo hướng này Các vùng nhanh chóng phát hiện ra rằng lợi thế chi phí có thể thoáng qua (không có nhiều giá trị) trong một thị trường toàn cầu Giảm chi phí không đảm bảo lợi ích kinh tế khi ở nơi khác trên thế giới chi phí đang giảm nhanh hơn
10
Trang 11GIAI ĐOẠN 3: NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÙNG
- Từ đầu những năm 1990, các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng nền kinh tế vùng phải liên tục tạo ra giá trị mới trên thị trường toàn cầu bằng cách khai thác thế mạnh của chính vùng hay còn gọi là nâng cao năng lực cạnh tranh vùng Quá trình thúc đẩy bởi sự đổi mới và khả năng phát minh ra ý tưởng dựa trên tri thức, giúp mở ra viễn cảnh kinh tế mới như cách mà
tự động hóa thay thế các bugi lỗi và các vùng bây giờ phải khám phá xem các cây dược phẩm (cây sinh học, biến đổi gen) có thể thay thế hàng hóa ngô
Nếu đổi mới là nhiên liệu trong quá trình phát triển vùng, thì doanh nghiệp là động cơ biến ý tưởng và kiến thức thành công việc, thu nhập và sự giàu có
Trong khi đó các chiến lược phát triển trong quá khứ thường nhắm vào các công ty lớn, thì hiện nay các công ty nhỏ khởi nghiệp là những động lực để phát triển kinh tế trong thế
kỷ 21 Tầm quan trọng của đổi mới trong tăng trưởng kinh tế không phải là quan điểm mới Toàn cầu hóa làm cho các nền kinh tế sôi động liên tục thay đổi, một số công ty chết đi sẽ
có các công ty mới được sinh ra Dưới quan điểm này, chìa khóa cho sự phát triển là biến các ý tưởng mới thành sản phẩm thành công trên thị trường
11
Trang 12KHUNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÙNG
- Hướng thứ nhất, một số nhà kinh tế tập trung vào tầm quan trọng của các cụm, cho rằng sự tập trung của các doanh nghiệp tương tự tạo ra sức mạnh tổng hợp có thể thúc đẩy tăng trưởng (Porter 1998)
- Hướng thứ hai, mô tả một địa lý kinh tế mới, trong đó các tiện ích của vùng là các yếu tố quan trọng quyết định trong việc tạo ra nhóm các kỹ năng và vốn, có thể sinh ra ý tưởng và hoạt động kinh doanh mới, để phát triển nền kinh tế của một vùng (Krugman 1991)
- Hướng thứ ba, tập trung nhiều hơn vào các doanh nghiệp và đổi mới, cho rằng công nghệ mới mẻ và bầu không khí phù hợp có thể dẫn đến các doanh nghiệp khởi nghiệp mạnh mẽ và hiệu quả, thúc đẩy lợi ích kinh tế (Acs và Aruler 2004)
12
Trang 13CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG GIAI ĐOẠN 1: TUYỂN DỤNG CÔNG NGHIỆP
- Giai đoạn 1: Tuyển dụng công nghiệp và xây dựng khu công
nghiệp, các chiến lược đề ra tiêu chuẩn để xây dựng cơ sở xuất
khẩu của một vùng trong phần lớn thời kỳ hậu chiến
Vùng trong giai đoạn này đã tận dụng tối đa lợi thế lớn từ các
chương trình quốc gia được tài trợ, giúp cho các vùng chiến
đấu trong cuộc chiến tranh tuyển dụng
13
Trang 14CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG GIAI ĐOẠN 2: CẠNH TRANH BẰNG CHI PHÍ
- Giai đoạn 2: Vào những năm 1980, ngân sách liên bang cho phát triển kinh tế được thắt chặt và làn sóng bãi bỏ quy định bắt đầu, hợp nhất ngành và cắt giảm chi phí được đi đầu trong chiến lược phát triển vùng
Ví dụ, Rust Belt, với sự tập trung của các nhà máy thử nghiệm lâu đời đã phải vật lộn trong những năm 1980 khi làn sóng hợp nhất quét qua ngành ô tô, thép, và các ngành công nghiệp khác
14
Trang 15CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG GIAI ĐOẠN 3: NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÙNG
- Giai đoạn 3: Trong những năm 1990, toàn cầu hóa buộc các vùng phải tập trung vào các nguồn lợi thế cạnh tranh mới Các chiến lược mới để làm điều đó chính là khơi dậy sự đổi mới và thúc đẩy các doanh nghiệp khai thác tài sản nội sinh của vùng
Vì thị trường thay đổi nên mạnh mẽ và nhanh chóng, khả năng đổi mới và phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp ngày càng tạo ra sự khác biệt của vùng, giúp vùng có thể giữ khoảng cách với các vùng khác Vốn con người và giáo dục đại học giúp tạo ra tài sản quan trọng trong chiến lược này
15
Trang 16QUAN ĐIỂM MỚI TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG
Điều chỉnh chính sách với nền kinh tế mới
16
Trang 17CÁC BƯỚC CÓ THỂ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG
(1) Làm cho “năng lực cạnh tranh vùng” trở thành mục tiêu của chính sách phát triển quốc gia.
(2) Thiết kế nỗ lực mới giúp các vùng nắm bắt đổi mới
và phát triển doanh nghiệp trong vùng
(3) Tạo ra một hệ thống phân phối hiệu quả các chương trình phát triển quốc gia
17
Trang 18(1) LÀM CHO “NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÙNG” TRỞ THÀNH MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN QUỐC GIA.
- Cần xây dựng khung chính sách mạch lạc, nhận định lại về vai trò quốc gia, địa phương trong phát triển vùng
- Không có bộ nguyên tắc phát triển thống nhất cho yêu cầu này, trong bối cảnh hầu hết các chương trình được hướng dẫn, được tạo ra bởi pháp luật nên cần có những rà soát, sửa đổi trong các quy định pháp luật.
- Chính sách phát triển kinh tế quốc gia cần một mục đích và mục tiêu thống nhất gắn kết với chính sách phát triển vùng, giúp các vùng trong việc xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh.
18
Trang 19VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÙNG
19
- Xây dựng các cấu trúc hiệu quả cho quản trị vùng
- Đảm bảo sự hợp tác xuyên suốt giữa khu vực công và khu vực tư nhân là một khía cạnh quan trọng của chính phủ hiệu quả
- Chính quyền có thể phát triển các công cụ giúp các vùng hiểu được tài sản kinh tế độc đáo của họ để xây dựng chiến lược phát triển vùng hiệu quả
- Chính phủ có thể phát triển các công cụ phân tích hiệu quả giúp các vùng phát hiện ra lợi thế cạnh tranh của vùng.
- Chính phủ có thể thúc đẩy đổi mới bằng cách liên kết với người dân trong nghiên cứu khám phá xu hướng chiến lược phát triển vùng mới
Trang 20(2) THIẾT KẾ NỖ LỰC MỚI GIÚP CÁC VÙNG NẮM BẮT ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG VÙNG
Trang 21- Thiết lập hệ thống các số liệu chung để đo hiệu suất của các chương trình quốc gia nhằm phát triển vùng.
Trang 22MỤC TIÊU CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỸ TỪ 2010 ĐẾN NAY
- Ngày nay, hầu hết các chuyên gia có cái nhìn rộng hơn
về cách chính phủ định hình sự phát triển nói chung và
phát triển vùng nói riêng
- Theo GAO (General Accounting Office) các chương
trình phát triển kinh tế có thể mở rộng bao gồm các mục
sau đây: đào tạo lực lượng lao động, hỗ trợ kỹ thuật và
chuyển giao công nghệ, phát triển kinh doanh và các hình
thức cơ sở hạ tầng không bao gồm ở giai đoạn trước
22
Trang 23KẾT LUẬN
23