H5: Hành Khí Của Cặp Tử Vi-Thiên Phủ Đối Xứng Qua Trục Dần-Thân Hình H5 tuy là giúp cho chúng ta dễ dàng nhìn thấy sự chuyển dịch của hành khí qua từng thời điểm [vị trí], cường độ của
Trang 11
Giải Mã Hai Sao Tử Phủ Trong Tử Vi - Hà Hưng Quốc
Như mọi người đều biết, cặp Tử Vi – Thiên Phủ đối xứng nhau qua trục Dần Thân khi được phân phối trên địa bàn của lá số Từng vị trí đối xứng của Tử Vi và Thiên Phủ được liệt kê trong H1 Trong bảng liệt kê này cho thấy khi Tử Vi ở Tí thì Thiên Phủ ở Thìn, khi Tử Vi ở Sửu thì Thiên Phủ ở Mão lần lượt từng cặp vị trí một
H1: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Tử Vi - Thiên Phủ
Phối tất cả những vị trí đối xứng lên địa bàn 12 cung của lá số thì chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H2 trích ra từ cuốn sách Tử Vi Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang
Trang 2Chuyển đổi địa bàn 12 cung hình vuông trở về lại 12 cung hình tròn rồi cho quỹ đạo của Tử Vi [TV1 cho tới TV12] nằm ở vòng ngoài đi thuận theo chiều kim đồng hồ và cho quỹ đạo của Thiên Phủ [TP1 cho tới TP12] nằm ở vòng trong đi ngược chiều kim đồng hồ chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H3 Tử Vi và Thiên Phủ cùng nằm trên trên trục Dần-Thân [TV1-TP1 ở Dần và TV7-TP7 ở Thân] còn tất cả những vị trí khác đều đối xứng qua trục Dần-Thân Thí dụ như Tử Vi ở Mão [TV2] đối xứng với Thiên Phủ ở Sửu [TP2] qua trục Dần-Thân, Tử Vi ở Thìn [TV3] đối xứng với Thiên Phủ ở Tí [TP3] qua trục Dần-Thân
Trang 33
H3: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Tử Vi-Thiên Phủ
Nhìn vào hình H3 không khó để chúng ta nhận ra là sự chuyển động của Tử Vi và Thiên Phủ khế hợp chặt chẽ và hoàn toàn với hai dòng vận hành trên Việt Dịch Đồ, hình H4
H4: Việt Dịch Đồ
Trang 44
(Nguồn: Việt Dịch của Hà Hưng Quốc)
Hai dòng vận hành này đại diện cho hai dòng hành khí, Hành Khí Âm (HKA) nằm bên trong [vòng màu xanh lá] chuyển động ngược kim đồng hồ và Hành Khí Dương (HKD) nằm bên ngoài [vòng màu đen] chuyển động thuận chiều kim đồng hồ
Như chúng ta đã biết Tí là vị trí “âm cực dương sinh” còn Ngọ là vị trí “dương cực âm sinh.” Nếu chúng ta gán một con số định lượng cường độ cho HKA và HKD ở mỗi vị trí [cũng là ở mỗi thời điểm trong chu kỳ sinh hoá trên Việt Dịch Đồ] thì con số nhỏ nhất sẽ nằm tại Tí và con
số lớn nhất sẽ nằm tại Ngọ cho HKD, và hoàn toàn ngược lại cho HKA Hãy cho con số nhỏ nhất đó là số không [0] và giả dụ thêm là sự thay đổi trong cường độ của hành khí từ một vị trí này sang vị trí kế bên là tăng thêm hay giảm bớt một đơn vị cường độ, và hãy cho đơn vị cường
độ đó là một [1], thì kết quả theo đó sẽ giống như hình H5 Dấu cộng [+] trước mỗi con số là để chỉ khí dương và dấu trừ [-] trước mỗi con số là để chỉ khí âm Cường độ của HKD tăng dần từ
Tí tới Ngọ và giảm dần từ Ngọ tới Tí, tăng dần từ +0 tới +6 và giảm dần từ +6 tới +0 Cường độ của HKA tăng dần từ Ngọ tới Tí và giảm dần từ Tí tới Ngọ, tăng dần từ -0 tới -6 và giảm dần từ -6 tới -0
H5: Hành Khí Của Cặp Tử Vi-Thiên Phủ
Đối Xứng Qua Trục Dần-Thân
Hình H5 tuy là giúp cho chúng ta dễ dàng nhìn thấy sự chuyển dịch của hành khí qua từng thời điểm [vị trí], cường độ của hành khí tại mỗi thời điểm và dạng biến đổi của dòng hành khí một cách tổng quát nhưng lại không giúp cho chúng ta dễ dàng nhận ra sự đối xứng của Tử Vi và Thiên Phủ được mã hoá trong từng cặp TV1-TP1, TV2-TP2, TV3-TP3 cho tới TV12-TP12
Trang 5Vi và Thiên Phủ tại Thân thì khoảng cách TV7-TP7 là 0 độ Và chiều dài của mỗi dây nối liền một TV với một TP đại diện cho một khoảng cách vừa nói Tưởng tượng một đường thẳng chạy
từ Dần tới Thân ở hai đầu của dãy sóng, xuyên qua Dần và Thân ở giữa, và chia dãy sóng thành hai phần trên và dưới Đường thẳng tưởng tượng này chính là trục đối xứng Dần-Thân Dãy sóng của cặp Tử Vi – Thiên Phủ có hình dạng giống như cấu trúc DNA cho nên chúng ta tạm gọi nó là DNA của cặp Tử Vi – Thiên Phủ
Trang 66
Như chúng ta được biết, bất cứ sao nào cũng đều có vị trí miếu địa, vượng địa, đắc địa hay hãm địa cho riêng nó Tử Vi và Thiên Phủ cũng không ngoại lệ Điều vướng mắc trong quá khứ tới hiện tại liên quan đến vấn đề này là không có có sự đồng thuận giữa những danh gia Tử Vi Không những họ không đồng thuận về vị trí miếu-vượng-đắc-hãm mà còn bất đồng ý kiến cả về bản chất âm dương, ngũ hành và xuất xứ của sao Tổng kết trong hình H7 cho thấy rõ đều này
H7: Vị Trí Miếu, Vượng, Đắc, Hãm Của Tử Vi Và Thiên Phủ
Câu hỏi là dựa vào nền tảng nào để quyết định tính chất miếu, vượng, đắc, hãm của một sao?
Có thể phát biểu một cách tổng quát thì hình như các danh gia Tử Vi tựa trên nền tảng ngũ hành phổ cập để quyết định tính chất miếu, vượng, đắc, hãm của một sao Nhưng dựa vào những gì vừa khám phá thì chúng ta có thể nói dường như Tử Vi và Thiên Phủ là hai sao được hư cấu trên nền tảng âm dương Mà đã là được cấu tạo trên nền tảng âm dương thì qui luật của âm dương tự
nó sẽ quyết định tính chất miếu, vượng, đắc, hãm chứ không thể nào quyết định bởi qui luật ngũ hành Đó là chưa nói tới sự sai lệch trong lý thuyết ngũ hành, đại diện là thuyết ngũ hành phổ cập ngày nay, đã làm “rối nùi” bộ môn Tử Vi và những sản phẩm lý học khác của đông phương [đã được tác giả chứng minh trong tập Giãi Mã Những Bí Ẩn Trong Tử Vi và trong một số tác phẩm khác]
Dựa vào sự quan sát và phán đoán trên, chúng ta có thể tiến hành kiểm nghiệm tính chất miếu, vượng, đắc, hãm của cặp sao Tử Vi – Thiên Phủ với thông tin đã có sẵn trong các hình H5 và H6
Trang 7hệ thời-không cho nên không thể xét hành khí của Tử Vi độc lập với hành khí của Thiên Phủ
Và tính đối xứng qua trục Dần-Thân chính là chìa khóa xác định sự tương tác của hai dòng hành khí đó Và hai chữ “bình hòa” là một chìa khóa khác Nếu chỉ “bình” thì chúng ta có thể xét cường độ hành khí của chúng độc lập với nhau được Nhưng khi đã có “hòa” thì chúng ta không thể Cho nên, nói một cách khác, chúng ta cần phải xét ảnh hưởng của hai dòng hành khí trong tương quan "hiệu ứng" cường độ ở tại mỗi thời điểm
Từ những thông tin trong hình H6 chúng ta có thể rút ra và kiến tạo đường biểu diễn MVĐH (miếu, vượng, đắc, hãm) của Tử Vi như cho thấy trong hình H8A
Trang 88
H8A: Đường Biểu Diễn MVĐH Của Tử Vi
Chưa Phối Các Điểm MVĐH
Nhìn vào đường biểu diễn MVĐH của Tử Vi trong hình H8A chúng ta nhận ra được:
• Tại vị trí Mão, cường độ hành khí của Tử Vi là +3 [TV2] và của Thiên Phủ là -3 [TP12], xem hình H6 Âm dương ngang nhau cho nên hiệu ứng tương tác của hai hành khí là 0 Nếu gọi hiệu ứng tương tác đó là F thì tại Mão F=0 Nếu cho đơn vị thời gian từ một vị trí này sang
vị trí kế tiếp là = 1 thì từ Dần đến Mão tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 = 0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Mão
• Tại vị trí Thìn, cường độ hành khí của Tử Vi là +4 [TV3] và của Thiên Phủ là -2 [TP11], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=+2 Từ Mão đến Thìn tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +2/1 =+2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “gia tăng” tại Thìn
• Tại vị trí Tỵ, cường độ hành khí của Tử Vi là +5 [TV4] và của Thiên Phủ là -1 [TP10], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi áp đảo Hiệu ứng tương tác F=+4 Từ Thìn đến Tỵ tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +4/1 =+4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng” đến chỗ “gia tăng nhanh” tại Tỵ
• Tại vị trí Ngọ, cường độ hành khí của Tử Vi là +6 [TV5] và của Thiên Phủ là -0 [TP9], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi áp đảo tối đa Hiệu ứng tương tác F=+6 Từ
Tỵ đến Ngọ tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +6/1 =+6 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng nhanh” đến chỗ “gia tăng nhanh hơn” tại Ngọ
• Tại vị trí Mùi, cường độ hành khí của Tử Vi là +5 [TV6] và của Thiên Phủ là -1 [TP8], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi áp đảo Hiệu ứng tương tác F=+4 Từ Ngọ đến Mùi tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +4/1 =+4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng nhanh hơn” đến chỗ “gia tăng chậm lại” tại Mùi
Trang 99
• Tại vị trí Thân, cường độ hành khí của Tử Vi là +4 [TV7] và của Thiên Phủ là -2 [TP7], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=+2 Từ Mùi đến Thân tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +2/1 =+2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng chậm lại” đến chỗ “gia tăng chậm lại hơn nữa” tại Thân
• Tại vị trí Dậu, cường độ hành khí của Tử Vi là +3 [TV8] và của Thiên Phủ là -3 [TP6], xem hình H6 Âm dương cân bằng Hiệu ứng tương tác F=0 Từ Thân đến Dậu tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 =0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Dậu
• Tại vị trí Tuất, cường độ hành khí của Tử Vi là +2 [TV9] và của Thiên Phủ là -4 [TP5], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-2 Từ Dậu đến Tuất tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -2/1 =-2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “giảm” tại Tuất
• Tại vị trí Hợi, cường độ hành khí của Tử Vi là +1 [TV10] và của Thiên Phủ là -5 [TP4], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-4 Từ Tuất đến Hợi tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -4/1 =-4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm” đến chỗ “giảm nhanh” tại Hợi
• Tại vị trí Tí, cường độ hành khí của Tử Vi là +0 [TV11] và của Thiên Phủ là -6 [TP3], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh tối đa Hiệu ứng tương tác F=-6
Từ Hợi đến Tí tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -6/1 =-6 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm nhanh” đến chỗ “giảm nhanh hơn” tại Tí
• Tại vị trí Sửu, cường độ hành khí của Tử Vi là +1 [TV12] và của Thiên Phủ là -5 [TP2], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-4 Từ
Tí đến Sửu tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -4/1 =-4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm nhanh hơn” đến chỗ “giảm chậm” tại Sửu
• Tại vị trí Dần, cường độ hành khí của Tử Vi là +2 [TV1] và của Thiên Phủ là -4 [TP1], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-2 Từ Sửu đến Dần tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -2/1 =-2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm chậm” đến chỗ “giảm chậm hơn” tại Dần
• Tại vị trí Mão, cường độ hành khí của Tử Vi là +3 [TV2] và của Thiên Phủ là -3 [TP12], xem hình H6 Âm dương ngang nhau cho nên hiệu ứng tương tác của hai hành khí là 0 Từ Dần đến Mão tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 = 0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Mão
Nó không khó cho chúng ta nhận ra là đường biểu diễn MVĐH trên cung cấp cho chúng ta một
cơ sở và qui luật để xác định vị trí miếu, vượng, đắc, hãm của Tử Vi Cơ sở đó vừa trình bày xong Còn qui luật thì như sau:
A Giai Đoạn Được Thời :
• Không tăng không giảm nên gọi là BÌNH HÒA
• Từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “gia tăng” nên gọi là VƯỢNG
• Từ chỗ “gia tăng” đến chỗ “gia tăng nhanh” nên gọi là MIẾU
• Từ chỗ “gia tăng nhanh” đến chỗ “gia tăng nhanh hơn” nên cũng gọi là MIẾU
Trang 10B Giai Đoạn Thất Thời:
• Không tăng không giảm nên gọi là BÌNH HÒA
• Từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “giảm” [nhưng vẫn khả quan hơn hết so với những vị trí khác nằm trên chiều tuột dốc] nên gọi là VƯỢNG
• Từ chỗ “giảm” đến chỗ “giảm nhanh” nên gọi là HÃM
• Từ chỗ “giảm nhanh” đến chỗ “giảm nhanh hơn” nên cũng gọi là HÃM
• Từ chỗ “giảm nhanh hơn” đến chỗ “giảm chậm” [dầu trong tình trạng xấu nhưng có dấu hiệu lạc quan] cho nên gọi là ĐẮC
• Từ chỗ “giảm chậm” đến chỗ “giảm chậm hơn” [dầu trong tình trạng xấu nhưng có dấu hiệu lạc quan hơn nữa] cho nên cũng gọi là ĐẮC
Với qui luật này chúng ta có thể phối MVĐH vào hình H8A để cho ra hình H8B bêb dưới
H8B: Đường Biểu Diễn MVĐH Của Tử Vi Sau Khi Phối Các Điểm MVĐH
So sánh kết quả xác định miếu, vượng, đắc, hãm cho từng vị trí của Tử Vi trong hình H8B với ý kiến tổng hợp từ 3 danh gia Tử Vi trong hình H7, chúng ta nhận thấy có sự đồng thuận là Tử Vi:
· Bình hòa tại Mão, Dậu;
Trang 1111
· Miếu tại Tỵ, Ngọ;
· Vượng tại Thìn, Tuất;
· Đắc tại Sửu, Mùi
Những vị trí còn lại có một sự bất đồng ý kiến rất rõ rệt, như cho thấy trong hình 8C
H8C: Đường Biểu Diễn MVĐH Của Tử Vi
So Sánh Những Vị Trí Bất Đồng Ý Kiến
Thứ nhất là ở hai vị trí Dần/Thân Các danh gia Tử Vi thì cho Tử Vi miếu địa tại Dần/Thân còn
lý thuyết giải mã thì cho rằng ở đó Tử Vi chỉ đắc địa thôi Nếu chấp nhận là Tử Vi bình hòa ở Mão/Dậu và miếu tại Tỵ/Ngọ đồng thời chấp nhận hành khí là một chuyển dịch liên tục và có qui luật thì làm sao Tử Vi có thể “đột nhiên” miếu tại Dần/Thân rồi tiếp theo lại đột nhiên bình hòa cho được?? Trừ khi ý nghĩa miếu ở Dần/Thân hoàn toàn khác với ý nghĩa miếu ở Tỵ/Ngọ
Và nếu như thực sự là vậy thì ý nghĩa đó là gì? Phải chăng hai vị trí đó là điểm “threshold,” là
“ngưỡng cửa” của bước chuyển hoá đưa tới hướng chuyển dịch mới?? Nhìn lại Việt Dịch Đồ trong hình H4, quả thật Dần-Thân là trục Sinh-Tử, là hai điểm của sự chuyển hoá từ một hình thái này sang một hình thái khác Có lẽ đó là lý do tại sao Dần/Thân được nâng từ đắc địa lên miếu địa Và nếu quả đúng là như vậy thì chúng ta cần phải cẩn thận hơn với ý nghĩa miếu địa của Tử Vi vì miếu tại Tỵ/Ngọ là trong thế đã, đang và sẽ tiếp tục thắng lợi khác với miếu tại Dần là thế chuyển hóa tích cực [đi lên, tìm được sinh lộ, thoát ra khỏi đáy vực, hiển lộ] và khác với miếu tại Thân là thế chuyển hóa tiêu cực [xuống dốc, hết thời] Tuy nhiên nâng lên miếu địa thực sự không cần thiết vì Tử Vi đắc địa tại Dần/Thân vẫn là hợp lý hơn, dầu là nhìn vào Việt Dịch Đồ [H4] hay nhìn vào đường biểu diễn MVĐH [H8B]
Trang 1212
Thứ hai là ở hai vị trí Hợi/Tí Các Tử Vi gia không ai đồng ý với ai tại hai vị trí này Điều này cho thấy cái khung mà các danh gia Tử Vi dùng để xét miếu, vượng, đắc, hãm có vấn đề Riêng Vân Đằng Thái Thứ Lang thì cho là Tử Vi không còn lực tại Hợi/Tí nhưng vì nó ở ngôi thiên tử nên không thể có hãm địa vì thế đã nâng nó lên thành bình hòa Tại sao không thể có hãm địa?
Ở vào một vị trí “sức cùng lực kiệt” thì nơi đó không là hãm địa thì là gì? Chẳng lẽ chỉ vì khái niệm “vua” mà được “miễn nhiễm” với qui luật tự nhiên và vô tư của trời đất? Không phải là Lão Tử đã nói trong Đạo Đức Kinh “Trời đất coi thiên hạ như chó rơm” đó hay sao? Tử Vi hãm địa tại hai vị trí Hợi/Tí là một ý kiến không hẳn mới và cũng không phải là không có cơ sở Dựa vào những khám phá chúng ta đã đạt được thì Tử Vi hãm địa tại Hợi/Tí là một điều hoàn toàn hợp với qui luật tự nhiên và vô tư Hơn nữa, về mặt lý thì VĐ TTL đã công nhận thế cùng lực kiệt của Tử Vi tại Hợi/Tí dầu rằng trên mặt danh nghĩa đã nâng nó lên thành bình hòa
Ngoài ra thông tin trong hình H8B còn cho chúng ta những khám phá khác về những vị trí đắc địa và vượng địa của Tử Vi Vượng địa tại Thìn là cái thế vượng để tiếp tục đi lên theo hướng
có lợi khác với cái vượng địa tại Tuất là cái thế vượng còn sót lại trước khi tuột dài theo hướng bất lợi Đắc địa tại Mùi/Thân là cái thế đắc theo hướng thắng lợi đã tới chỗ sắp hết may mắn, khác với đắc địa tại Sửu/Dần là cái thế đắc theo hướng mất mát đã tới chỗ sắp hết xui rủi Tuy cùng được gọi là đắc hay vượng nhưng ý nghĩa thì khác nhau tùy vào vị trí
Trang 13• Tại vị trí Tuất, cường độ hành khí của Tử Vi là +2 [TV9] và của Thiên Phủ là -4 [TP5], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-2 Từ Dậu đến Tuất tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -2/1 =-2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “gia tăng” tại Tuất
• Tại vị trí Hợi, cường độ hành khí của Tử Vi là +1 [TV10] và của Thiên Phủ là -5 [TP4], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-4 Từ Tuất tới Hợi tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -4/1 =-4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng” đến chỗ “gia tăng nhanh” tại Hợi
• Tại vị trí Tí, cường độ hành khí của Tử Vi là +0 [TV11] và của Thiên Phủ là -6 [TP3], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh tối đa Hiệu ứng tương tác F=-6
Từ Hợi đến Tí tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -6/1 =-6 Như vậy, dF/dt từ chỗ “tăng nhanh nhanh” đến chỗ “gia tăng nhanh hơn nữa” tại Tí
• Tại vị trí Sửu, cường độ hành khí của Tử Vi là +1 [TV12] và của Thiên Phủ là -5 [TP2], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-4 Từ
Tí đến Sửu tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -4/1 =-4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng nhanh hơn nữa” đến chỗ “gia tăng chậm lại” tại Sửu
• Tại vị trí Dần, cường độ hành khí của Tử Vi là +2 [TV1] và của Thiên Phủ là -4 [TP1], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Phủ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-2 Từ Sửu đến Dần tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -2/1 =-2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng chậm lại” đến chỗ “gia tăng chậm hơn nữa” tại Dần
• Tại vị trí Mão, cường độ hành khí của Tử Vi là +3 [TV2] và của Thiên Phủ là -3 [TP12], xem hình H6 Âm dương ngang nhau cho nên hiệu ứng tương tác của hai hành khí là 0 Từ Dần đến Mão tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 = 0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Mão
• Tại vị trí Thìn, cường độ hành khí của Tử Vi là +4 [TV3] và của Thiên Phủ là -2 [TP11], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=+2 Từ Mão đến Thìn tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +2/1 =+2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “giảm” tại Thìn
• Tại vị trí Tỵ, cường độ hành khí của Tử Vi là +5 [TV4] và của Thiên Phủ là -1 [TP10], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi áp đảo Hiệu ứng tương tác F=+4 Từ Thìn đến Tỵ tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +4/1 =+4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm” đến chỗ “giảm nhanh” tại Tỵ
• Tại vị trí Ngọ, cường độ hành khí của Tử Vi là +6 [TV5] và của Thiên Phủ là -0 [TP9], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi áp đảo tối đa Hiệu ứng tương tác F=+6 Từ
Tỵ đến Ngọ tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +6/1 =+6 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm nhanh” đến chỗ “giảm nhanh hơn” tại Ngọ
Trang 1414
• Tại vị trí Mùi, cường độ hành khí của Tử Vi là +5 [TV6] và của Thiên Phủ là -1 [TP8], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi áp đảo Hiệu ứng tương tác F=+4 Từ Ngọ đến Mùi tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +4/1 =+4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm nhanh hơn” đến chỗ “giảm chậm lại” tại Mùi
• Tại vị trí Thân, cường độ hành khí của Tử Vi là +4 [TV7] và của Thiên Phủ là -2 [TP7], xem hình H6 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=+2 Từ Mùi đến Thân tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +2/1 =+2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm chậm lại” đến chỗ “giảm chậm hơn nữa” tại Thân
• Tại vị trí Dậu, cường độ hành khí của Tử Vi là +3 [TV8] và của Thiên Phủ là -3 [TP6], xem Âm dương cân bằng Hiệu ứng tương tác F=0 Từ Thân đến Dậu tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 =0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Dậu
Áp dụng cùng một qui luật đã thiết lập như đã áp dụng cho Tử Vi, chúng ta thấy Thiên Phủ:
• Miếu tại Tí, Hợi;
• Vượng tại Thìn, Tuất;
• Đắc tại Sửu, Mùi, Dần, Thân;
• Bình hòa tại Mão, Dậu; và
• Hãm tại Tỵ, Ngọ
So sánh kết quả rút ra từ đường biểu diễn MVĐH của Thiên Phủ trong hình H9A với kết quả trong bảng tổng hợp ý kiến của danh gia Tử Vi trong hình H7 chúng ta chỉ tìm thấy sự đồng thuận rõ rệt tại các vị trí Mão, Dậu, Thìn, Tuất và Tí còn những vị trí khác thì không, như cho thấy trong hình H9B
Trang 15và Thiên Phủ chỉ là hai mặt của một đồng tiền cho nên không có mặt này quý hơn mặt kia Hai mặt này thể hiện rõ nét trong tất cả các hình nhưng đặc biệt là hình H9A và H9B qua hai đường biểu diễn MVDH đối xứng xanh đỏ Những nốt nhấn này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là nếu Tử
Vi miếu tại Tỵ Ngọ thì Thiên Phủ phải Miếu tại Hợi/Tí Nó có nghĩa là khi có miếu thì cũng phải có hãm Mà chỗ hãm của Tử Vi chính là chỗ miếu của Thiên Phủ, và ngược lại Các danh gia đồng ý Thiên Phủ miếu tại Tí nhưng thiếu Hợi Tại sao? Dầu là vận dụng Bát Quái, Ngũ Hành, Âm Dương hay độ số thì đều thấy một khi Thiên Phủ đã miếu ở Tí rồi thì miếu ở Hợi là hoàn toàn hợp lý, nếu không muốn nói chắc là Thiên Phủ không thể không miếu tại Hợi Còn hai vị trí Dần Thân tại sao lại là "đột nhiên" miếu địa? Vấn đề có lẽ cũng khác với những gì đã nói khi xét nghiệm vị trí Dần Thân trên đường biểu diễn MVĐH của Tử Vi
Trang 1616
Giải Mã Hai Sao Âm Dương Trong Tử Vi - Hà Hưng Quốc
trở lại: Giải Mã Hai Sao Tử Phủ Trong Tử Vi
Cũng giống như Tử Vi – Thiên Phủ, cặp sao Thái Dương (TD) và Thái Âm (TA) đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi khi được phân phối trên địa bàn của lá số Từng vị trí đối xứng của TD–TA được liệt kê trong H11 Trong bảng liệt kê này cho thấy khi TD ở Sửu thì TA cũng ở Sửu, khi
TD ở Dần thì TA ở Tí lần lượt từng cặp vị trí một
H11: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thái Dương - Thái Âm
Phối tất cả những vị trí đối xứng lên địa bàn 12 cung của lá số thì chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H12
Trang 1717
H12: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thái Dương - Thái Âm
Xét nghiệm nội dung H11 và H12, không khó để chúng ta nhận ra rằng hai sao Thái Dương và Thái Âm chuyển động ngược chiều nhau Thái Dương chuyển động thuận chiều kim đồng hồ còn Thái Âm thì chuyển động ngược chiều kim đồng hồ
Chuyển đổi địa bàn 12 cung hình vuông trở về lại 12 cung hình tròn rồi cho quỹ đạo của Thái Dương [TD1 cho tới TD12] nằm ở vòng ngoài đi thuận theo chiều kim đồng hồ và cho quỹ đạo của Thái Âm [TA1 cho tới TA12] nằm ở vòng trong đi ngược chiều kim đồng hồ, chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H13 Thái Dương và Thái Âm cùng nằm trên trên trục Sửu Mùi [TD1-TA1 ở Sửu và TD7-TA7 ở Mùi] còn tất cả những vị trí khác đều đối xứng qua trục Sửu-Mùi Thí dụ như Thái Dương ở Dần [TD2] đối xứng với Thái Âm ở Tí [TA2] qua trục Sửu-Mùi, Thái Dương ở Mão [TD3] đối xứng với Thái Âm ở Hợi [TA3] qua trục
Trang 1818
H13: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thái Dương -Thái Âm
Nhìn vào hình H13, thêm một lần nữa không khó để chúng ta nhận ra là sự chuyển động của Thái Dương và Thái Âm khế hợp chặt chẽ và hoàn toàn với hai dòng vận hành trên Việt Dịch
Đồ, hình H14
H14: Việt Dịch Đồ (Nguồn: Việt Dịch của Hà Hưng Quốc)
Hai dòng vận hành này đại diện cho hai dòng hành khí, Hành Khí Âm (HKA) nằm bên trong [vòng màu xanh lá] chuyển động ngược kim đồng hồ và Hành Khí Dương (HKD) nằm bên ngoài [vòng màu đen] chuyển động thuận chiều kim đồng hồ
Trang 1919
Như chúng ta đã biết Tí là vị trí “âm cực dương sinh” còn Ngọ là vị trí “dương cực âm sinh.” Nếu chúng ta gán một con số định lượng cường độ cho HKA và HKD ở mỗi vị trí [cũng là ở mỗi thời điểm trong chu kỳ sinh hoá trên Việt Dịch Đồ] thì con số nhỏ nhất sẽ nằm tại Tí và con
số lớn nhất sẽ nằm tại Ngọ cho HKD, và hoàn toàn ngược lại cho HKA Hãy cho con số nhỏ nhất đó là số không [0] và giả dụ thêm là sự thay đổi trong cường độ của hành khí từ một vị trí này sang vị trí kế bên là tăng thêm hay giảm bớt một đơn vị cường độ, và hãy cho đơn vị cường
độ đó là một [1], thì kết quả theo đó sẽ giống như hình H15 Dấu cộng [+] trước mỗi con số là
để chỉ khí dương và dấu trừ [-] trước mỗi con số là để chỉ khí âm Cường độ của HKD tăng dần
từ Tí tới Ngọ và giảm dần từ Ngọ tới Tí, tăng dần từ +0 tới +6 và giảm dần từ +6 tới +0 Cường
độ của HKA tăng dần từ Ngọ tới Tí và giảm dần từ Tí tới Ngọ, tăng dần từ -0 tới -6 và giảm dần
từ -6 tới -0
H15: Hành Khí Của Cặp Thái Dương-Thái Âm
Đối Xứng Qua Trục Sửu Mùi
Hình H15 tuy là giúp cho chúng ta dễ dàng nhìn thấy sự chuyển dịch của hành khí qua từng thời điểm [vị trí], cường độ của hành khí tại mỗi thời điểm và dạng biến đổi của dòng hành khí một cách tổng quát nhưng lại không giúp cho chúng ta dễ dàng nhận ra sự đối xứng của Thái Dương
và Thái Âm được mã hoá trong từng cặp TD1-TA1, TD2-TA2, TD3-TA3 cho tới TA12 Để làm nổi lên yếu tố đối xứng, chúng ta có thể xếp đặt lại thông tin trong hình H15 một cách khác Và kết quả cho thấy giống như trong hình H16
Trang 20TD12-20
H16: DNA Của Cặp Thái Dương – Thái Âm
Đối Xứng Qua Trục Sửu Mùi
Dòng hành khí dương của sao Thái Dương và dòng hành khí âm của sao Thái Âm được trình bày dưới dạng dây sóng Mỗi chu kỳ của dây sóng Thái Dương chuyển dịch tuần tự từ TD1 tới TD12 Mỗi chu kỳ của dây sóng Thái Âm chuyển dịch tuần tự từ TA1 tới TA12 Hai dây sóng
đi ngược chiều nhau Và mỗi điểm TDn trên dây sóng Thái Dương được nối với một điểm TAn trên dây sóng Thái Âm và chúng đối xứng nhau qua trục Sửu-Mùi Dạng dây sóng của hai dòng hành khí được hình thành do “phiên dịch” khoảng cách giữa Thái Dương và Thái Âm ở mỗi thời điểm đối xứng qua trục Sửu-Mùi Có nghĩa là khi Thái Dương và Thiên Phủ cùng tại Sửu thì khoảng cách TD1-TA1 là 0 độ, Thái Dương tại Dần và Thái Âm tại Tí thì khoảng cách TD2-TA2 là 60 độ, Thái Dương tại Mão và Thái Âm tại Hợi thì khoảng cách TD3-TA3 là 120 độ, Thái Dương tại Thìn và Thái Âm tại Tuất thì khoảng cách TD4-TA4 là 180 độ, Thái Dương tại
Tỵ và Thái Âm tại Dậu thì khoảng cách TD5-TA5 là 120 độ, Thái Dương tại Ngọ và Thái Âm tại Thân thì khoảng cách TD6-TA6 là 60 độ, Thái Dương và Thái Âm tại Mùi thì khoảng cách TD7-TA7 là 0 độ Và chiều dài của mỗi dây nối liền một TD với một TA đại diện cho một khoảng cách vừa nói Tưởng tượng một đường thẳng chạy từ Sửu tới Mùi ở hai đầu của dãy sóng, xuyên qua Sửu và Mùi ở giữa, và chia dãy sóng thành hai phần trên và dưới Đường thẳng tưởng tượng này chính là trục đối xứng Sửu-Mùi Dãy sóng của cặp Thái Dương – Thái Âm có hình dạng giống như cấu trúc DNA cho nên chúng ta tạm gọi nó là DNA của cặp Thái Dương – Thái Âm
Như chúng ta được biết, bất cứ sao nào cũng đều có vị trí miếu địa, vượng địa, đắc địa hay hãm địa cho riêng nó Thái Dương và Thái Âm cũng không ngoại lệ
Trang 2121
Vị trí miếu, vượng, đắc, hãm của hai sao Thái Dương và Thái Âm mà chúng ta biết hiện nay có thể nói là đạt được sự đồng thuận của các danh gia Tử Vi ngoại trừ một vài bất đồng nhỏ Tổng kết trong hình H17 cho thấy điều này
H17: Vị Trí Miếu, Vượng, Đắc, Hãm Của Thái Dương Và Thái Âm
Giống như Tử Vi và Thiên Phủ, dựa vào những gì vừa được khám phá thì chúng ta cũng có thể nói dường như Thái Dương và Thái Âm là hai sao được hư cấu trên nền tảng âm dương Chúng đại diện cho cái gì thì chưa biết Nhưng đã là được cấu tạo trên nền tảng âm dương thì qui luật của âm dương tự nó sẽ quyết định tính chất miếu, vượng, đắc, hãm chứ không thể nào quyết định bởi qui luật ngũ hành Dựa vào sự quan sát và phán đoán này, chúng ta có thể tiến hành kiểm nghiệm tính chất miếu, vượng, đắc, hãm của cặp sao Thái Dương – Thái Âm với thông tin
đã có sẵn trong các hình H15 và H16
Khác với Tử Vi và Thiên Phủ, tuy là cặp Thái Dương - Thái Âm cũng là một cặp sao hư cấu của hai dòng hành khí vận hành ngược chiều trong cùng một hệ thời-không và tuy là tính đối xứng qua trục Sửu-Mùi là chìa khóa xác định sự tương tác của hai dòng hành khí đó nhưng nó không
có chiếc chìa khóa “bình hòa” như Tử Phủ cho nên chúng ta có thể xét cường độ hành khí của chúng độc lập với nhau được Nói một cách khác, tương tác của hai dòng hành khí âm dương này nằm ở một dạng khác, không giống như dạng tương tác củaTử Phủ
Từ những thông tin trong hình H16 chúng ta có thể rút ra và kiến tạo đường biểu diễn MVĐH (miếu, vượng, đắc, hãm) của Thái Dương và Thái Âm như cho thấy trong hình H18
Trang 2222
H18: Đường Biểu Diễn MVĐH của Thái Dương Và Thái Âm
Nhìn vào đường biểu diễn MVĐH của Thái Dương trong hình H18 chúng ta nhận ra được:
• Tại Tí cường độ hành khí của Thái Dương là +0 và liên tục tăng lên tại các vị trí Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ Tại Sửu cường độ hành khí của Thái Dương tăng trưởng nên cho là Đắc Tại Dần cường độ hành khí của Thái Dương hiển lộ nên cho là Vượng Tại Mão, Thìn cường độ hành khí của Thái Dương tiếp tục tăng trưởng nên cho là Vượng Tại Tỵ, Ngọ cường
độ hành khí của Thái Dương cực thịnh và tới đỉnh nên cho là miếu
• Tại Mùi cường độ hành khí của Thái Dương bắt đầu thoái giảm nhưng vẫn còn mạnh nên gọi là Đắc Tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí cường độ hành khí của Thái Dương liên tục thoái giảm nên cho là Hãm
Nhìn vào đường biểu diễn MVĐH của Thái Âm trong hình H18 chúng ta nhận ra được:
• Tại Ngọ cường độ hành khí của Thái Âm là -0 và liên tục tăng lên tại các vị trí Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí Tại Mùi cường độ hành khí của Thái Âm tăng trưởng nên cho là Đắc Tại Thân cường độ hành khí của Thái Âm hiển lộ nên cho là Vượng Tại Dậu, Tuất cường
độ hành khí của Thái Dương tiếp tục tăng trưởng nên cũng cho là Vượng Tại Hợi, Tí cường độ hành khí của Thái Âm cực thịnh và tới đỉnh nên cho là miếu
• Tại Sửu cường độ hành khí của Thái Âm bắt đầu thoái giảm nhưng vẫn còn mạnh nên cho là Đắc Tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ cường độ hành khí của Thái Âm liên tục thoái giảm nên cho là Hãm
Không khó cho chúng ta nhận ra là đường biểu diễn MVĐH của Thái Dương -Thái Âm trong hình H18 đã cung cấp cơ sở và qui luật hợp lý trong việc phân định những vị trí miếu, vượng, đắc, hãm của hai sao Thái Dương và Thái Âm Kết quả cho thấy nó trùng khớp với thông tin
Trang 23Câu hỏi được đặt ra là: mỗi cặp chánh tinh này thực ra là đại diện cho cái gì trong môn Tử
Vi???
Nhìn vào đường biểu diễn MVĐH của Thái Dương và Thái Âm chúng ta nhận thấy mỗi đường gồm có hai pha (2 phases) Một nữa là chiều tăng trưởng liên tục Một nửa kia là chiều thoái giảm liên tục Đường biểu diễn của Thái Dương và Thái Âm lại luôn luôn ở vào tình trạng trái ngược nhau, tức là khi đường biểu diễn MVĐH của Thái Dương đang ở pha tăng trưởng thì đường biểu diễn MVĐH của Thái Âm đang ở pha thoái giảm Và tính cách tương tác kiểu này giữa hai dòng hành khí rất giống với tính cách tương tác của Nhật Nguyệt
Có phải Thái Dương và Thái Âm đại diện cho Nhật Nguyệt? Trước khi trả lời, chúng ta hãy nhìn vào hình H19, nó là kết quả của việc tái cấu trúc lại toàn bộ thông tin có sẳn trong các hình H15, H16 và H18
H19: MVĐH của Thái Dương (Nhật) và Thái Âm (Nguyệt)
Trang 2424
Bên trong vòng tròn là hãm địa Bên ngoài vòng tròn là đất miếu vượng Từ Sửu đến Mùi, Thái
Âm hãm [bên trong vòng tròn] còn Thái Dương thì miếu vượng [bên ngoài vòng tròn] Từ Mùi đến Sửu, Thái Âm miếu vượng [bên ngoài vòng tròn] còn Thái Dương bị hãm [bên trong vòng tròn] Thái Dương và Thái Âm đích thực là đại diện cho Nhật Nguyệt
Đối chiếu với cặp Tử Vi – Thiên Phủ, chúng ta còn thấy Thái Dương tốt đẹp từ Sửu tới Mùi thì
Tử Vi cũng tốt đẹp từ Sửu tới Mùi Thái Âm tốt đẹp từ Mùi đến Sửu thì Thiên Phủ cũng tốt đẹp
từ Mùi đến Sửu Nói một cách khác, Thái Dương có sự tương thông với Tử Vi và Thái Âm có
sự tương thông với Thiên Phủ
Giải Mã Hai Sao Cơ Cự Trong Tử Vi - Hà Hưng Quốc
Giải Mã Hai Sao Âm Dương Trong Tử Vi
Cũng giống như hai cặp sao Tử Phủ và Âm Dương, cặp sao Thiên Cơ (TC) và Cự Môn (CM) đối xứng nhau qua trục Mão Dậu khi được phân phối trên địa bàn của lá số Từng vị trí đối xứng của TC–CM được liệt kê trong H21 Trong bảng liệt kê này cho thấy khi TC ở Mão thì
CM cũng ở Mão, khi TC ở Thìn thì CM ở Dần lần lượt từng cặp vị trí một
H21: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thiên Cơ - Cự Môn
Phối tất cả những vị trí đối xứng lên địa bàn 12 cung của lá số thì chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H22
Trang 2525
H22: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thiên Cơ - Cự Môn
Xét nghiệm nội dung H21 và H22, không khó để chúng ta nhận ra rằng hai sao Thiên Cơ và Cự Môn chuyển động ngược chiều nhau Thiên Cơ chuyển động thuận chiều kim đồng hồ còn Cự Môn thì chuyển động ngược chiều kim đồng hồ
Chuyển đổi địa bàn 12 cung hình vuông trở về lại 12 cung hình tròn rồi cho quỹ đạo của Thiên
Cơ [TC1 cho tới TC12] nằm ở vòng ngoài đi thuận theo chiều kim đồng hồ và cho quỹ đạo của
Cự Môn [CM1 cho tới CM12] nằm ở vòng trong đi ngược chiều kim đồng hồ, chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H23 Thiên Cơ và Cự Môn cùng nằm trên trên trục Mão Dậu [TC1-CM1 ở Mão và TC7-CM7 ở Dậu] còn tất cả những vị trí khác đều đối xứng qua trục Mão Dậu Thí dụ như Thiên Cơ ở Thìn [TC2] đối xứng với Cự Môn ở Dần [CM2] qua trục Mão Dậu, Thiên Cơ ở Tỵ [TC3] đối xứng với Cự Môn ở Sửu [CM3] qua trục
Trang 2626
H23: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thiên Cơ -Cự Môn
Nhìn vào hình H23, thêm một lần nữa không khó để chúng ta nhận ra là sự chuyển động của Thiên Cơ và Cự Môn khế hợp chặt chẽ và hoàn toàn với hai dòng vận hành trên Việt Dịch Đồ, hình H24
H24: Việt Dịch Đồ (Nguồn: Việt Dịch của Hà Hưng Quốc)
Trang 2727
Hai dòng vận hành này đại diện cho hai dòng hành khí, Hành Khí Âm (HKA) nằm bên trong [vòng màu xanh lá] chuyển động ngược kim đồng hồ và Hành Khí Dương (HKD) nằm bên ngoài [vòng màu đen] chuyển động thuận chiều kim đồng hồ
Như chúng ta đã biết Tí là vị trí “âm cực dương sinh” còn Ngọ là vị trí “dương cực âm sinh.” Nếu chúng ta gán một con số định lượng cường độ cho HKA và HKD ở mỗi vị trí [cũng là ở mỗi thời điểm trong chu kỳ sinh hoá trên Việt Dịch Đồ] thì con số nhỏ nhất sẽ nằm tại Tí và con
số lớn nhất sẽ nằm tại Ngọ cho HKD, và hoàn toàn ngược lại cho HKA Hãy cho con số nhỏ nhất đó là số không [0] và giả dụ thêm là sự thay đổi trong cường độ của hành khí từ một vị trí này sang vị trí kế bên là tăng thêm hay giảm bớt một đơn vị cường độ, và hãy cho đơn vị cường
độ đó là một [1], thì kết quả theo đó sẽ giống như hình H25 Dấu cộng [+] trước mỗi con số là
để chỉ khí dương và dấu trừ [-] trước mỗi con số là để chỉ khí âm Cường độ của HKD tăng dần
từ Tí tới Ngọ và giảm dần từ Ngọ tới Tí, tăng dần từ +0 tới +6 và giảm dần từ +6 tới +0 Cường
độ của HKA tăng dần từ Ngọ tới Tí và giảm dần từ Tí tới Ngọ, tăng dần từ -0 tới -6 và giảm dần
từ -6 tới -0
H25: Hành Khí Của Cặp Thiên Cơ - Cự Môn
Đối Xứng Qua Trục Mão Dậu
Hình H25 tuy là giúp cho chúng ta dễ dàng nhìn thấy sự chuyển dịch của hành khí qua từng thời điểm [vị trí], cường độ của hành khí tại mỗi thời điểm và dạng biến đổi của dòng hành khí một cách tổng quát nhưng lại không giúp cho chúng ta dễ dàng nhận ra sự đối xứng của Thiên Cơ và
Cự Môn được mã hoá trong từng cặp TC1-CM1, TC2-CM2, TC3-CM3 cho tới
Trang 2860 độ, Thiên Cơ tại Tỵ và Cự Môn tại Sửu thì khoảng cách TC3-CM3 là 120 độ, Thiên Cơ tại Ngọ và Cự Môn tại Tí thì khoảng cách TC4-CM4 là 180 độ, Thiên Cơ tại Mùi và Cự Môn tại Hợi thì khoảng cách TC5-CM5 là 120 độ, Thiên Cơ tại Thân và Cự Môn tại Tuất thì khoảng cách TC6-CM6 là 60 độ, Thiên Cơ và Cự Môn tại Dậu thì khoảng cách TC7-CM7 là 0 độ Và chiều dài của mỗi dây nối liền một TC với một CM đại diện cho một khoảng cách vừa nói Tưởng tượng một đường thẳng chạy từ Mão tới Dậu ở hai đầu của dãy sóng, xuyên qua Mão và Dậu ở giữa, và chia dãy sóng thành hai phần trên và dưới Đường thẳng tưởng tượng này chính
là trục đối xứng Mão Dậu Dãy sóng của cặp Thiên Cơ – Cự Môn có hình dạng giống như cấu trúc DNA cho nên chúng ta tạm gọi nó là DNA của cặp Thiên Cơ – Cự Môn
Trang 2929
Như chúng ta được biết, bất cứ sao nào cũng đều có vị trí miếu địa, vượng địa, đắc địa hay hãm địa cho riêng nó Thiên Cơ và Cự Môn cũng không ngoại lệ Vị trí miếu, vượng, đắc, hãm của hai sao Thiên Cơ và Cự Môn mà chúng ta biết hiện nay có thể nói là đạt được sự đồng thuận của các danh gia Tử Vi ngoại trừ một vài bất đồng nhỏ Tổng kết trong hình H27 cho thấy điều này
H27: Vị Trí Miếu, Vượng, Đắc, Hãm Của Thiên Cơ Và Cự Môn
Giống như Tử Phủ và Âm Dương, dựa vào những gì vừa được khám phá thì chúng ta cũng có thể nói dường như Thiên Cơ và Cự Môn là hai sao được hư cấu trên nền tảng âm dương Chúng đại diện cho cái gì thì chưa biết Nhưng đã là được cấu tạo trên nền tảng âm dương thì qui luật của âm dương tự nó sẽ quyết định tính chất miếu, vượng, đắc, hãm chứ không thể nào quyết định bởi qui luật ngũ hành Dựa vào sự quan sát và phán đoán này, chúng ta có thể tiến hành kiểm nghiệm tính chất miếu, vượng, đắc, hãm của cặp sao Thiên Cơ – Cự Môn với thông tin đã
có sẵn trong các hình H25 và H26
Khác với cặp Âm Dương, tuy Cơ Cự cũng là cặp sao hư cấu của hai dòng hành khí vận hành ngược chiều trong cùng một hệ thời-không với Âm Dương và tuy là cả hai đều không có chiếc chìa khóa “bình hòa” như Tử Phủ nhưng cặp Âm Dương đối xứng qua trục Sửu Mùi và nằm trước trục đối xứng Dần Thân của Tử Phủ 30 độ tính theo chiều kim đồng hồ còn Cơ Cự thì lại đối xứng qua trục Mão Dậu và nằm sau trục đối xứng Dần Thân của Tử Phủ 30 độ tính theo chiều kim đồng hồ] và khoảng cách giữa hai trục là 60 độ
Cũng khác với cặp Tử Phủ, tuy Cơ Cự cũng là một cặp sao hư cấu của hai dòng hành khí vận hành ngược chiều nhau cùng nằm trong một hệ thời-không với Tử Phủ và tuy đối xứng qua trục
là chìa khóa xác định sự tương tác của hai dòng hành khí đó nhưng Cơ Cự không có chiếc chìa
Trang 30Nói một cách khác, tương tác của hai dòng hành khí âm dương đại diện bởi cặp Cơ Cực này nằm ở một dạng khác, không giống như dạng tương tác của cặp Tử Phủ cũng không giống dạng tương tác của cặp Âm Dương
Từ những thông tin trong hình H26 chúng ta có thể rút ra và kiến tạo đường biểu diễn MVĐH (miếu, vượng, đắc, hãm) của Thiên Cơ Phối M, V, Đ, H vào những vị trí đúng theo nội dung của bảng tổng hợp từ các tử vi gia, xem H27, chúng ta sẽ có được kết quả giống như hình H28A
H28A: Đường Biểu Diễn MVĐH của Thiên Cơ
Nhìn vào đường biểu diễn MVĐH của Thiên Cơ trong hình H28A chúng ta nhận ra được:
• Tại vị trí Mão, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +3 [TC1] và của Cự Môn là -3 [CM1], xem hình H25 Âm dương ngang nhau cho nên hiệu ứng tương tác của hai hành khí là 0 Nếu gọi hiệu ứng tương tác đó là F thì tại Mão F=0 (< - - -|- - - >) Nếu cho đơn vị thời gian từ một
vị trí này sang vị trí kế tiếp là = 1 thì từ Dần đến Mão tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 = 0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Mão
• Tại vị trí Thìn, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +4 [TC2] và của Cự Môn là -2 [CM12], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Tử Vi mạnh hơn Hiệu ứng tương tác
Trang 3131
F=+2 (< - -|- - - - >) Từ Mão đến Thìn tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +2/1 =+2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “gia tăng” tại Thìn
• Tại vị trí Tỵ, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +5 [TC3] và của Cự Môn là -1 [CM11], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Cơ áp đảo Hiệu ứng tương tác F=+4 (< -|- -
- - - >) Từ Thìn đến Tỵ tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +4/1 =+4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng” đến chỗ “gia tăng nhanh” tại Tỵ
• Tại vị trí Ngọ, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +6 [TC4] và của Cự Môn là -0 [CM10], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Cơ áp đảo tối đa Hiệu ứng tương tác F=+6 (|- - - >) Từ Tỵ đến Ngọ tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +6/1 =+6 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng nhanh” đến chỗ “gia tăng nhanh hơn” tại Ngọ
• Tại vị trí Mùi, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +5 [TC5] và của Cự Môn là -1 [CM9], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Cơ áp đảo Hiệu ứng tương tác F=+4 (< -|- -
- - - >) Từ Ngọ đến Mùi tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +4/1 =+4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng nhanh hơn” đến chỗ “gia tăng chậm lại” tại Mùi
• Tại vị trí Thân, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +4 [TC6] và của Cự Môn là -2 [CM8], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Thiên Cơ mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=+2 (< - -|- - - - >) Từ Mùi đến Thân tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = +2/1 =+2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “gia tăng chậm lại” đến chỗ “gia tăng chậm lại hơn nữa” tại Thân
• Tại vị trí Dậu, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +3 [TC7] và của Cự Môn là -3 [CM7], xem hình H25 Âm dương cân bằng Hiệu ứng tương tác F=0 (< - - -|- - - >) Từ Thân đến Dậu
tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = 0/1 =0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Dậu
• Tại vị trí Tuất, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +2 [TC8] và của Cự Môn là -4 [CM6], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Cự Môn mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-2 (< -
- - -|- ->) Từ Dậu đến Tuất tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -2/1 =-2 Như vậy, dF/dt từ chỗ “không tăng không giảm” đến chỗ “giảm” tại Tuất
• Tại vị trí Hợi, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +1 [TC9] và của Cự Môn là -5 [CM5], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Cự Môn mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-4 (< -
- - - -|- >) Từ Tuất đến Hợi tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -4/1 =-4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm” đến chỗ “giảm nhanh” tại Hợi
• Tại vị trí Tí, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +0 [TC10] và của Cự Môn là -6 [CM4], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Cự Môn mạnh tối đa Hiệu ứng tương tác F=-6 (<
- - - -|) Từ Hợi đến Tí tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt
= -6/1 =-6 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm nhanh” đến chỗ “giảm nhanh hơn” tại Tí
• Tại vị trí Sửu, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +1 [TC11] và của Cự Môn là -5 [CM3], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Cự Môn mạnh hơn Hiệu ứng tương tác F=-4 (< - - - - -|- >) Từ Tí đến Sửu tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt = -4/1 =-4 Như vậy, dF/dt từ chỗ “giảm nhanh hơn” đến chỗ “giảm chậm” tại Sửu
• Tại vị trí Dần, cường độ hành khí của Thiên Cơ là +2 [TC12] và của Cự Môn là -4 [CM2], xem hình H25 Âm dương bất đồng, lực của Cự Môn mạnh hơn Hiệu ứng tương tác
Trang 32|- - - >) Từ Dần đến Mão tỉ lệ biến đổi của hiệu ứng tương tác trên biến đổi của thời gian dF/dt
= 0/1 = 0 Như vậy, dF/dt không tăng không giảm tại Mão
Đối chiếu, chúng ta thấy đường biểu diễn MVĐH của Thiên Cơ được cấu tạo và có đặc tính không khác với đường biểu diễn MVĐH của Tử Vi Tuy là vậy nhưng những điểm M, V, Đ, H của Thiên Cơ nằm trên đường biểu diễn thì lại gần như ngược hoàn toàn với của Tử Vi Sở dĩ
có sự khác biệt là vì MVĐH của Thiên Cơ được đặt trên cơ sở khác Và cơ sở đó như sau:
A Khi Hành Khí Của Thiên Cơ Mạnh Hơn Hành Khí Của Cự Môn:
1 dF/dt từ 0 cho đến +2 hoặc từ +2 cho đến 0: miếu;
2 dF/dt từ +2 cho đến +4 hoặc từ +4 cho đến +2: vượng;
3 dF/dt từ +4 cho tới +6 hoặc từ +6 cho đến +4: đắc;
4 dF/dt từ 0 cho tới -2 hoặc từ -2 cho đến 0: miếu
B Khi Hành Khí Của Cự Môn Mạnh Hơn Hành Khí Của Thiên Cơ:
1 dF/dt từ -2 cho tới -4 hoặc từ -4 cho đến -2: hãm;
2 dF/dt từ -4 cho tới -6 hoặc từ -6 cho đến -4: hãm
Xét từng vị trí một:
• Từ Mão qua Thìn thoả điều kiện A1 nên Miếu tại Thìn;
• Từ Thìn qua Tỵ thỏa điều kiện A2 nên Vượng tại Tỵ;
• Từ Tỵ qua Ngọ thỏa điều kiện A3 nên Đắc tại Ngọ;
• Từ Ngọ qua Mùi thỏa điều kiện A3 nên Đắc tại Mùi;
• Từ Mùi qua Thân thỏa điều kiện A2 nên Vượng tại Thân;
• Từ Thân qua Dậu thỏa điều kiện A1 nên Miếu tại Dậu;
• Từ Dậu qua Tuất thỏa điều kiện A4 nên Miếu tại Tuất;
• Từ Tuất qua Hợi thỏa điều kiện B1 nên Hãm tại Hợi;
• Từ Hợi qua Tí thỏa điều kiện B2 nên Hãm tại Tí;
• Từ Tí qua Sửu thỏa điều kiện B2 nên Hãm tại Sửu;
• Từ Sửu qua Dần thỏa điều kiện B1 nên Hãm tại Dần;
• Từ Dần qua Mão thỏa điều kiện A4 nên Miếu tại Mão
Kết quả cho thấy trong 6 điều kiện chỉ có điều kiện B2 là bị vi phạm Hay nói một cách khác, dùng cơ sở vừa trình bày để giải thích MVĐH thì sẽ không giải thích được tại sao Thiên Cơ lại đắc địa ở hai vị trí Tí Sửu nếu theo sát kết quả tổng hợp từ các tử vi gia
Trang 33H28B: Đường Biểu Diễn MVĐH của Thiên Cơ
Sau Khi Điều Chỉnh Tại Tí, Sửu
Cũng từ những thông tin trong hình H26 chúng ta có thể rút ra và kiến tạo đường biểu diễn MVĐH của Cự Môn Phối M, V, Đ, H vào những vị trí đúng theo nội dung của bảng tổng hợp
từ các tử vi gia, xem H27, chúng ta sẽ có được kết quả giống như hình H29A
Trang 3434
H29A: Đường Biểu Diễn MVĐH của Cự Môn
Thông tin trong hình H29A không cho chúng ta cái kết quả như mong đợi Sự phân phối của các điểm M, V, Đ, H không dựa trên cơ sở mà chúng ta đã trình bày trong phần giải thích MVĐH của Thiên Cơ Đúng ra Cự Môn phải cho thấy sự tương phản với Thiên Cơ mới là hợp
lý Thiên Cơ và Cự Môn là hai dòng hành khí ngược chiều nhau và tương tác nhau trên cùng một thời-không vì thế cái qui luật nào có thể giải thích được cho Thiên Cơ cũng phải giải thích được cho Cự Môn Tại sao lại như vậy? Những gì được các tử vi gia truyền lại từ trước có chính xác? Hay mô hình đã có gì không ổn? Người viết thực sự bị bế tắc!
Nhưng nếu có cái kết quả giống như mong đợi đó thì nó phải là thế nào? Theo phương pháp và
lý luận đang được sử dụng để giải mã thì sự phân phối các điểm M, V, Đ, H của Cự Môn sẽ phải được đặt trên cơ sở như sau:
C Khi Hành Khí Của Cự Môn Mạnh Hơn Hành Khí Của Thiên Cơ:
1 dF/dt từ 0 cho đến -2 hoặc từ -2 cho đến 0: miếu;
2 dF/dt từ -2 cho đến -4 hoặc từ -4 cho đến -2: vượng;
3 dF/dt từ -4 cho tới -6 hoặc từ -6 cho đến -4: đắc;
4 dF/dt từ 0 cho tới +2 hoặc từ +2 cho đến 0: miếu
D Khi Hành Khí Của Thiên Cơ Mạnh Hơn Hành Khí Của Cự Môn:
1 dF/dt từ +2 cho tới +4 hoặc từ +4 cho đến +2: hãm;
2 dF/dt từ +4 cho tới +6 hoặc từ +6 cho đến +4: hãm
Trang 3535
Và đường biểu diễn MVĐH với các điểm M, V, Đ, H được phân phối đúng theo lý thuyết sẽ giống như trong hình H29B
H29B: Đường Biểu Diễn MVĐH của Cự Môn
Sau Khi Điều Chỉnh
Trong 12 điểm phân phối đã có tới 5 điểm “sai rất nặng” khi so sánh giữa hình 29A với hình 29B, tức là so sánh MVĐH theo ý kiến các tử vi gia với MVĐH đến từ lý thuyết mà người viết đang sử dụng để giải mã Sai đến 41.6% không phải là một con số nhỏ để dễ dàng cho qua Cự Môn có thực sự hãm tại hai vị trí Thìn Tuất như các tử vi gia đã nói, hay là miếu như người viết
đã giải mã? Có thực sự đắc tại Sửu như các tử vi gia đã nói, hay là hãm như người viết đã giải mã? Có thực sự vượng tại Ngọ và đắc tại Thân như các tử vi gia đã nói, hay hãm tại hai vị trí
đó như người viết đã giải mã? Có những bằng chứng nào trong kho tàng của môn Tử Vi hổ trợ cho “cái khả dĩ” có thể nghiệm xét lại những gì đã được các tử vi gia đã chấp nhận từ trước đến giờ? Câu trả lời xin dành cho các tử vi gia và quí vị am tường còn tôi chỉ gợi ý Với người viết, Cự Môn và Thiên Cơ là hai dòng hành khí âm dương đối xứng và vận hành ngược chiều nhau Vận hành và tương tác trên cơ sở bình đẳng Do đó Cự Môn là bức ảnh đối chiếu của Thiên Cơ Sự phân phối của các điểm MVĐH cũng nằm trong lôgic đó
Đến đây có lẽ chúng ta cũng nên nhìn lại cả ba cặp Tử Phủ, Âm Dương và Cơ Cự để thử nhận xét về những đặc tính tổng quát của chúng Và những đặc tính đó chúng ta có thể tóm lược như sau:
• Tử Vi và Thiên Phủ là hai dòng hành khí âm dương vận hành ngược chiều nhau và đối xứng qua trục Dần Thân Dầu là đối xứng nhưng cường độ hành khí của Tử Vi không cân với cường độ hành khí của Thiên Phủ tại mỗi vị trí đối xứng, thể hiện rõ nét qua dây đối xứng TVn-
Trang 3636
TPn trong DNA của Tử Phủ, ngoại trừ vị trí đối xứng Tỵ Hợi Tử Phủ tương tác nhau và hiệu ứng của sự tương tác là cơ cơ sở cho MVĐH của Tử Phủ tại mỗi thời điểm Động thái của Tử Phủ là động thái quyết liệt tranh cường, lúc được thời cũng như lúc thất thời Lúc được thời, tức
là lúc hành khí đang mạnh hơn hành khí của đối phương, hiệu ứng tương tác diễn ra ở tốc độ càng nhanh thì càng hay Ngược lại, lúc thất thời, tức là lúc hành khí đang yếu hơn hành khí của đối phương, hiệu ứng tương tác diễn ra ở tốc độ càng chậm thì càng tốt Nhìn một cách khác, lúc được thời, đàn áp đối phương giành thắng lợi với tốc độ càng nhanh thì càng hay, đi từ vị thế bình hòa không đàn áp được đối phương (dF/dt = 0) tiến tới vị thế miếu đàn áp đối phương ở tốc
độ tối đa (dF/dt = 6) Lúc thất thời, kháng cự đối phương để kềm hãm tốc độ đàn áp, càng chậm càng tốt, đi từ vị thế bình hòa không bị đối phương đàn áp (dF/dt =0) lùi xuống tới thế hãm bị đối phương đàn áp tối đa (dF/dt = 6)
• Thái Dương và Thái Âm là hai dòng hành khí âm dương vận hành ngược chiều nhau và đối xứng qua trục Sửu Mùi Dầu là đối xứng nhưng cường độ hành khí của Thái Dương không cân với cường độ hành khí của Thái Âm, thể hiện qua dây đối xứng TDn-TAn trong DNA của
Âm Dương, ngoại trừ vị trí đối xứng Thìn Tuất Tuy Thái Dương và Thái Âm cũng tương tác nhau nhưng cường độ độc lập của mỗi hành khí lại là cơ sở cho MVĐH của Thái Dương và Thái
Âm tại mỗi thời điểm Động thái của Âm Dương là động thái điều độ, tiến thoái trong ổn định, tiên đoán được Trong chu kỳ một ngày đêm, có một nửa chu kỳ được thời và một nửa chu kỳ còn lại bị thất thời Lúc được thời thì từng bước đều đặn đi lên, từ hãm tới miếu Lúc thất thời thì cũng từng bước đều đặn lui xuống, từ miếu tới hãm Nhìn một cách khác, lúc được thời, không ỷ thế mà đàn áp đối phương Lúc thất thời, cũng không để đối phương ỷ thế mà đàn áp
• Thiên Cơ và Cự Môn là hai dòng hành khí âm dương vận hành ngược chiều nhau và đối xứng qua trục Mão Dậu Không những là đối xứng mà cường độ hành khí của Thiên Cơ còn cân bằng với cường độ hành khí của Cự Môn tại mỗi và tất cả vị trí đối xứng, thể hiện qua dây đối xứng TCn-CMn trong DNA của Cơ Cự, một sự cân xứng tuyệt đối Cơ Cự tương tác nhau
và hiệu ứng của sự tương tác là cơ cơ sở cho MVĐH của Cơ Cự tại mỗi thời điểm Động thái của Cơ Cự là động thái cố hướng tới sự cân bằng, chú trọng sự hoà thuận Lúc được thời, tức là lúc hành khí đang mạnh hơn hành khí của đối phương, hiệu ứng tương tác diễn ra ở tốc độ càng chậm thì càng hay [ngược với Tử Phủ] Ngược lại, lúc thất thời, hiệu ứng tương tác diễn ra ở tốc độ cao điều là không hay Nhìn một cách khác, lúc được thời, càng ít đàn áp đối phương thì càng hay, đi từ vị thế miếu không đàn áp đối phương (dF/dt = 0) tới vị thế đắc đàn áp đối thủ ở tốc độ tối đa (dF/dt = 6) Thất thời thì gần như hoàn toàn bất lợi, ngoại trừ ở vị thế bị áp lực nhẹ (dF/dt = -2) của đối phương Tinh thần và cách ứng xử của Cơ Cự gần như hoàn toàn ngược lại
Tử Phủ Tử Phủ muốn chứng tỏ uy quyền thống trị còn Cơ Cự muốn bày tỏ sự khiêm cung và bình đẳng [thể hiện qua cách miếu địa của Tử Phủ ở chỗ dF/dt = 6 còn cách miếu địa của Cơ Cự
ở chỗ dF/dt =0]
Trang 37
37
Giải Mã Hai Sao Cơ Cự Trong Tử Vi - Hà Hưng Quốc
Giải Mã Hai Sao Âm Dương Trong Tử Vi
Cũng giống như hai cặp sao Tử Phủ và Âm Dương, cặp sao Thiên Cơ (TC) và Cự Môn (CM) đối xứng nhau qua trục Mão Dậu khi được phân phối trên địa bàn của lá số Từng vị trí đối xứng của TC–CM được liệt kê trong H21 Trong bảng liệt kê này cho thấy khi TC ở Mão thì
CM cũng ở Mão, khi TC ở Thìn thì CM ở Dần lần lượt từng cặp vị trí một
H21: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thiên Cơ - Cự Môn
Phối tất cả những vị trí đối xứng lên địa bàn 12 cung của lá số thì chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H22
Trang 3838
H22: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thiên Cơ - Cự Môn
Xét nghiệm nội dung H21 và H22, không khó để chúng ta nhận ra rằng hai sao Thiên Cơ và Cự Môn chuyển động ngược chiều nhau Thiên Cơ chuyển động thuận chiều kim đồng hồ còn Cự Môn thì chuyển động ngược chiều kim đồng hồ
Chuyển đổi địa bàn 12 cung hình vuông trở về lại 12 cung hình tròn rồi cho quỹ đạo của Thiên
Cơ [TC1 cho tới TC12] nằm ở vòng ngoài đi thuận theo chiều kim đồng hồ và cho quỹ đạo của
Cự Môn [CM1 cho tới CM12] nằm ở vòng trong đi ngược chiều kim đồng hồ, chúng ta sẽ thấy kết quả giống như hình H23 Thiên Cơ và Cự Môn cùng nằm trên trên trục Mão Dậu [TC1-CM1 ở Mão và TC7-CM7 ở Dậu] còn tất cả những vị trí khác đều đối xứng qua trục Mão Dậu Thí dụ như Thiên Cơ ở Thìn [TC2] đối xứng với Cự Môn ở Dần [CM2] qua trục Mão Dậu, Thiên Cơ ở Tỵ [TC3] đối xứng với Cự Môn ở Sửu [CM3] qua trục
Trang 3939
H23: Vị Trí Đối Xứng Của Cặp Thiên Cơ -Cự Môn
Nhìn vào hình H23, thêm một lần nữa không khó để chúng ta nhận ra là sự chuyển động của Thiên Cơ và Cự Môn khế hợp chặt chẽ và hoàn toàn với hai dòng vận hành trên Việt Dịch Đồ, hình H24
H24: Việt Dịch Đồ (Nguồn: Việt Dịch của Hà Hưng Quốc)
Trang 4040
Hai dòng vận hành này đại diện cho hai dòng hành khí, Hành Khí Âm (HKA) nằm bên trong [vòng màu xanh lá] chuyển động ngược kim đồng hồ và Hành Khí Dương (HKD) nằm bên ngoài [vòng màu đen] chuyển động thuận chiều kim đồng hồ
Như chúng ta đã biết Tí là vị trí “âm cực dương sinh” còn Ngọ là vị trí “dương cực âm sinh.” Nếu chúng ta gán một con số định lượng cường độ cho HKA và HKD ở mỗi vị trí [cũng là ở mỗi thời điểm trong chu kỳ sinh hoá trên Việt Dịch Đồ] thì con số nhỏ nhất sẽ nằm tại Tí và con
số lớn nhất sẽ nằm tại Ngọ cho HKD, và hoàn toàn ngược lại cho HKA Hãy cho con số nhỏ nhất đó là số không [0] và giả dụ thêm là sự thay đổi trong cường độ của hành khí từ một vị trí này sang vị trí kế bên là tăng thêm hay giảm bớt một đơn vị cường độ, và hãy cho đơn vị cường
độ đó là một [1], thì kết quả theo đó sẽ giống như hình H25 Dấu cộng [+] trước mỗi con số là
để chỉ khí dương và dấu trừ [-] trước mỗi con số là để chỉ khí âm Cường độ của HKD tăng dần
từ Tí tới Ngọ và giảm dần từ Ngọ tới Tí, tăng dần từ +0 tới +6 và giảm dần từ +6 tới +0 Cường
độ của HKA tăng dần từ Ngọ tới Tí và giảm dần từ Tí tới Ngọ, tăng dần từ -0 tới -6 và giảm dần
từ -6 tới -0
H25: Hành Khí Của Cặp Thiên Cơ - Cự Môn
Đối Xứng Qua Trục Mão Dậu
Hình H25 tuy là giúp cho chúng ta dễ dàng nhìn thấy sự chuyển dịch của hành khí qua từng thời điểm [vị trí], cường độ của hành khí tại mỗi thời điểm và dạng biến đổi của dòng hành khí một cách tổng quát nhưng lại không giúp cho chúng ta dễ dàng nhận ra sự đối xứng của Thiên Cơ và
Cự Môn được mã hoá trong từng cặp TC1-CM1, TC2-CM2, TC3-CM3 cho tới CM12 Để làm nổi lên yếu tố đối xứng, chúng ta có thể xếp đặt lại thông tin trong hình H25 một cách khác Và kết quả cho thấy giống như trong hình H26