BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG KINH DOANH UEH MÔN HỌC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NÂNG CAO CHỦ ĐỀ 3 HUY ĐỘNG VỐN VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ MỘT CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM Giảng viên Lương Thị Thảo Mã lớp học phần 22D1FIN50500305 Thành viên nhóm 4 1 Nguyễn Bình Nhã Trúc ( nhóm trưởng) Email trucnguyen 31201021894st ueh edu vn Số điện thoại 0358440551 2 Phạm Nhật Tân 3 Lê Ngọc Dung 4 Vũ Anh Khoa 5 Nguyễn Đồng Phương Nguyên 6 Nguyễn Huyền Vy 7 Nguyễn Phương Mai mailto trucnguyen 31201021894.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG KINH DOANH UEH
- -MÔN HỌC: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NÂNG CAO
CHỦ ĐỀ 3: HUY ĐỘNG VỐN VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ MỘT CÔNG TY
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAMGiảng viên: Lương Thị Thảo
Trang 2MỤC LỤC
1.Tài trợ trong giai đoạn khởi sự và vốn mạo hiểm: 4
2 Phát hành ra công chúng: 6
3 Các phương thức phát hành thay thế: .7
4 Chào bán thông thường: 8
5 Thông báo phát hành cổ phần mới và giá trị của DN 10
6 Chi phí của các phát hành mới 11
6.1 Chi phí phát sinh một lần 11
6.2 Các khoản phí thường niên 12
6.3 Các khoản chi phí khác 12
7 Đặc quyền (rights) và bất thường về phát hành đặc quyền 12
7.1 Cơ chế phát hành đặc quyền: 12
7.2 Giá phát hành: 13
7.3 Số đặc quyền cần thiết để mua một cổ phần: 13
7.4 Ảnh hưởng của phát hành đặc quyền lên giá cổ phiếu: 14
7.5 Ảnh hưởng của phát hành đặc quyền lên các cổ đông: 15
7.6 Các thỏa thuận bảo lãnh phát hành: 16
7.7 Bất thường về phát hành đặc quyền: 16
8 Sự pha loãng: 17
8.1 Pha loãng tỷ lệ sở hữu: 18
8.2 Pha loãng giá cổ phiếu: 18
8.3 Giá trị sổ sách: 20
8.4 Thu nhập mỗi cổ phần: 20
9 Đăng ký sẵn (Shelf registration): 21
10 Phát hành nợ dài hạn : 22
Trang 311 Liên hệ một công ty niêm yết tại Việt Nam: 23
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC Thành viên
nhóm 4
Tự đánh giá
Nhóm trưởng đánh giá
Nguyễn Bình Nhã
Trúc
-Tổng hợp và dựng phần word-Nội dung: phần 4
-Thuyết trình: phần 4,5,6
Phạm Nhật Tân -Nội dung: phần 2,3 và một phần phần 11 100% 100%
Lê Ngọc Dung -Nội dung: phần 7
Trang 4CHỦ ĐỀ 3: HUY ĐỘNG VỐN VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ MỘT CÔNG TY
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
1 Tài trợ trong giai đoạn khởi sự và vốn mạo hiểm
- Các doanh nghiệp khi mới khởi sự không có tài sản và điều hành bởi doanh nhân không
có tên tuổi thì khó có thể tạo dựng nguồn vốn thông qua vay nợ ngân hàng Thay vào đó
họ tìm đến những nhà đâu tư thiên thần hay nhà đầu tư mạo hiểm
- Các nhà đầu tư mạo hiểm thường có các đặc điểm chung:
1.Các nhà đầu tư mạo hiểm là những định chế tài chính huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài
- Các nhà đầu tư mạo hiểm có sẵn vốn hoặc tổ chức huy động vốn thêm từ các nhà đầu tưkhác, sau đó sẽ đầu tư vào những dự án mới; được tổ chức dưới dạng những công ty hợpdanh hữu hạn (limited partnership)
2 Các nhà đầu tư mạo hiểm đóng vai trò năng động trong việc quan sát, tư vấn và giám sát các công ty mà họ đầu tư vào.
Trang 5- Không chỉ đơn thuần là rót vốn vào mà họ còn tham gia vào việc quan sát, tư vấn vàgiám sát công ty Vì đôi khi bản thân công ty tham gia vào vốn đầu tư mạo hiểm này bảnthân họ mới chỉ có ý tưởng kinh doanh mới, họ chưa có đủ vốn, kinh nghiệm quản lí,kinh nghiệm triển khai dự án vì vậy họ tìm đến các nhà đầu tư mạo hiểm để vừa có đượcvốn vừa có được kinh nghiệm đầu tư.
- Ví dụ, những thành viên của các quỹ đầu tư mạo hiểm thường tham gia vào hội đồngquản trị Chủ sở hữu của các quỹ đầu tư mạo hiểm thường khá lão luyện trong kinh doanh.Trái lại, những doanh nhân của các doanh nghiệp mới khởi sự có thể rất thông minh, sángtạo và am hiểu sản phẩm của họ nhưng lại thiếu kinh nghiệm kinh doanh
3 Các nhà đầu tư mạo hiểm thường không muốn sở hữu khoản đầu tư quá lâu.
- Nhà đầu tư sẽ đầu tư trong thời gian ngắn rồi thu hồi vốn lại, rủi ro luôn kèm theo vớilợi nhuận, những dự án tham gia đầu tư mạo hiểm thông thường có ý tưởng kinh doanhrất là mới lạ thông thường là đối với ý tưởng công nghệ do vậy nên tỷ suất sinh lợi có thểcao
- Các nhà đầu tư mạo hiểm thường sử dụng một chiến lược thoái vốn, chẳng hạn như bánkhoản đầu tư ra công chúng hoặc bán khoản đầu tư cho một doanh nghiệp khác
* Các giai đoạn tài trợ:
1 Giai đoạn gieo mầm (Seed money stage): Một khoản tài trợ nhỏ để minh
chứng cho một ý tưởng hay để phát triển một sản phẩm Vấn để tiếp thị
không nằm trong giai đoạn này
2 Khởi sự (Start-up): Đây là giai đoạn tài trợ cho các doanh nghiệp đã thành lập trong
năm trước Các khoản tài trợ này có thể dùng vào việc tiếp thị và chí
trả cho các chi phí phát triển sản phẩm
Trang 63 Tài trợ vòng đầu (First-round financing): Đầu tư thêm tiền để bắt đầu sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, sau khi doanh nghiệp đã chi tiêu hết phần tiền được tài trợ ở giai đoạn 2
4 Tài trợ vòng thứ hai (Second-round financing): Các khoản tiền tài trợ cho vốn luân
chuyển trong một doanh nghiệp đang bán sản phẩm nhưng thua lỗ
5 Tài trợ vòng thứ ba (Third-round financing): Tài trợ cho một doanh nghiệp,
mà doanh nghiệp đó ít nhất là đang hòa vốn và đang chuẩn bị mở rộng Giai
đoạn này còn được gọi là giai đoạn tài trợ “lửng” (mezzanine financing)
6 Tài trợ vòng thứ tư (Fourth-round financing): Tiền được cung cấp cho những doanh
nghiệp có khả năng phát hành ra công chúng trong vòng nửa năm
Vòng tài trợ này cũng được gọi là tài trợ “bắc cầu” (bridge financing)
*Một số sự thật về mạo hiểm:
- Việc tiếp cận vốn mạo hiểm rất hạn chế: ở Việt Nam, các dự án mới rất nhiều nhưng
khi kêu gọi đầu tư thì không phải lúc nào cũng được chấp nhận Đầu tư mạo hiểm rủi rocao nên nhà đầu tư phải lựa chọn dự án có tiềm năng
- Việc tiếp cận vốn mạo hiểm khá đắt đỏ: tức là chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để tiếp
cận được vốn đầu tư mạo hiểm: chi phí tìm kiếm nhà đầu tư, Những nhà đầu tư mạohiểm thường nắm giữ cổ phần ưu đãi có quyền biểu quyết loại có phần này dành cho họnhiều ưu tiên hơn trong trường hợp doanh nghiệp bị bán hoặc thanh lý Nhà đầu tư mạohiểm sẽ yêu cầu (và nắm giữ) một số vị trí trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp vàthậm chí có quyền bổ nhiệm một hay nhiệm thành viên của ban quản lý cấp cao
- Các nhà đầu tư mạo hiểm chủ yếu dựa vào mạng lưới không chính thống chẳng hạn như các kế toán, các ngân hàng, và những nhà đầu tư mạo hiểm khác để nhận diện cơ hội đầu tư tiềm năng Vì vậy, những mối quan hệ mang tính cá nhân thực sự
quan trọng để có thể tiếp cận được thị trường vốn mạo hiểm Có thể nói đây một thịtrường chủ yếu thông qua giới thiệu
Trang 72 Phát hành ra công chúng
- Trong giai đoạn phát triển, nếu các doanh nghiệp muốn thu hút nhiều vốn đầu tư, thì họ
sẽ phát hành các chứng khoán ra công chúng
- Những bước cơ bản để doanh nghiệp phát hành chứng khoán:
1 Trong bất kỳ đợt phát hành chứng khoán ra công chúng nào, ban quản lý phải nhậnđược sự chấp thuận từ hội đồng quản trị
2 Doanh nghiệp phải chuẩn bị và nộp một bản đăng ký cho SEC gồm các thông tin tàichính, lịch sử về tài chính, hoạt động kinh doanh,
3 Trong thời gian chờ đợi SEC xem xét doanh nghiệp có thể phân phối các bản sao củabản báo cáo bạch sơ bộ tới các nhà đầu tư Doanh nghiệp không được bán chứng khoántrong thời gian chờ đợi, chào bán bằng miệng vẫn có thể được thực hiện
4 Bản đăng ký ban đầu không bao gồm mức giá của phát hành mới Vào ngày bản đăng
ký có hiệu lực, mức giá phát hành được xác định và nỗ lực bán được bắt đầu
5 Những bản quảng cáo tóm tắt được sử dụng trong và sau thời gian chờ đợi Bản quảngcáo này gồm tên của doanh nghiệp phát hành, một số thông tin về đợt phát hành, liệt kêcác ngân hàng đầu tư ( nhà bảo lãnh phát hành) tham gia cung ứng đợt phát hành
3 Các phương thức phát hành thay thế
- Hai cách phát hành chứng khoán mới:
+ Phát hành rộng rãi ra công chúng ( public issue)
+ Phát hành riêng ( private issue)
- Hai loại chào báo ra công chúng: Chào bán thông thường ( general cash offer) và chàobán đặc quyền ( rights offer) Chào bán thông thường được phát hành cho tất cả các nhàđầu tư quan tâm, chào bán đặc quyền được phát hành cho những cổ đông hiện hữu
- Chào bán lần đầu ra công chúng ( IPO) thường là chào bán thông thường
Trang 8- Chào bán thêm cổ phần ( SEO) là một phát hành mới, mà tại đó các chứng khoán củadoanh nghiệp đã được phát hành ra công chúng trước đó Một đợt chào bán thêm cổ phầnthường có thể được thực hiện bằng chào bán thông thường hoặc chào bán đặc quyền.
4 Chào bán thông thường
- Chào bán thông thường là chào bán rộng rãi ra công chúng, thường có sự tham gia củacác tổ chức bảo lãnh phát hành
- Đối với những nhà phát hành là doanh nghiệp các ngân hàng đầu tư cung cấp các dịch
- Một số ngân hàng đầu tư có thể lập thành nhóm liên kết bảo lãnh nhằm chia sẻ rủi ro vàgiúp bán chứng khoán (giúp cho việc phân phối chứng khoán ra ngoài thị trường dễ dànghơn )
- Sự khác biệt giữa mức giá mà nhà bảo lãnh phải trả và chào bán được gọi là chênh lệchgộp hoặc chiết khấu bảo lãnh=> Đó là phần bù mà nhà bảo lãnh nhận được ( ngoài phầnchênh lệch gộp thì NBL có thể nhận các chứng quyền hoặc cổ phiếu)
B Nỗ lực tối đa:
Trang 9- Tổ chức bảo lãnh sẽ đóng vai trò là đại lý và nhận hoa hồng trên mỗi cổ phần bán được(Do tổ chức bảo lãnh không mua cổ phần nên sẽ không gánh chịu rủi ro như phương thứccam kết chắc chắn) Tuy nhiên, họ phải nỗ lực tối đa để bán chứng khoán tại mức giáchào bán đã được thỏa thuận trước
C Bảo lãnh đấu giá theo kiểu Hà Lan ( đấu giá có kết quả đồng nhất) :
- Tổ chức bảo lãnh tiến hành đấu giá thay vì đặt ra một mức giá cố định
- Trong cuộc đấu giá này, NDT sẽ đặt giá mua cho cổ phần từ đó xác định giá chàobán( giá chào bán sẽ là mức giá cao nhất mà tất cả cổ phần được bán)
- Ví dụ: Giả sử công ty A muốn bán 400 CP ra công chúng và nhận được 5 yêu cầu đặtmua như sau:
+ Tại P=$12, số CP thực sự được đặt mua là 500 CP Do đó ta phải tiến hành phân bổ, ta
có thể tính toán tỉ số giữa sổ CP được chào bán so với số CP được đặt mua
(400/500=0,8), ta sẽ phân bổ cho những người mua theo tỷ lệ 0,8 trên số CP mà họ đặt mua
→Kết luận: Người mua A,B,C,D sẽ nhận 80% số CP mà họ đặt mua tại mức giá P=$12
mỗi CP
Trang 10- Thời kỳ giao dịch trên thị trường thứ cấp là khoảng thời gian sau khi chứng khoán mới
phát hành được bán ra công chúng ( các tổ chức bảo lãnh thường không bán cổ phần mớiphát hành tại mức giá thấp hơn giá chào bán trong thời kỳ này)
- Trong hầu hết các đợt phát hành, nhà bảo lãnh chính sẽ được phép mua cổ phần nếu giáthị trường giảm xuống dưới mức giá chào bán nhằm hỗ trợ thị trường và giữ cho giá ổnđịnh trước các áp lực giảm giá tạm thời
- Nhiều hợp đồng bảo lãnh sẽ bao gồm các điều khoản
- Điều khoản Green Shoes:
+ Nếu giá thị trường> mức giá chào bán => Nhà bảo lãnh sẽ mua CP từ nhà phát hành vàbán cho công chúng
+ Cho phép thành viên nhóm bảo lãnh có quyền mua thêm cổ phần tại mức giá chào bánnhằm đáp ứng lượng cầu và tỷ lệ đặt mua quá mức
+ Điều khoản này có lợi cho tổ chức bảo lãnh nhưng lại gây tốn kém cho nhà phát hành
Điều khoản không được chuyển nhượng:
+Điều khoản này sẽ xác định rõ thời hạn mà những cổ đông nội bộ phải chờ sau khi IPO,trước khi họ được phép bán ra một số cổ phiếu của họ
( Điều khoản này đóng vai trò quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng giảm giá cổ phần donhững cổ đông nội bộ bán ra sau khi thời hạn không được chuyển nhượng kết thúc.)
*Các ngân hàng đầu tư:
-Các ngân hàng đầu tư là trung tâm của những đợt phát hành chứng khoán mới
- Họ cung cấp các dịch vụ tư vấn, bán chứng khoán ra thị trường và bảo lãnh số tiền thuđược từ đợt phát hành
Trang 11- Một doanh nghiệp có thể chào bán các chứng khoán cho nhà bảo lãnh trên cơ sở cạnhtranh hoặc thỏa thuận:
+Chào bán cạnh tranh: DN phát hành sẽ bán các chứng khoán cho nhà bảo lãnh nào cómức giá đặt mua cao nhất
+Chào bán thỏa thuận: DN phát hành chỉ làm việc với một nhà bảo lãnh=> thiếu tínhcạnh tranh
* Giá chào bán:
- Quy trình xác định giá chào bán đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình IPO
- Nếu xác định giá chào bán quá cao, chào bán có thể không thành công và phải hủy bỏ.Nếu xác định giá chào bán quá thấp, DN phát hành sẽ phải gánh chịu khoản lỗ cơ hội
- Quy trình xác định giá chào bán tốt nhất được gọi là xác định cầu (book-building): nhàđầu tư tiềm năng cam kết mua một lượng cổ phiếu nào đó tại các mức giá khác nhau
- Việc định giá thấp thì khá phổ biến:
+ Đối với IPO, thông thường giá CP tăng đáng kể sau ngày phát hành
+Định giá thấp giúp những cổ đông mới kiếm được tỷ suất sinh lợi cao hơn trên cổ phần
mà họ mua được
+Tuy nhiên, những cổ đông hiện hữu của DN phát hành không được lợi từ việc định giáthấp Đối với họ, định giá thấp là một chi phí gián tiếp của việc phát hành CK mới
+ Ví dụ: Đợt IPO của công ty A: Cổ phiếu có mức giá khi thị trường mở cửa là $33 và
tăng lên mức $35,99 trong ngày giao dịch đầu tiên, trước khi đóng cửa tại mức $34,19,tăng 3,6%=> Bị định giá thấp $1,19 mỗi cổ phần=> DN mất đi khoảng $569 triệu(=$1,19*478 triệu CP)
- Lý do định giá thấp:
Trang 12+Đặt mua quá mức : Những nhà đầu tư sẽ không thể mua được tất cả số cổ phần mà họmuốn mua do lượng đăng ký mua quá lớn=> các nhà bảo lãnh phát hành sẽ tiến hànhphân bổ cổ phiếu giữa các nhà đầu tư => Một nhà đầu tư đăng ký mua tất cả các đợt IPO
có thể được phân phối nhiều cổ phần hơn ở những đợt phát hành có giá giảm sau đónhưng lại được phân phối ít cổ phần hơn ở những đợt phát hành có giá tăng sau đó +Rủi ro: Mặc dù tính trung bình của các IPO có tỷ suất sinh lợi ngày đầu tiên là dương ,nhưng một phần đáng kể lại phải chịu sự giảm giá Điều này sẽ gây ra các khoản lỗ chonhà bảo lãnh phát hành đối với số cổ phần họ đang nắm giữ Bên cạnh đó, rủi ro nhà bảolãnh có thể bị khách hàng khởi kiện vì việc bán chứng khoán bị định giá cao
Ví dụ định giá thấp IPO: Công ty A và B thông báo IPO với P=40$/ cổ phần Một trong
2 công ty bị định giá thấp $9 và công ty còn lại bị định giá cao $4 Bạn định mua 1000
CP từ mỗi đợt phát hành Nếu là đợt phát hành bị định giá thấp => chỉ có ½ lệnh mua được thực hiện Nếu bạn mua được 1000 CP của A và 1000 CP của B, thì lợi nhuận của bạn là bao nhiêu? LN thực tế kỳ vọng là bao nhiêu?
Giải
Lợi nhuận= 1000*9 - 1000*4= 5000
Vì bạn chỉ có được ½ lệnh mua của đợt phát hành bị định giá thấp nên:
Lợi nhuận thực tế kỳ vọng = 500*9 - 1000*4= 500
5 Thông báo phát hành cổ phần mới và giá trị của DN
- Quy trình cơ bản cho một SEO (phát hành thêm) và một IPO là như nhau Tuy nhiên, có một điểm khác biệt xảy ra vào ngày thông báo đợt phát hành SEO
- Khi thông báo tài trợ vốn cổ phần mới được đưa ra, người ta nghĩ rằng giá trị thị trường của DN
sẽ gia tăng Như chúng ta đã xem xét, trên thực tế điều ngược lại đã xảy ra Một số nhà nghiên cứu đã báo cáo giá trị thị trường của vốn cổ phần của doanh nghiệp giảm đi vào đúng ngày thông báo phát hành cổ phần mới
- Giải thích cho sự lạ lùng này, bao gồm:
+ Thông tin quản lý: Nếu các nhà quản lý có thông tin tốt về giá trị thị trường của doanh nghiệp
họ sẽ biết được khi nào doanh nghiệp bị định giá cao, nên nỗ lực phát hành cổ phần mới khi giá
Trang 13trị thị trường cao hơn giá trị thực Nhưng những cổ đông tiềm năng không phải là ngốc ngách, họ
sẽ suy luận ra việc đánh giá cao từ quyết định phát hành mới Do đó họ sẽ đặt giá mua thấp hơn
và ngày thông báo phát hành
+ Khả năng vay nợ: Khi các nhà quản lý của doanh nghiệp có thông tin là xác suất kiệt quệ tài
chính đang gia tăng, doanh nghiệp có nhiều khả năng tăng tài trợ vốn thông qua việc phát hành
cổ phiếu hơn là phát hành nợ Nếu thị trường suy luận chuỗi sự kiện này, thì giá cổ phiếu sẽ giảmvào ngày thông báo phát hành vốn cổ phần mới
+ Chi phí phát hành: Có những chi phí đáng kể đi kèm với việc bán chứng khoán
Kết luận: Sự sụt giảm trong giá trị của các cổ phiếu hiện hữu khi thông báo phát hành mới được
đưa ra là một ví dụ về chi phí gián tiếp của việc bán chứng khoán, thông thường ở mức 3 % đối với một công ty công nghiệp (và nhỏ hơn đối với công ty dịch vụ công ích) Và sẽ gọi phần xút giảm là tỷ suất sinh lợi bất thường sẽ được thảo luận vì chi phí phát hành mới tiếp theo
6 Chi phí của các phát hành mới
- Có 6 loại chi phí khi phát hành các chứng khoán ra công chúng:
+ Chênh lệch gộp, hay chiết khấu bảo lãnh: là phần chênh lệch giữa giá mà nhà phát
hành nhận được và giá chào bán ra công chúng
+ Các chi phí trực tiếp khác: Do nhà phát hành gánh chịu, bao gồm phí nộp hồ sơ đăng
ký, chi phí pháp lý và thuế (tất cả đều được báo cáo trong bản cáo bạch)
+ Các chi phí gián tiếp: Không được báo cáo trong bản cáo bạch Thời gian mà ban
quản lý dành vào việc phát hành mới cũng thuộc vào loại chi phí này
+ Tỷ suất sinh lợi bất thường: Trong một đợt phát hành thêm, thông thường giá cổ phiếu
sẽ giảm 3 đến 4 % vào ngày thông báo phát hành
+ Định giá thấp: Đối với IPO, thông thường giá cổ phiếu gia tăng đáng kể sau này phát
hành Là chi phí đối với doanh nghiệp bởi vì cổ phiếu được bán với giá thấp hơn mức giá trên thị trường thứ cấp
+ Điều khoản ‘Green Shoe’:Điều khoản này dành cho nhà bảo lãnh quyền mua thêm cổ
phần tại mức giá chào bán để đáp ứng nhu cầu mua cổ phiếu quá mức Quyền này là một
Trang 14khoản chi phí đối với doanh nghiệp bởi vì nhà bảo lãnh sẽ chỉ mua thêm cổ phần khi giá chào bán thấp hơn giá trên thị trường thứ cấp.
- Một vài đặc điểm của các chi phí này:
+ Trừ một vài ngoại lệ đối với phát hành nợ đơn thuần thì các phát hành khác đều có lợi thế quy mô đáng kể Chênh lệch của nhà bảo lãnh nhỏ hơn khi quy mô phát hành lớn hơn,
và chi phí trực tiếp tính trên tổng vốn huy động sẽ giảm đáng kể - phản ánh bản chất hầu như cố định của những chi phí này
+ Các chi phí đi kèm với việc phát hành nợ thấp hơn đáng kể so với chi phí phát hành vốn cổ phần
+ Các IPO có chi phí cao hơn một chút so với các SEO
+ Chi phí phát hành trái phiếu đơn thuần sẽ rẻ hơn so với trái phiếu chuyển đổi
Ví dụ tính toán chi phí phát hành: Công ty N cần gia tăng thêm $45 triệu để tài trợ cho
việc mở rộng Công ty sẽ bán các cổ phần mới thông qua đợt chào bán thông thường để huy động vốn Nếu giá chào bán bằng $31 mỗi cổ phần và các nhà bảo lãnh tính một mứcchiết khấu bảo lãnh là 7%, có bao nhiêu cổ phần cần được bán ra?
7 Đặc quyền (rights) và bất thường về phát hành đặc quyền
- Khi cổ phần mới được phát hành ra công chúng trong một đợt SEO, thì một tỉ lệ sở hữucủa các cổ đông hiện hữu có khả năng bị sụt giảm Nhằm đảm bảo mỗi cổ đông có thểduy trì được một tỉ lệ sở hữu của mình, doanh nghiệp thường đưa ra ưu đãi quyền ưu tiênmua cổ phần Một đợt phát hành cổ phần thường cho các cổ đông hiện hữu được gọi làphát hành đặc quyền Trong đó mỗi cổ đông được phát hành một quyền chọn mua một số