1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN MỚI Giảng viên: Nguyễn Văn Vũ An Bộ môn Tài chính – Ngân hàng

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 155,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự xuất hiện của trường phái xã hội loài người Trước bối cảnh đó, học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển không đủ sức bảo vệ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.Vì vậy cần phải có những lý

Trang 1

KQHT 8 CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN MỚI

Giảng viên: Nguyễn Văn Vũ An

Bộ môn Tài chính – Ngân hàng

Trang 2

I Sự xuất hiện của trường phái

xã hội loài người

Trước bối cảnh đó, học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển không đủ sức bảo vệ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.Vì vậy cần phải có những lý thuyết mới nhiều trường phái kinh tế mới xuất hiện, trong đó trường phái “cổ điển mới” (néoclassical school) giữ vai trò quan trọng

Trang 3

I Sự xuất hiện của trường phái

cổ điển mới

Trường phái “cổ điển mới” là khuynh hướng muốn cách tân và bổ khuyết cho học thuyết cổ điển về mặt nội dùng và phương pháp nghiên cứu

Trường phái “cổ điển mới” giữ vai trò thống trị vào những năm thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chia thành hai thời kỳ phát triển:

 Thời kỳ đầu (thế kỷ XIX): Ủng hộ tư tưởng tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế

 Thời kỳ sau (đầu thế kỷ XX): Do sự xuất hiện những hiện tượng kinh tế mới, độc quyền xen kẻ với tự do cạnh tranh, những nguyên nhân khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ,…

Trang 4

II Các lý thuyết kinh tế của trường

phái thành Vienne (Áo)

1 Định luật nhu cầu của Herman Grossen

Định luật 1: việc tiêu dùng 1 sản phẩm có khả năng đáp ứng như cầu, có tác dụng làm cho cường độ cảu nhu cầu giảm dần cuối cùng đi đến mất hẳn

Trang 5

1 Định luật nhu cầu của Herman Grossen

Định luật 2: Nếu biết cách tính toán con người

sẽ được thỏa mãn tốt nhu cầu

Trang 6

2 Lý thuyết sản phẩm kinh tế của

trường phái thành VienneCoi là sản phẩm KT khi:

 Có khả năng thỏa mãn nhu cầu

 Có khả năng sử dụng, chứ không phải ở dạng tiềm năng

 Con người biết công dụng của nó

 Trong tình trạng khan hiếm

Trang 7

3 Lý thuyết ích lợi giới hạn

Nhu cầu có cường độ khác nhau và giảm dần Vật đưa ra để thỏa mãn nhu cầu về sau càng ít ích lợi

Ích lợi giới hạn là ích lợi của vật nào đưa ra cuối cùng đưa ra thỏa mãn nhu cầu và có ích lợi nhỏ nhất quyết định ích lợi của tất cả các vật phẩm khác

Trang 8

4 Lý thuyết giá trị trao đổi

Theo K.Menger, khi trao đổi sản phẩm cho nhau thì cả hai đều tin rằng sản phẩm mình bỏ

ra đối với mình ít giá trị hơn sản phẩm mà mình thu về

K.Menger đưa ra hai điều kiện để hành vi trao đổi được thực hiện là:

 Cả hai người phải có lợi trong trao đổi

 Sản phẩm dư thừa của người này là khan hiếm của người kia và ngược lại

Trang 9

5 Lý luận giá trị của Bohn Bawerk và

Von WieserBohn Bawerk phân chia giá trị sử dụng và giá trị trao đổi thành 4 loại giá trị:

Trang 10

6 Sự tách rời giữa giá trị và ích lợiTheo ích lợi cận biên giảm dần, muốn có nhiều sản phẩm có giá tị thì phải tạo ra sự khan hiếm

Trang 11

III Các lý thuyết giới hạn ở Mỹ

Đại biểu cho trường phái “giới hạn” ở Mỹ là John Bates Clark (1847-1938), giáo sư đại học tổng hợp Colombia Ông chia kinh tế chính trị thành ba bộ phận: kinh tế tổng hợp, kinh tế động và kinh tế tỉnh

Trang 12

1 Lý thuyết “Năng suất giới hạn”

J B Clark cho rằng lợi ích của lao động thể hiện ở năng suất của nó Nhưng năng suất lao động có xu hướng giảm dần Do đó người công nhân cuối cùng là người công nhân giới hạn, năng suất lao động của họ là năng suất giới hạn Nó quyết định năng suất của tất cả các người khác

Trang 13

2 Lý thuyết phân phối của J B Clark

Theo ông, tham gia vào sản xuất có 2 nhân tố lao động và tư bản, chịu trách nhiệm sản xuất tạo ra giá trị và giá trị sử dụng Mỗi nhân tố có quyền hưởng thụ kết quả tạo ra gắn với năng suất giới hạn Đối với lao động họ sẽ nhận được tiền lương bằng sản phẩm giới hạn của

nó Phần còn lại là của nhà tư bản

Trang 14

IV Các lý thuyết kinh tế của trường

phái Laussanes ( Thuỵ sĩ )

Trang 15

2 Lý thuyết về giá cả

Léon Walras đã dùng thuật ngữ toán học để sử dụng hàm số cầu của cả hai bên là đạt được điểm cân bằng Ông cho rằng, trên điểm cân bằng ấy, tỉ lệ trao đổi của hai hàng hóa, hay tỉ

lệ giá cả, sẽ bằng tỉ lệ ích lợi giới hạn của chúng

Giá cả hay tương quan trao đổi, ngang bằng với tương quan nghịch đảo của số hàng hóa trao đổi cả hai điều tỉ lệ nghịch

Trang 16

3 Lý thuyết “Cân bằng tổng quát”

Trong cơ cấu nền KTTT có 3 loại TT:

 Thị trường sản phẩm (nơi mua bán HH, tương quan trao đổi là giá cả)

 Thị trường tư bản (nơi hỏi và vay tư bản, lãi suất

tư bản cho vay là giá tư bản)

 Thị trường lao động (nơi thuê mướn lao động, tiền lương hay tiền công là giá lao động)

Trang 17

3 Lý thuyết “Cân bằng tổng quát”

Ba TT này độc lập với nhau, nhưng nhờ hoạt động của doanh nhân nên có quan hệ với nhau

Ba TT đều đạt được trạng thái cân bằng  cân bằng tổng quát giữa các TT

Điều kiện cân bằng là sự cân bằng giữa thu nhập bán hàng và chi phí SX Trong nền KT tự

do cạnh tranh, trạng thái cân bằng có được dựa trên sự dao động tự phát của cung cầu và giá

cả hàng hóa trên TT

Trang 18

V Các lý thuyết kinh tế của trường

phái CambrigeĐại biểu cho trường phái này là ông Alfred Marshall (1842-1924), giáo sư trường đại học tổng hợp Cambridge Lý thuyết của ông là sự tổng hợp các lý thuyết đã có đầu thế kỷ XIX như lý thuyết: chi phí sản xuất, cung, cầu, năng suất bất tương xứng và những lý thuyết mới như: ích lợi giới hạn, năng suất giới hạn

Trang 19

1 Lý thuyết về của cải và nhu cầu

Theo A Marshall của cải bao gồm các vật trực tiếp hay gián tiếp thỏa mãn nhu cầu con người

Nhu cầu về một của cải là có giới hạn Ông viết: “Các nhu cầu và mong muốn của con người thì nhiều và thuộc các loại rất khác nhau, nhưng chúng thường bị hạn chế và có khả năng được thỏa mãn

Quy luật chung của cầu là số lượng cầu càng lớn thì giá cả càng phải nhỏ

Trang 20

2 Lý thuyết về sản xuất và các yếu tố

sản xuấtSản xuất theo ông là tạo ra các ích lợi, nó như một sự thay đổi hình thức hay sự thay đổi việc

sử dụng vật chất

Sản xuất theo ông là tạo ra các ích lợi, nó như một sự thay đổi hình thức hay sự thay đổi việc

sử dụng vật chất

Trang 21

3 Lý thuyết giá cả

Theo A Marshall giá cả là hình thức quan hệ

về mặt số lượng mà trong đó hàng hóa và tiền

tệ được trao đổi với nhau Theo ông trên thị trường có 3 loại giá cả:

 Giá bán (giá cung) do chi phí sản xuất quyết định

 Giá mua: Được quyết định bởi ích lợi giới hạn của hàng hóa

 Giá cả thị trường: Kết quả sự va chạm giữa giá bán

và giá mua, giữa cung và cầu

Trang 22

 Đối với cầu: cầu chịu sự tác động bởi nhiều nhân

tố như: thu nhập của dân cư, giá cả hàng hóa, tâm

lý tiêu dùng tiết kiệm…

 A Marshall còn đưa ra khía niệm về “độ co giãn của cầu”

Ngày đăng: 18/04/2022, 22:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Walras cho rằng: “Giá trị là những vật hữu hình hay vô hình ở trong tình trạng khan hiếm - CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN MỚI Giảng viên: Nguyễn Văn Vũ An Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
alras cho rằng: “Giá trị là những vật hữu hình hay vô hình ở trong tình trạng khan hiếm (Trang 14)
Theo A. Marshall giá cả là hình thức quan hệ về mặt số lượng mà trong đó hàng hóa và tiền  tệ  được  trao  đổi  với  nhau - CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN MỚI Giảng viên: Nguyễn Văn Vũ An Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
heo A. Marshall giá cả là hình thức quan hệ về mặt số lượng mà trong đó hàng hóa và tiền tệ được trao đổi với nhau (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w