Mục tiêu học tập Khi kết thúc bài giảng này, học viên sẽ có khả năng: • Nêu được 3 nhiễm trùng cơ hội NTCH mà điều trị ARV là 1 phần của công tác điều trị • Nêu được 4 NTCH mà khi bắt đầ
Trang 1Bắt đầu điều trị ARV khi
có nhiễm trùng cơ hội
ở trẻ em
HAIVN
Chương trình AIDS trường Y khoa
Harvard tại Việt Nam
Trang 2Mục tiêu học tập
Khi kết thúc bài giảng này, học viên sẽ có khả năng:
• Nêu được 3 nhiễm trùng cơ hội (NTCH) mà điều trị ARV là 1 phần của công tác điều trị
• Nêu được 4 NTCH mà khi bắt đầu điều trị ARV có
thể gây ra Hội chứng phục hồi miễn dịch (PHMD)
• Nêu được khuyến cáo của BYT về việc sử dụng NVP khi đang điều trị lao có rifampicin (RIF)
• Nêu được thời điểm và tình trạng lâm sàng tốt nhất
để có thể bắt đầu điều trị ARV trên 1 bệnh nhân
NTCH cấp
• Nêu tương tác thuốc giữa các thuốc kháng nấm và ít nhất 4 thuốc khác thường dùng cho bệnh nhân HIV
Trang 3Đại cương trình bày
• Giới thiệu
• Tương tác giữa NTCH và điều trị ARV
– NTCH mà ARV là điều trị đầu tay
– NTCH mà cần phải trì hoãn ARV
• Khi nào bắt đầu ARV sau một NTCH?
• Lao
– Khi nào bắt đầu ARV
– Phác đồ ARV
• Tương tác giữa các thuốc NTCH và những
thuốc khác thường dùng ở bệnh nhân HIV
Trang 4Bắt đầu ARV khi có nhiễm trùng
cơ hội
Giới thiệu
Trang 5Thuận lợi & Bất lợi khi bắt đầu
điều trị ARV với NTCH
– Số viên thuốc: tuân thủ
Nên nhớ: Việc bắt đầu ARV không bao giờ là một cấp cứu
(dù vậy bệnh nhân cũng không thể chờ quá lâu nếu tình trạng quá suy kiệt &
CD4 quá thấp)
Trang 6Nguyên tắc chung
• Số liệu cụ thể còn hạn chế để định hướng:
– Khi nào bắt đầu điều trị ARV ở trẻ có NTCH cấp tính– Xử trí điều trị ARV ra sao khi một NTCH xuất hiện trong thời gian trẻ đang dùng ARV
Trang 7– Đòi hỏi tùy từng trường hợp
– Thay đổi theo mức độ suy giảm miễn dịch của trẻ
trước khi điều trị ARV
• Trước khi bắt đầu điều trị ARV
– Bệnh nhân cần có đáp ứng với điều trị NTCH, lâm
sàng ổn
– Dung nạp với thuốc NTCH mà không có các tác dụng phụ (như phát ban)
Trang 8phác đồ thuốc NTCH cần dùng
• Nếu BN đang điều trị ARV, không ngưng điều trị
– Tiếp tục thuốc ARV đang dùng và bắt đầu điều trị
NTCH
– Đổi thuốc ARV nếu cần thiết để tránh tương tác với
thuốc điều trị NTCH
Trang 9Các NTCH nào mà ta có thể bắt
đầu điều trị ARV ngay?
Những NTCH mà cần có sự hồi phục của hệ miễn dịch thì mới cải thiện
Trang 10Các NTCH mà cần phải có ARV
như là một phần của điều trị
• Các tác nhân gây tiêu chảy: Cryptosporidium, Microsporidium
• Ung thư mô liên kết (sarcoma) Kaposi
• Bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển (PML)
• Những căn nguyên không nhiễm trùng như:
– Bệnh ác tính (u lympho, ung thư biểu mô)
Trang 11Những NTCH nào nên trì
hoãn điều trị ARV?
Các NTCH mà có thể gây ra Hội chứng Phục hồi miễn dịch (PHMD), hoặc việc điều trị có thể làm phức tạp thêm tương
tác thuốc với các ARV
Trang 12Các NTCH nên trì hoãn điều trị ARV
• Lao & các nhiễm trùng do Mycobacteria
Trang 13Bắt đầu điều trị ARV khi có
NTCH cấp
Nguyên tắc chung:
• Điều trị NTCH trước: bệnh nhân phải đáp ứng ĐT với
sự cải thiện triệu chứng NTCH và dung nạp thuốc
Trang 14• Nghiên cứu ngẫu nhiên điều trị ARV sớm (< 14 ngày)
hay trì hoãn (> 28 ngày) ở bệnh nhân có NTCH cấp tính hoặc nhiễm khuẩn nghiêm trọng
• 282 bệnh nhân được chọn vào:
– Loại trừ các bệnh nhân lao
– CD4 trung bình=29 tế bào/mm3, – Tải lượng virus = 5,07log
– ARV sớm: trung vị 12 ngày– ARV muộn: trung vị 45 ngày
Trang 15• Loại trừ bệnh nhân lao
Trang 16Kết luận: Dùng ARV sớm sau chẩn đoán NTCH làm giảm nguy
cơ tử vong hoặc bệnh nặng hơn trong năm đầu tiên điều trị
Điều trị ARV sớm hay muộn ở bệnh
Trang 17Bắt đầu điều trị ARV khi có
NTCH
Lao
Khi nào bắt đầu điều trị ARV?
Nên bắt đầu ARV nào?
Trang 18Điều trị ARV và lao:
Điều trị ARV sớm hay muộn
Nguy cơ của ARV sớm
Độc tính/dung nạp thuốc (độc
tính gan, bệnh TK ngoại biên
do INH & D4T, phản ứng quá mẫn)
Tương tác thuốc (RIF & các
đã sẵn sàng cho điều trị ARV
Lợi ích của ARV sớm:
• Lao liên quan đến tiến triển
bệnh HIV
• Làm giảm ARN HIV & làm
chậm tiến triển của HIV
• Làm giảm nguy cơ xuất
Trang 19HIV và lao: khi nào bắt đầu ARV
• Khi bệnh nhân mắc Lao = Đủ chỉ định điều trị ARV không cần xét nghiệm CD4
• Điều trị ARV ngay khi dung nạp với thuốc
lao, thường 2-4 tuần
• Các thể lao ngoài phổi nặng: Lao màng
não, Lao kê… nên trì hoãn điều trị nhưng
không quá 8 tuần sau khởi động điều trị
Lao
Trang 20
Dùng ARV nào?
• Nếu trẻ đang dùng ARV thì cứ tiếp tục
• Nếu phác đồ lao có RIF và trẻ đang dùng:
– Phác đồ không có NVP/LPV/r thì tiếp tục phác đồ ARV đó
– Phác đồ có NVP:
• Trẻ < 3 tuổi hoặc < 10 kg thể trọng: tiếp tục NVP hoặc thay bằng ABC
• Trẻ > 3 tuổi và > 10 kg thể trọng: thay NVP bằng EFV
• Nếu không có ABC và EFV: tiếp tục NVP– Phác đồ có LPV/r: bổ sung thêm ritonavir
• Tỷ lệ 1 LPV: 1 ritonavir
Trang 22Điều trị ARV với những
NTCH cấp tính khác
• Đối với những nhiễm trùng nặng như PCP
Penicillium, nhiễm khuẩn: có thể bắt đầu ARV sau
2 tuần nếu BN đáp ứng với ĐT NTCH và tình
trạng lâm sàng ổn
Đối với bệnh do candida miệng và thực quản, có thể bắt đầu ARV càng sớm càng tốt khi bệnh
nhân có thể nuốt được thuốc
Đối với những nhiễm trùng không mang tính toàn thân như giời leo, herpes simplex, các STD,
không có chống chỉ chỉ định bắt đầu điều trị ARV sớm
Trang 23Nghiên cứu trường hợp
• Một trẻ 4 tháng tuổi được mẹ đưa đến
phòng khám vì lý do chính là ho.
• Mẹ trẻ có HIV và đã được dự phòng
LTMC vài ngày trước khi chuyển dạ.
• Trẻ được dùng một số thuốc (mẹ không
nhớ được) trong vài ngày sau sinh.
• Mẹ trẻ không mua được sữa ngoài nên đã cho trẻ bú
Trang 24Nghiên cứu trường hợp
• Ho xuất hiện 2 tuần trước
85%, không ran, nhịp tim
nhanh nhưng không có
tiếng thổi
Trang 25Nghiên cứu trường hợp
• Chẩn đoán lâm sàng là PCP và điều trị bằng kết hợp Cotrimoxazole và methylprednisolon.
• Về điều trị ARV thì sao?
– Đợi để:
• Khẳng định tình trạng nhiễm HIV?
• Hoàn tất điều trị PCP?
• Đợi người mẹ chấp thuận?
• Đợi quyết định của Ban Xét duyệt?
• Lý do khác?
Trang 26Tương tác thuốc NTCH
• Một số thuốc NTCH có thể bị giảm nồng độ thuốc
trong máu do gia tăng chuyển hóa
Trang 27• Một số thuốc NTCH có thể bị giảm nồng độ thuốc
trong máu do giảm hấp thu
Trang 28Những điểm chính
• Đối với các NTCH không có điều trị đặc hiệu thì nên bắt đầu điều trị ARV càng sớm càng tốt
• Các tình trạng do rối loạn điều hòa miễn dịch
(bệnh ác tính, bệnh tự miễn) sẽ cải thiện khi điều trị ARV
• Nếu CD4 > mức “nặng” có thể trì hoãn điều trị
ARV cho đến khi hoàn thành điều trị NTCH
• Nếu CD4 < mức “nặng” thì nên bắt đầu điều trị
ARV sớm hơn, và phải theo dõi cẩn thận độc tính của thuốc và HC PHMD
• Cần phải biết nguy cơ tương tác thuốc giữa các thuốc NTCH và ARV
Trang 29Cảm ơn
Câu hỏi?