Tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt - bộ óc người vàthuộc tính của chính nó.. 1 Khái niệm về vật chất và ý thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ KINH TẾ SỐ
- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 1:
Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về
“Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức’’ để làm rõ: việc xây dựng lối sống tích cực của sinh viên là vô cùng quan trọng Liên hệ với sinh viên Lớp/Khoa và bản thân?
Họ và tên : Đặng Thanh Huyền
Ngành/Chuyên ngành : Thương mại điện tử
Lớp : TMĐT 15-01 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Hoàn
Trang 2Mục Lục
I.PHẦN LÝ LUẬN 4
1 1 Khái niệm về vật chất và ý thức 4
1.2 Nguồn gốc vật chất của ý thức và bản chất phản ánh sáng tạo của ý thức 7
1.3 Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng 9
1.3.1 Vật chất quyết định ý thức 9
1.3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất thể hiện: 12
II Phần thực tiễn - việc quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức’’ xây dựng lối sống tích cực của sinh viên là vô cùng quan trọng Liên hệ với sinh viên Lớp/Khoa và bản thân 16
2.1 Việc vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức’’ xây dựng lối sống tích cực của sinh viên là vô cùng quan trọng bởi: 16
2.1.1 Hiểu rõ vật chất quyết định ý thức giúp sinh viên có thế giới quan khoa học và tạo động lực phấn đấu trong cuộc sống Từ đó xây dựng lối sống tích cực và mục tiêu rõ ràng của sinh viên 16
2.1.2 Hiểu rõ ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất từ đó xây dựng lối sống tích cực của sinh viên là vô cùng quan trọng Giúp sinh viên phát huy tính năng động quan trọng của ý thức 17
2.2 Liên hệ với sinh viên khoa thương mại điện tử và bản thân 18
2.2.1 Phát huy tính năng động của ý thức trong việc thích nghi với hoàn cảnh mới 18
2.2.2 Sinh viên khoa thương mại điện tử và bản thân tôi nâng cao ý thức học tập và nghiên cứu khoa học bằng những hoạt động thực tế, ngược lại hoạt động thực tế rèn luyện ý thức học tập 18
2.3 Không ngừng học hỏi và cố gắng học tập trong bối cảnh mới chúng tôi sẽ trở thành người có bản lĩnh và thành công hơn trong hiện tại và tương lai 19
2.4 Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chúng ta phải nâng cao ý thức học tập nghiên cứu khoa học và rèn luyện bản thân 19
III KẾT LUẬN 20
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
1 Giáo trình Triết học Mác – Lênin.(GS.TS Phạm Văn Đức chủ biên Hà Nội,2019) 21
Trang 3MỞ ĐẦU
Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Đây
là vấn đề cơ sở, nền tảng, xuyên suốt mọi học thuyết triết học trong lịch sử, quyếtđịnh sự tồn tại của triết học Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề cơ bảntriết học quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của các triếtgia, xác định bản chất của các trường phái triết học Giải quyết vấn đề này là cơ sở,điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học, đồng thời quyết định
cách xem xét các vấn đề khác trong đời sống xã hội Các nhà kinh điển chủ nghĩa
Mác - Lênin do có lập trường duy vật, nắm vững phép biện chứng, kịp thời kháiquát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, nên đã khắc phục đượcnhững sai lầm, hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình và nêu lên nhữngquan điểm khoa học, khái quát đúng đắn về mặt triết học hai lĩnh vực lớn nhất củathế giới là vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng
Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau về bản chất, nhưng giữachúng luôn có mối quan hệ biện chứng Tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất
và ý thức thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt - bộ óc người vàthuộc tính của chính nó Do đó việc vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng về “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức’’ để làm rõ: việcxây dựng lối sống tích cực của sinh viên là vô cùng quan trọng Bởi vận dụng tích
cực linh hoạt “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức’’ vào cuộc sống
chúng ta sẽ cải tạo hiệu quả của quá trình hoạt động thực tiễn, đem lại nhiều ýnghĩa thiết thực với cuộc sống con người
Trang 4I.PHẦN LÝ LUẬN
1 1 Khái niệm về vật chất và ý thức
Phạm trù vật chất được V.I.Lênin định nghĩa như sau: “Vật chất là một phạmtrù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người ta trongcảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác” Ở định nghĩa này, như V.I.Lênin đã chỉ ra, khi vật chất đốilập với ý thức trong nhận thức luận, thì cái quan trọng để nhận biết nó chính làthuộc tính khách quan [1] Khách quan, theo V.I.Lênin, nghĩa là “cái đang tồn tạiđộc lập với loài người và với cảm giác của con người” [1] Trong đời sống xã hộithì “khách quan không phải theo ý nghĩa là một xã hội những sinh vật có ý thức,những con người có thể tồn tại và phát triển không phụ thuộc vào sự tồn tại củanhững sinh vật có ý thức, mà khách quan theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụthuộc vào ý thức xã hội của con người
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơ bảnsau: Thứ nhất, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụthuộc vào ý thức; Thứ hai, vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi bằngcách nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp) tác động lên giác quan của con người; Thứ
ba, vật chất là cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó. [1]
Với định nghĩa này, V.I.Lênin khẳng định thuộc tính chung nhất của vật chất là
sự tồn tại khách quan ở bên ngoài ý thức Tất cả những gì tồn tại bên ngoài vàkhông phụ thuộc vào ý thức (con người và loài người) đều thuộc phạm trù vật chất.Với những nội dung cơ bản như trên, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có nhiều ýnghĩa to lớn: Thứ nhất, định nghĩa đã chỉ ra rằng vật chất là thực tại khách quankhông phụ thuộc vào ý thức con người, kiên định và triệt để quan điểm nhấtnguyên của chủ nghĩa duy vật, vạch ra đường ranh giới với chủ nghĩa duy tâm vànhị nguyên luận [1] Thứ hai, định nghĩa đã chỉ ra rằng vật chất có thể được ý thức
Trang 5phản ánh, khẳng định năng lực nhận thức của con người, vạch ra đường ranh giớivới thuyết bất khả tri [1] Thứ ba, định nghĩa đã chỉ ra đặc tính duy nhất của vậtchất là tính thực tại khách quan, khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũđồng nhất vật chất với hình dạng cụ thể hoặc kết cấu của vật chất [1]
Trong quá tình khám phá thế giới khách quan, việc nhận thức sự vận động củavật chất trong các dạng khác nhau của nó, về thực chất là đồng nghĩa với nhận thứcbản thân vật chất “Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thểnhận thức được thông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vậnđộng; về một vật thể không vận động thì không có gì mà nói cả”
Với tính cách là thuộc tính bên trong, vốn có của vật chất, theo quan điểm củatriết học Mác - Lênin, vận động là sự tự vận động của vật chất, được tạo nên do sựtác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc của vật chất Điềunày trái ngược hoàn toàn với các quan điểm duy tâm hoặc siêu hình về vận động.Không có một sức mạnh nào nằm bên ngoài vật chất lại có thể khiến cho vật chấtvận động Vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt, cho nên vậnđộng với tính cách là phương thức tồn tại tất yếu của vật chất cũng không thể bịmất đi hoặc được sáng tạo ra
Thế giới vật chất tồn tại trong sự vận động vĩnh cửu của nó, song không cónghĩa là triết học Mác - Lênin phủ nhận hiện tượng đứng im của thế giới vật chất
[1] Ngược lại, triết học Mác - Lênin cho rằng quá trình vận động không ngừng củathế giới vật chất chẳng những không loại trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượngđứng im tương đối; không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự vậtnào tồn tại được [1] “Nhưng bất kỳ sự vận động tương đối riêng biệt nào cũng đều
có xu hướng khôi phục lại sự đứng im tương đối, sự cân bằng Khả năng đứng yêntương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu
Trang 6của sự phân hoá của vật chất” [1] Ph.Ăngghen khẳng định: “Mọi sự cân bằng chỉ
là tương đối và tạm thời” trong sự vận động tuyệt đối và vĩnh viễn của thế giới vậtchất [1]
Có thể chia vận động thành 5 hình thức cơ bản sau:
Thứ nhất, vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian).Thứ hai, vận động vật lý (vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện
tử, các quá trình nhiệt, điện, v.v.) [1]
Thứ ba, vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá học vàphân giải chất) [1]
Thứ tư, vận động sinh học (trao đổi chất giữ cơ thể sống và môi trường)
Thứ năm, vận động xã hội (sự thay đổi, thay thế của các quá trình xã hội của cáchình thái kinh tế - xã hội)
Với sự phân loại vận động của vật chất thành các hình thức xác định như trên,những hình thức này quan hệ với theo theo các nguyên tắc nhất định sau:
Thứ nhất, các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất [1] Từ vận động cơhọc đến vận động xã hội là sự khác nhau về trình độ của sự vận động Những trình
độ này tương ứng với trình độ của các kết cấu vật chất
Thứ hai, các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận độngthấp, bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn Trong khi đó cáchình thức vận động thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ởtrình độ cao hơn Bởi vậy, mọi sự quy giản các hình thức vận động cao về các hìnhthức vận động thấp là sai lầm [1]
Trang 7Thứ ba, trong sự tồn tại của mình, mỗi một sự vật đều có thể gắn liền với nhiềuhình thức vận động khác nhau [1]
1.2 Nguồn gốc vật chất của ý thức và bản chất phản ánh sáng tạo của ý thức
Ý thức là sự phản ánh của bộ óc con người đối với thế giới vật chất khách quan, làtổng hoà các quá trình tâm lý như cảm giác, tư duy, v.v., cũng là hạt nhân để conngười nhận thức về mình cũng như về thế giới Nói cách khác, ý thức là sự phảnánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo
- Nguồn gốc vật chất của ý thức
Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưngphải là của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổchức cao là bộ óc người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức làchức năng của bộ óc người Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạtđộng sinh lý thần kinh của bộ óc người, vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏihoạt động của bộ óc người
Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bênngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức
Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giaiđoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người Ýthức là ý thức của con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người
Ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh - phát triểnthành Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vậtchất, nội dung của nó là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh Nhưvậy, bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc là nguồn gốc tựnhiên của ý thức
Trang 8Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên rất quan trọng, không thểthiếu được, song chưa đủ [1] Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức lànhững tiền đề, nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ ócngười nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm của sựphát triển xã hội, và ngay từ đầu đã mang tính chất xã hội.
Ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo, biến đổi thế giới khách quancủa con người Quá trình hình thành ý thức là kết quả hoạt động chủ động của conngười Con người chỉ có ý thức do tác động vào thế giới Nói cách khác, ý thức chỉđược hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người Ph.Ăngghen viết:
“Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắtnguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhấtđúng về nguồn gốc của ngôn ngữ” Theo Mác, ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy,
là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ýthức [1]
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triểncủa ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh hiện thực kháchquan vào trong bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ýthức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
- Bản chất phản ánh năng động sáng tạo của ý thức và kết cấu của ý thức
Bản chất phản ánh năng động sáng tạo của ý thức
Triết học Mác - Lênin khẳng định ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vàotrong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo
Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là phải thừa nhận ý thức là sự phảnánh, là cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh - tức
Trang 9vật chất - tồn tại khách quan, ở ngoài và độc lập với cái phản ánh là ý thức Ý thức
là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, làthực tại chủ quan, không có tính vật chất
Tuy nhiên, ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ động, máy móc của sự vật,
mà ngược lại, là sự phản ánh có tính năng động, sáng tạo [1] Ý thức “chẳng quachỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ởtrong đó” Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Kết cấu và chức năng của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ với nhau Tuỳ theocách tiếp cận mà có thể chia kết cấu đó theo nhiều lát cắt khác nhau Ở đây có thểchia cấu trúc đó theo hai chiều sau đây:
Thứ nhất, theo chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tìnhcảm, niềm tin, lý trí, ý chí,… trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi
Thứ hai, theo chiều dọc: ý thức bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vôthức, v.v Tất cả những yếu tố đó cùng với những yếu tố khác quy định tính chấtphong phú, phức tạp trong thế giới tinh thần và hoạt động tinh thần của con người.gắn với đặc trưng của một hình thức vận động cơ bản
1.3 Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng.
Trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vậtchất
1.3.1 Vật chất quyết định ý thức
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin do có lập trường duy vật, nắm vữngphép biện chứng, kịp thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tựnhiên, nên đã khắc phục được những sai lầm, hạn chế của các quan niệm duy tâm,
Trang 10siêu hình và nêu lên những quan điểm khoa học, khái quát đúng đắn về mặt triếthọc hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới là vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng
[1]
Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau về bản chất, nhưng giữa chúngluôn có mối quan hệ biện chứng Về mặt nhận thức luận, cần quán triệt sâu sắc tưtưởng biện chứng của V.I Lênin, rằng "sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ýnghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trưởng hợp này chỉgiới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì làcái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó làtương đối" Ở đây, tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiệnqua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt - bộ óc người và thuộc tính củachính nó
Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tựnhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật chất
là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với
ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Bộ óc người là một dạng vật chất có tổ chứccao nhất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vàohoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan Sựvận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tưduy là bộ óc người Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt độngthực tiễn có tính xã hội - lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ýthức phản ảnh
"Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức" Ýthức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan Sự phát triển của hoạt động thực tiễn
cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và