Đặc điểm kịch cổ điển Ấn Độ Đến thời Kaliđasa, kịch cổ điển phát triển mạnh.. Để lại 3 vở kịch: Urơvaxi, Malavika, Sơkuntơla; 2 tập trường ca: Ragahuyansa Đời sau của Ragahu, Kumara
Trang 1Kaliđasa với vở kịch Sơkuntơla
Giáo trình: GS Lưu Đức Trung
Soạn giảng: Nguyễn Thanh Phong
Trang 21 Đặc điểm kịch cổ điển Ấn
Độ
Đến thời Kaliđasa, kịch cổ điển phát triển mạnh.
Nội dung:
- Thể hiện triết lý và tôn giáo Bàlamôn, lấy phân biệt đẳng cấp làm cơ sở xã hội, đề cao phạm trù
Nghiệp.
- Trình bày cho khán giả thấy cuộc đời là ảo mộng và giáo dục thái độ yêu ghét rõ ràng, phản ánh tình yêu thương và khí phách anh hùng Tiêu chuẩn rasa và
8 bhava (yêu, thương, vui, hùng, phục, giận, ghét, sợ).
Trang 3 Kết thúc kịch tránh cảnh tượng bi đát, rùng rợn, cần
có hậu để khán giả thêm tin yêu kình phục thần
thánh và quốc vương.
Thể loại kịch chưa phân chia rõ ràng, bố cục chưa chặt chẽ, ý niệm về màn lớp chưa rõ ràng, không
chú ý tính thống nhất thời gian và địa điểm.
Nhân vật chính là mẫu người lý tưởng; quân vương, anh hùng và thần thánh có đủ 3 tiêu chuẩn: tình
yêu, anh hùng, cao thượng.
Trang 4Ngôn ngữ có quy định: Nam dùng tiếng Sanskrit, nữ dùng tiếng Pracơrít, đối thoại dùng văn xuôi, độc
thoại dùng văn vần, ca múa phụ họa, vai hề gây
cười, dàn cảnh sơ sài nhưng y phục cầu kì.
Diễn trong cung đình hay sân nhà giàu sang, chưa
có rạp hát.
Hình thức kịch dân gian: Kịch Natraka, kịch Datara, kịch Lila.
Kết hợp quy phạm sân khấu triều và sân khấu dân gian.
Trang 52 Cuộc đời và tư tưởng của Kaliđasa
Ông sống đầu thế kỉ V, là 1 trong 9 viên ngọc quý tô điểm cho cung vua Vikramađitia
Theo truyền thuyết, Kaliđasa mất mẹ sớm, được người chăn bò nuôi, công chúa đem
lòng yêu mến
Ông tiếp thu những sáng tác văn học dân
gian, thần thoại, sử thi lưu truyền trước đó
Trang 6 Để lại 3 vở kịch: Urơvaxi, Malavika,
Sơkuntơla; 2 tập trường ca: Ragahuyansa
(Đời sau của Ragahu), Kumarasambhava
(Ngày sinh của Kumara) và một số thơ trữ
tình
Là vị chúa thơ trong nền văn học Ấn Độ, vận dụng hiệu quả thơ ca Sanskrit và văn học
dân gian Ấn Độ
Là tín đồ Bàlamôn, bị triết lý tôn giáo và quan điểm nghệ thuật của giai cấp thống trị chi
phối
Trang 73 Kịch Sơkuntala hay Chiếc nhẫn bị đánh rơi
1 Từ truyền thuyết đến kịch bản
Vở kịch bắt nguồn từ sử thi Mahabharata,
Kaliđasa đã cải biên, thêm thắt theo quan điểm của mình cho phù hợp quy phạm sân khấu
triều đình
Vở kịch có cả thơ và văn xuôi, 7 hồi và phần
giáo đầu
Trang 8 Kịch cổ Ấn Độ thường đề cập đến những mối tình hồn nhiên, trong sáng đầy ma lực như những tiếng sét ái tình mà người Ấn Độ cho là thiêng liêng cao quý
Trang 9 Kalidasa thường ca hát về những hoan lạc của tình yêu và vẻ đẹp thiên nhiên Dù chọn đề tài
từ những câu chuyện tôn giáo xa xưa nhưng
Kalidasa biết rót vào đấy những mật ngọt trần gian.
Vở kịch Shakuntala “Thể hiện cảm thức yêu
đương, từ tình yêu nhục thể đến tâm linh với
những biến chuyển tình cảm từ xao xuyến, nhớ nhung, buồn bã tủi nhục…đến hòa hợp vẹn
toàn
Nhận định của Nhật Chiêu
Trang 10 Kịch thơ Shakuntala đã gây ấn tượng mạnh nơi các nhà văn Đức, đại văn hào Đức
Johann Wolfgang Goethe ca ngợi:
- Nếu muốn có một tiếng ôm ấp được cả hoa mùa xuân và quả mùa thu/ Một
tiếng làm đắm say, nuôi dưỡng và thỏa mãn được tâm hồn/ Nếu muốn có một tiếng bao gồm được cả trời đất/ Thì tôi gọi Shakuntala/ Tiếng đó nói lên tất cả!
Trang 11Chào bình minh
(Kalidasa)
Hãy chăm chú vào ngày hôm nay, vì nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống
Nó tuy ngắn ngủi,
Nhưng chứa tất cả chân lý về đời ta:
Sự sung sướng khi tiến phát ,
Sự vẻ vang của hành động,
Sự rực rỡ của thành công
Vì hôm qua chỉ là giấc mộng, vì ngày mai chỉ là ảo tưởng
Nhưng hôm nay nếu sống đầy đủ ta sẽ thấy:
Hôm qua là một giấc mộng êm đềm
Và ngày mai là hình ảnh của hi vọng
Vậy ta hãy chăm chú kĩ vào hôm nay…
Trang 12Trích dịch vài hàng thơ Kàlidàsa :
Mấy giọt nước
Ngừng giây lát trên làn mi cong
Rồi rơi bắn xuống môi nàng
Rồi rơi vỡ trên đôi núm nhũ hoa
Cuối cùng
Vài giọt
Cũng đã tới đích
Yên nghỉ trong rốn ngọc bụng nàng
(Kamarasambhava-bản David Smith)
Trang 13* * *
Nàng như đoá hoa
chưa một ai được ngửi hương thơm, Nàng như tảng ngọc chưa ai cắt đẽo, Một cành vàng chưa ai níu kéo,
Mật ngọt, tinh tươi
Nhan sắc nàng,
chẳng một ai xứng đáng hưởng hơi!
Có chăng một đấng mày râu
Chu toàn nhân cách giữa đất trời
Mà người như thế biết tìm đâu!
Trang 14Khi nàng Indumati dạo gót ngọc tuyển phò mã qua đám hoàng tử xếp hàng cầu hôn
Khuôn mặt mỗi ông hoàng sáng lên
rồi tái lợt mất hồn
Giống như ta được xem
Lồng đèn lính canh đi qua từng hàng nhà
dãy phố ban đêm.
* * * Tôi cố vẽ dung nhan nàng
Vẽ cả thân tôi quỳ dưới gót chân loan
Mắt rơm rớm, xúc cảm chân thành
Vẫn khiến gã Yama ghen tuông bực tức
Cấm đôi ta gặp gỡ
Dù gặp gỡ trong tranh!
Trích Maghadùta
Trang 15Gái dậy thì thanh tân
Chưa giao hoan một lần
Biết chi chuyện tình dục
Biết gì thai nghén, lang quân !
Hàm răng đều bạch ngọc
Làn môi đỏ mặt trời hồng bình minh Bụng thon thon, vóc mảnh mai
Khép nép sợ sệt tựa con nai
Rốn ngọc sâu lõm
Bước khoan thai
Mông tròn đầy
Ngực lẩy ưỡn mình về trước,
Dáng vẻ như thế
Mới là mẫu tuyệt mỹ giai nhân.
Trang 16Cây bông súng hoa nở sớm mai
Chiều rồi
Chẳng muốn khép cánh
Nhưng cũng đành đóng cửa
Đuổi khách ong vo ve bay lượn vào chơi
Trang 17Duyên kỳ ngộ đẹp như một bản tình ca được
Kàlidàsa đưa vào kịch bản, nhan sắc cô gái trăng tròn ngây thơ mô tả qua lời nhà vua :
Như cành hoa mới hái vẫn chưa lành
Như nhánh bẻ rời mà nhựa ứa vẫn chưa khô!
Trang 18Nhà vua tuyệt vọng vì Shakuntalà cự tuyệt ban đầu :
Vòng hoa sen ngan ngát
Giữ hơi thơm cổ tay nàng
Nuôi dưỡng trái tim ta
Gìn giữ lòng ta, gã tù nhân vô vọng!
…Vòng hoa này từng nằm trên cánh tay ngà ngọc
toả muôn đời hương ngào ngạt tim ta
dẫu nàng chẳng ban cho đời này hạnh phúc
thì vòng sen kỷ vật chẳng bao giờ phôi pha!
Trang 19Hoa trắng tinh nõn nà
tựa vầng trăng mảnh mai
Phải chăng mặt Hằng nga vòm trời thiên thai ?
Trăng ngỡ cánh tay nàng ngà ngọc Nên bỏ trời vằng vặc
xuống phô sắc mọc bờ vai !