Khái niệm sở hữu chéo Sở hữu chéo là một loại sắp xếp doanh nghiệp, trong đó một thực thể duy nhất sởhữu hai hoặc nhiều doanh nghiệp hoạt động trong thị trường chung giống nhau.Thuật ngữ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU CHÉO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1 Khái niệm sở hữu chéo và sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại 3
1.1 Khái niệm sở hữu chéo 3
1.2 Nguồn gốc xuất hiện sở hữu chéo 3
1.3 Sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại 4
2 Phân loại sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại 7
3 Nguyên nhân hình thành sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại 9
3.1 Các quy định của Chính phủ về mức vốn điều lệ tối thiếu 9
3.2 Pháp luật về ngân hàng ở nước ta còn tồn tại nhiều kẽ hở 10
3.3 Thị trường vốn còn kém phát triển 11
3.4 Thiếu vắng nguồn nhân lực quản lý cấp cao tại các ngân hàng có quy mô nhỏ 11
3.5 Nhu cầu mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực khác, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh 11
3.6 Nhu cầu thu hút nguồn vốn và công nghệ từ các ngân hàng mạnh 12
3.7 Chất lượng quản trị doanh nghiệp trong ngân hàng không đạt yêu cầu 12
3.8 Đầu tư vốn vào các NHTM hoặc ngân hàng liên doanh của ngân hàng thuộc Nhà nước 12
4 Tác động của sở hữu chéo tới Ngân hàng thương mại 13
4.1 Tác động tích cực 13
4.2 Tác động tiêu cực 14
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 18
1 Các quy định pháp lý về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam 18
1.1 Quy định về thành lập, sở hữu, đầu tư và cấp tín dụng đối với ngân hàng thương mại 18
1.2 Quy định về quản trị doanh nghiệp, giám sát và công bố thông tin 22
1.3 Quy định về kiểm soát tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại 24
2 Thực trạng sở hữu chéo của các ngân hàng thương mại Việt Nam 25
2.1 Trước khi Thông tư 36/2014/TT-NHNN được ban hành 25
2.2 Sau khi Thông tư 36/2014/TT-NHNN được ban hành 26
3 Giải pháp khắc phục tình trạng sở hữu chéo của ngân hàng thương mại 28
KẾT LUẬN 32
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang trong quá trình tái cơ cấu toàn diện hướng tới cải thiện hiệu quả hoạt động, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập mới Một trong những vấn đề đáng chú ý trong hệ thống NHTM Việt Nam là vấn đề cấu trúc sở hữu, trong đó có sở hữu chéo Đối với các quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc vào vốn tín dụng thì sở hữu chéo được coi là hiện tượng hoàn toàn bình thường Tuy nhiên, trong bối cảnh hoạt động thanh tra, giám sát còn chưa phát triển, những tác động tiêu cực của sở hữu chéo có thể sẽ làm giảm hiệu quả của nền kinh tế nói chung và ngành tài chính ngân hàng nói riêng Ngoài vấn đề rủi ro đạo đức có thể tạo ra rủi ro tín dụng, sở hữu chéo có thể gây ra những hệ lụy tới sự an toàn của hệ thống Tại Báo cáo được gửi đến Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước cho biết, các tổ chức tín dụng đã cơ bản xử lý, khắc phục được một số vi phạm sở hữu cổ phần, sở hữu chéo Cụ thể, số cặp tổ chức tín dụng sở hữu chéo trực tiếp lẫn nhau về cơ bản đến thời điểm cuối tháng 12/2018 đã khắc phục được hết Do đó, bài thảo luận tập trung trình bày hiện trạng sở hữu chéo giữa các NHTM Việt Nam với nhau sau khi Thông tư 36/2014/TT-NHNN (gọi tắt là Thông tư 36) ra đời, qua đó, tổng hợp các biện pháp góp phần giảm sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU CHÉO CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm sở hữu chéo và sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm sở hữu chéo
Sở hữu chéo là một loại sắp xếp doanh nghiệp, trong đó một thực thể duy nhất sởhữu hai hoặc nhiều doanh nghiệp hoạt động trong thị trường chung giống nhau.Thuật ngữ này đôi khi cũng được dùng để chỉ một sự sắp xếp đầu tư trong đó nhà đầu tư có thể sở hữu đáng kể một khối lượng của cổ phiếu trong các công ty khác nhau mà đang hoạt động kinh doanh với các công ty thuộc sở hữu của nhà đầu tư đó Trong cả hai kịch bản, động lực cho sở hữu chéo thường là để tăng cường mối quan hệ kinh doanh và quan hệ giữa các bên liên quan, và để kiểm soát mức độ cạnh tranh tồn tại trong thị trường.
Một ví dụ khác về quyền sở hữu chéo có thể xảy ra trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh Một chủ sở hữu duy nhất có thể hoạt động một chuỗi bánh hamburger, một chuỗi các tiệm bánh pizza, và một chuỗi chuyên về thực phẩm như món ăn Mexico hoặc gà rán Trong một cộng đồng nhất định, chủ sở hữu có thể xây dựng một trong mỗi của những nhà hàng để nắm bắt một thị phần lớn hơn, và sử dụng các nguồn cung cấp nhà hàng được cung cấp bởi một công ty cung cấp nhà hàng đó cũng là thuộc sở hữu của cùng một thực thể Kết quả là một vị trí vững chắc trên thị trường, chi phí thấp hơn do mua khối lượng, vật tư, và một mức
độ nhất định bảo vệ từ những thay đổi trong nền kinh tế.
Hay nói cách khác theo Chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực: có thể hiểu là Sở hữu chéoxuất hiện khi một công ty A hay nhà đầu tư A đầu tư vào công ty B, sau đó công ty Bđầu tư lại vào công ty A hoặc cả công ty A lẫn B đầu tư vào công ty C Sau đó công ty
C đầu tư ngược trở lại vào công ty A và công ty B Trên thực tế, có thể chu trình của
sở hữu chéo còn phức tạp hơn thế nữa
Trang 4Những năm chúng ta mới mở cửa, những năm 90 đến năm 1993, khi đó chúng tamới bắt đầu có ngân hàng cổ phần Thời điểm đó vốn của chúng ta rất ít, nếu không
có hình thức các ngân hàng liên kết với nhau, thì không có nguồn vốn mở mang kinhdoanh Vì vậy hình thức sở hữu chéo xuất hiện từ thời điểm đó
Một yếu tố lịch sử nữa là trong giai đoạn 2005 – 2007, chúng ta đã cho phép nângcấp khá nhiều ngân hàng Một trong các yêu cầu quan trọng lúc đó là các ngân hàngphải đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu, khoảng 1.000 tỷ VNĐ Để có đủ vốn thìcác ngân hàng phải liên kết lẫn nhau
1.3 Sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại
Trên thế giới, khái niệm về sở hữu chéo đã được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các nghiên cứu dựa trên định nghĩa về sở hữu và có thể hiểu đơn giản là hiện tượng doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần tại doanh nghiệp khác Sở hữu chéo (cross ownership) là một hiện tượng phổ biến trên thế giới và là chủ đề nghiên cứu lớn trong giới học thuật, được giới thiệu như là một chiến lược quản trị doanh nghiệp Sở hữu chéo là hiện tượng các doanh nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau cho những mục tiêu cụ thể Các mục tiêu này có thể là việc thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp, mặc dù sở hữu chéo có thể ảnh hưởng tiêu cực tới các doanh nghiệp khác nhưng cũng có thể tạo ra lợi ích cho các bên liên quan; hoặc mục tiêu chống lại những quy định của pháp luật về đảm bảo đủ vốn Alberto và Alessia (2009) định nghĩa: “Sở hữu chéo là việc các doanh nghiệp bao gồm cả công nghiệp
và tài chính nắm giữ cổ phần dài hạn tại các doanh nghiệp khác” Sở hữu cổ phần thường có mối quan hệ qua lại khi doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp khác và cổ phần của bản thân doanh nghiệp đó lại được nắm giữ bởi các doanh nghiệp còn lại, tạo nên một hệ thống sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp và ngân hàng Mark Scher (2001) nhận định: “Sở hữu chéo là việc hai doanh nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau Các doanh nghiệp
có thể cùng ngành, có thể là nhà cung cấp và khác hàng, hoặc là chủ nợ với con nợ”.
Trang 5Ví dụ, tại Nhật Bản, mộ t loại hình sở hữ u chéo truyền thố ng sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai được gọi là hệ thống ngân hàng chính của Nhật Bản (Japanese main bank system)
và một loại hình khác với tốc độ phát triển nhanh chóng giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp phi ngân hàng Trong khi đó, tại những quốc gia như Mỹ và Anh với thị trường tài chính ở mức độ phát triển cao và nền kinh tế dựa vào thị trường vốn nhiều hơn, sở hữu chéo thường
ít khi được sử dụng để củng cố mối quan hệ giữa các doanh nghiệp Phương thức mà các doanh nghiệp nắm giữ cổ phiếu của chính mình và các doanh nghiệp khác tại mỗi quốc gia phản ánh đặc điểm quản trị doanh nghiệp tại doanh nghiệp cũng như những đặc điểm của cấu trúc nền kinh tế, hệ thống tài chính và lao động các quốc gia đó.
Khái niệm sở hữu chéo cũng thường được dùng để chỉ hiện tượng một cá nhân hay tổ chức cùng lúc sở hữu cổ phần trọng yếu và nắm quyền quản trị điều hành tại nhiều đơn vị kinh doanh khác nhau Nội dung quan trọng nhất của sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp là tạo ra mối liên kết hàng ngang giữa các công ty làm ăn với nhau bằng phương thức xâm nhập sâu vào hoạt động kinh doanh, quản trị điều hành của nhau thông qua việc mua cổ phần của đối tác Phương thức này đặc biệt phổ biến trong quan hệ giữa nhà sản xuất với các nhà thầu phụ của họ Do sở hữu
cổ phần lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của một ngân hàng và công ty thương mại chung nên các doanh nghiệp trong liên minh sở hữu chéo thường có chiến lược kinh doanh giống nhau, phát huy khả năng hợp tác, tương trợ, đặc biệt là khi gặp khó khăn về tài chính Bên cạnh đó, các công ty thành viên còn chia sẻ với nhau những bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm quản lý và các cách thức tiếp thị, thâm nhập thị trường v.v Do có sự khác biệt giữa hoạt động của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh thông thường và hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại mà nội dung sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng cũng có những nét đặc trưng cơ bản Theo đó, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng xuất phát từ sở hữu chéo trong hệ thống doanh nghiệp với đặc điểm là có sự tham gia của các Ngân hàng thương mại vào hệ thống sở hữu cổ phần giữa các thành viên Như vậy, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng là việc một hay nhiều ngân hàng nắm giữ cổ phần của
Trang 6nhau thông qua mua bán cổ phầ n hoặc có thể đầu tư vào ngân hàng khác thông quacông ty con hoặc ủy thác đầu tư qua một bên trung gian.
Nếu như vấn đề sở hữu chéo đối với hệ thống các tổ chức tín dụng đã mang đến không ít hệ lụy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn hệ thống và thường được dư luận nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực thì sở hữu chéo đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác chưa hẳn là tiêu cực Đặc biệt, trong giai đoạn mà cả nền kinh tế, các ngành nghề và bản thân các doanh nghiệp đứng trước áp lực phải tái cơ cấu để nâng cao năng lực cạnh tranh thì đôi khi sở hữu chéo lại giúp nâng cao mức độ tích tụ vốn và cơ cấu cổ đông, tạo thuận lợi cho các kế hoạch tái cấu trúc Đơn cử như ngành mía đường, hiện đang đứng trước thách thức rất lớn vì từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, đường nhập khẩu vào Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0% (từ mức 5% hiện nay) theo Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Ngoài ra, các biện pháp bảo hộ bằng cấp hạn ngạch cũng sẽ phải gỡ bỏ để đáp ứng nhu cầu hội nhập Với thực trạng sản xuất manh mún, năng suất cây mía thấp, hệ thống phân phối chịu sự thao túng của các đại lý, siêu thị, giá đường bán lẻ đến tay người tiêu dùng của các doanh nghiệp sản xuất nội địa hiện đều ở mức rất cao, cao hơn đường cùng loại nhập từ Thái Lan khoảng 2.000-3.000 đồng/ki lô gam (tương đương 15%) Các doanh nghiệp mía đường cần có vùng nguyên liệu ổn định, sản xuất quy mô lớn mới mong hạ giá thành sản phẩm Tập đoàn Thành Thành Công hiểu rất rõ điều này và đã thông qua một loạt “nước cờ” như mua cổ phần, M&A tại Công ty cổ phần mía đường Thành Thành Công Tây Ninh (SBT), Công ty cổ phần mía đường Biên Hòa (BHS), Công ty cổ phần mía đường Ninh Hòa (NHS), Công ty cổ phần mía đường Nhiệt điện Gia Lai (SEC) Chính nhờ lợi thế về sở hữu chéo, các quyết định của Thành Thành Công liên quan đến việc M&A các doanh nghiệp cùng họ mía đường mới diễn ra nhanh chóng và dễ dàng như vậy Trường hợp của Công ty cổ phần Hùng Vương (HVG) trong ngành thủy sản cũng vậy, việc sở hữu chéo tại các công ty thủy sản cùng ngành đã giúp HVG mở rộng quy mô, chiếm lĩnh các thị trường xuất khẩu mới Hơn thế nữa, chuỗi sản xuất khép kín cũng mang đến lợi thế không nhỏ cho HVG với
sự gia nhập của Công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Thắng, tránh sự phụ thuộc vào các công ty nước ngoài.
Trang 7Để xác định mức độ sở hữu chéo giữa các thành viên trong nhóm, người ta sử dụng
tỷ lệ sở hữu chéo (cross-shareholding ratio) theo hai phương pháp: theo tỷ lệ số cổphần trực tiếp nắm giữ, hoặc theo tỷ lệ số cổ phần trực tiếp nắm giữ so với số lượng
cổ phần tham gia biểu quyết, hoặc theo tỷ lệ số cổ phần trực tiếp nắm giữ và được ủyquyền đại diện trên số lượng cổ phần, hoặc theo tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyếtcủa chủ thể nắm giữ trên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết,… Về bản chất, việcxác định mức độ sở hữu chéo giữa các thành viên trong nhóm là xác định khả năng
và mức độ ảnh hưởng của một doanh nghiệp hoặc ngân hàng đối với các thành viêncòn lại trong nhóm thông qua số lượng cổ phần nắm giữ và quyền biểu quyết
2 Phân loại sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại
Sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng thương mại, với sự tham gia của cả Ngân hàng thương mại lẫn các doanh nghiệp khác, được phân loại theo một số phương thức dưới đây.
- Phân loại trên cơ sở mối quan hệ qua lại trong quá trình kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong sở hữu chéo:
Sở hữu chéo theo chiều dọc: cổ phần của doanh nghiệp mẹ (parent
company) được nắm giữ bởi các doanh nghiệp con (subsidiaries)
Sở hữu chéo theo chiều ngang: cổ phần của doanh nghiệp được nắm giữ bởi các
doanh nghiệp khác, nhưng không phát sinh mối quan hệ doanh nghiệp mẹ - con.
- Phân loại trên cơ sở cấu trúc nắm giữ cổ phần:
Sở hữu chéo trực tiếp: cổ phần của doanh nghiệp được nắm giữ trực tiếp bởi
doanh nghiệp khác và ngược lại (hay còn gọi là sở hữu chéo đơn thuần) Ví dụ: ngân hàng A nắm 20% cổ phần của ngân hàng B; đồng thời, ngân hàng B nắm 10% cổ phần của ngân hàng A
Sở hữu chéo gián tiếp: cổ phần của doanh nghiệp được nắm giữ bởi các doanh nghiệp
khác có mối quan hệ sở hữu lẫn nhau trên cơ sở sở hữu chéo trực tiếp, tạo ra một mạng
Trang 8lưới nắm giữ cổ phần phứ c tạp Sở hữ u chéo gián tiếp có thể đượ c chia thành 05 loại sau:
Sở hữu chéo gián tiếp dạng thẳng (straight): Ví dụ: ngân hàng A nắm
20% cổ phần củ a ngân hàng B, ngân hàng B nắ m 40% cổ phần của ngân hàng C, và ngân hàng C nắm 10% cổ phần của ngân hàng A
Sở hữu chéo gián tiếp dạng vòng (circulation): Ví dụ : ngân hàng A
nắm 20% cổ phần củ a ngân hàng B, ngân hàng B nắ m 10% cổ phần củangân hàng A Ngân hàng A nắ m 40% cổ phần củ a ngân hàng C, và ngânhàng C nắ m 10% cổ phần của ngân hàng A Ngân hàng D nắ m 40% cổphần củ a ngân hàng B và 30% cổ phần của ngân hàng C, hai ngân hàng
B và C mỗ i ngân hàng nắ m 10% cổ phần của ngân hàng D
Ngoài ra, còn mộ t số loại sở hữu chéo khác như: Sở hữu chéo gián tiếp bức xạ (radiation); Sở hữu chéo mạng lưới (web); sở hữu chéo gián tiếp bức xạ điều chỉnh (modified radiation).
- Phân loại trên cơ sở mức độ kiểm soát trong sở hữu chéo:
Sở hữu chéo điều hành: doanh nghiệp chính kiểm soát hoạt động của doanh
nghiệp con về sản lượng và giá
Sở hữu chéo thầm lặng: các quyết định của doanh nghiệp bị sở hữu không bị chi
phối bởi doanh nghiệp sở hữu cổ phần của nó trong mạng lưới nhưng quyết định của doanh nghiệp bất kỳ có thể gây ra ảnh hưởng tới lợi nhuận doanh nghiệp khác.
Hầu hết các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đều sở hữu ngân hàng Điểnhình là Tập đoàn Điện lực Việt Nam sở hữu Ngân hàng TMCP An Bình, Tập đoànViễn thông Quân đội sở hữu Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Tập đoàn Than -Khoáng sản Việt Nam và Tập đoàn Cao su sở hữu Ngân hàng TMCP Sài Gòn - HàNội, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sở hữu Ngân hàng TMCP Đại Dương,…
Nhóm Big 4 ngành Ngân hàng của Việt Nam là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng TMCP Công
Trang 9thương (VietinBank) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) đều đang
sở hữu các ngân hàng khác Trong khu vực ngoài quốc doanh, sở hữu chéo phổ biến dưới hai hình thức là ngân hàng sở hữu lẫn nhau và doanh nghiệp sở hữu ngân hàng.
3 Nguyên nhân hình thành sở hữu chéo của Ngân hàng thương mại
3 1 Các quy định của Chính phủ về mức vốn điều lệ tối thiếu
Nhằm đảm bảo các ngân hàng khi thành lập và đi vào hoạt động có đủ lượng vốn cần thiết tối thiểu cho hoạt động kinh doanh ngân hàng vốn có nhiều rủi ro, Chính phủ thường quy định mức vốn điều lệ tối thiểu theo lộ trình nhất định mà các ngân hàng phải đạt được.Do đó, các ngân hàng có thể tiến hành phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để thu hút các nhà đầu tư Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường tài chính - ngân hàng bất lợi, thực trạng các ngân hàng yếu kém, các nhà đầu tư tiềm năng sẽ hạn chế đầu tư vào ngân hàng Xuất phát từ khó khăn này, các ngân hàng thực hiện các biện pháp để có thể đáp ứng được yêu cầu của Chính phủ, trong đó có việc thiết lập một liên minh sở hữu chéo Tại đó, ngân hàng có thể tiến hành cho vay một doanh nghiệp thuộc quyền kiểm soát của ngân hàng và sử dụng vốn vay được để tiến hành đầu tư ngược lại thông qua việc mua cổ phần phát hành mới của ngân hàng Do nguồn vốn dùng để cho vay doanh nghiệp có thể đến từ nguồn vốn huy động từ nền kinh tế của ngân hàng nên lượng vốn dùng cho hoạt động này đủ để đáp ứng quy định của Chính phủ về vốn điều lệ tối thiểu Ở Việt Nam Ngân hàng nhà nước đã quy định mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng Mặt khác, áp lực tăng vốn là rất cao bởi các ngân hàng chủ yếu huy động vốn qua việc phát hành cổ phiếu, bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, các quỹ đầu tư
nhưng thị trường chứng khoán hoạt động chưa thực sự hiểu quả do tình trạng sụt giảm và thanh khoản thấp kéo nên việc phát hành thêm, niêm yết hay kêu gọi sự tham gia của cổ đông chiến lược trong và ngoài nước càng khó Có thể nói, áp lực tăng vốn cộng hưởng với tình hình huy động vốn gặp khó khăn buộc các ngân hàng phải tìm cách xoay sở, một trong các cách đó là tăng vốn thông qua sở hữu chéo để rồi kết quả đạt được là thành tích xuất sắc tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng của các NHTM Chưa kể nhiều ngân hàng lớn, dù không nằm trong
Trang 10nhóm phải chạy đua tăng vốn theo quy định cũng liên tục công bố tăng vốn thêm từ một nghìn tới vài nghìn tỷ.
3.2 Pháp luật về ngân hàng ở nước ta còn tồn tại nhiều kẽ hở
Pháp lệnh về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 quy định
về việc các tổ chức tín dụng chỉ được dùng vốn tự có và quỹ dự trữ để mua cổ phầnnhưng không được quá 10% vốn công ty đó [14, Điều 28] hay Luật Các tổ chức tíndụng năm 1997 đề cập chung chung về giới hạn góp vốn, mua cổ phần là: Khôngđược mua hoặc góp vốn vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nướcquy định đối với từng loại hình TCTD [14, Điều 80]
Thông tư số 13 năm 2010 ngày 20/5/2010 có hiệu lực thi hành, Ngân hàng Nhà nước
đã có những quy định rõ hơn các hoạt động như: Góp vốn, mua cổ phần là việcTCTD dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phầncủa các doanh nghiệp, của công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết, TCTDkhác, cấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc của TCTD; góp vốn vào quỹ đầu tư,góp vốn thực hiện các dự án đầu tư; bao gồm cả việc ủy thác vốn cho các phápnhân, tổ chức, doanh nghiệp khác thực hiện đầu tư theo các hình thức nêu trên
Từ các năm trước, đã có sự chậm trễ trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết Một kẽ hở nữa về sở hữu chéo là Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của
tổ chức tín dụng được ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008, tại văn bản này, trong điều khoản quy định về người mua giấy tờ có giá, NHNN không có những quy định cụ thể đối với từng loại hình tổ chức tín dụng [10, Điều 3].
Ngoài ra, Luật các tổ chức tín dụng hiện hành cũng còn tồn tại những lỗ hổng nhất định Chưa
có các quy định pháp luật tối thiểu tách biệt rõ ràng giữa chức năng của ngân hàng thương mại
và ngân hàng đầu tư khiến cho nhiều NHTM đã thực hiện các nghiệp vụ đúng ra chỉ nên được thực hiện bởi các ngân hàng đầu tư Các NHTM được phép thành lập các công ty con trực thuộc tham gia vào các lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính và nắm
Trang 11giữ cổ phần của các doanh nghiệp có chức năng đầu tư chứng khoán, nắm giữ cổ phần của chính ngân hàng.
3.3 Thị trường vốn còn kém phát triển
Thực tế, trình độ phát triển của TTCK Việt Nam còn bị hạn chế đẫn tới khả năng cungcấp nguồn vốn dài hạn cho hệ thống doanh nghiệp bị giới hạn, làm tăng áp lực cung cấpvốn dài hạn lên hệ thống ngân hàng Việc thực hiện cung cấp vốn này làm tăng mức độrủi ro về cả tín dụng và thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng tăng lên đáng kể cungcấp lượng vốn lớn cho doanh nghiệp cũng như nhằm bảo đảm an toàn lẫn hiệu quả sinhlời cho hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng cần phải tham gia sâu hơn vàohoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp vay vốn Về phía các doanh nghiệp cũngmong muốn có được một nguồn cung ứng vốn dài hạn và ổn định, từ đó làm phát sinhthêm cơ hội cho ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện các giải pháp làm tăng cường mốiliên hệ giữa các bên dẫn đến hình thành sở hữu chéo
3.4 Thiếu vắng nguồn nhân lực quản lý cấp cao tại các ngân hàng có quy mô nhỏ
Khó khăn này khiến cho các ngân hàng lớn muốn giám sát được việc sử dụng vốn vàhoạt động kinh doanh khi cho vay vốn Để thực hiện điều này các ngân hàng lớn có thểnắm giữ cổ phần, tham gia vào ban quản trị, hoặc ban giám sát của doanh nghiệp Mụctiêu của ngân hàng cho vay chủ yếu là bảo đảm nguồn vốn vay ngân hàng này được sửdụng đúng mục đích, hiệu quả và xây dựng mối quan hệ vững chắc giữa người cho vay
và người đi vay Đồng thời, việc ngân hàng nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp màminh cấp vốn tín dụng sẽ giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng, thu được lợi thếcạnh tranh so với các chủ nợ khác, từ đó giảm rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng vàtăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng đối thủ
3.5 Nhu cầu mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực khác, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro, huy động được một lượng vốn ổn định của doanh nghiệp
Trang 12Một trong những biện pháp mà các doanh nghiệp lớn thưởng thực hiện là thành lập một ngân hàng mới hoặc mua cổ phần để sở hữu và kiểm soát phần lớn một ngân hàng đang hoạt động Thông qua ngân hàng trong liên minh sở hữu chéo, các doanh nghiệp trong ngân hàng
sẽ dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với quy mô lớn và chi phí vốn rẻ hơn so với việc phải tiếp cận với các ngân hàng ngoài Ngoài ra, với vai trò là một ngân hàng hỗ trợ các doanh nghiệp trong liên minh sở hữu chéo, ngân hàng chính sẽ góp phần làm tăng mức độ tín nhiệm cho các thành viên khi các chủ nợ khác nhận thức được những khó khăn mà thành viên gặp phải trong quá trình kinh doanh sẽ được sự chia sẻ từ ngân hàng chính.
3.6 Nhu cầu thu hút nguồn vốn và công nghệ từ các ngân hàng mạnh
Ngân hàng nước ngoài sẽ tăng đầu tư vào các ngân hàng nội thông qua việc mua lượng lớn cổ phần và trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng tiềm năng trong nước Từ đó sẽ đáp ứng được nhu cầu thu hút vốn và công nghệ, đồng thời tạo điều kiện mở eoọng quy mô, hoạt động tài trợ cho các công ty đa quốc gia lập tại nước sở tại thông qua việc mở chi nhánh ngân hàng, thành lập ngân hàng liên doanh, hoặc nắm giữ quyền kiểm soát ngân hàng tại quốc gia đó.
3.7 Chất lượng quản trị doanh nghiệp trong ngân hàng không đạt yêu cầu
Vấn đề này khiến một số cổ đông đã tiến hành các biện pháp tăng mức độ sở hữu vàkiểm soát thông qua sở hữu chéo Các cổ đông này đã chỉ đạo ngân hàng cho cácdoanh nghiệp dưới quyền kiểm soát của mình vay vốn, rồi tiến hành đầu tư ngược lạivào cổ phần của ngân hàng, qua đó tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu (trực tiếp và giántiếp) và tương ứng là quyền sở hữu, kiểm soát ngân hàng
3.8 Đầu tư vốn vào các NHTM hoặc ngân hàng liên doanh của ngân hàng thuộc Nhà nước
Những năm gần đây khi việc thành lập hệ thống ngân hàng cổ phần được thực thi, sự hiện diện của những ngân hàng quốc doanh nhằm mục đích kiểm soát những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có cũng như những yếu kém ban đầu từ phía các ngân hàng cổ phần mới được thành lập Ngoài ra, xét từ góc độ nghiệp vụ, các ngân hàng quốc doanh lớn
Trang 13đồng thời đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh và quản trị; thậm chí chia sẻ cả nguồn nhânlực với tất cả các ngân hàng họ góp vốn để hỗ trợ ngân hàng mới thành lập phát triểnhoặc mở rộng mạng lưới hoạt động Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển của hệthống ngân hàng Việt Nam, ảnh hưởng của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiềubiến đổi Đây cũng là một trong những nguyên nhân hình thành sở hữu chéo giữa cácngân hàng có vốn nhà nước và các ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng liên doanh.
4 Tác động của sở hữu chéo tới Ngân hàng thương mại
4 1 Tác động tích cực
Thứ nhất, sở hữu chéo giúp các NHTM phòng ngừa những cuộc thâu tóm và sáp nhập
từ các tổ chức khác, trong đó có cả các ngân hàng là đối thủ cạnh tranh Sở hữu chéo cókhả năng giữ ổn định quyền hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện các hoạt động kinhdoanh, đầu tư, và tài chính trong dài hạn trước áp lực bị can thiệp về quyền kiểm soáthoạt động từ bên ngoài Trái lại, nếu NHTM phải đối mặt với áp lực thâu tóm và sáp nhập
từ bên ngoài, ban điều hành ngân hàng buộc phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe hơncủa các cổ đông hiện tại, ví dụ như thực hiện những biện pháp để tăng lợi nhuận trongngắn hạn (thay vì tập trung vào mục tiêu dài hạn) Trong trường hợp tồn tại sở hữu chéogiữa bản thân NHTM và các nhà đầu tư, hai bên có thể thương lượng để cùng phối hợpchống lại các hành vi thâu tóm, sáp nhập từ đối thủ
Thứ hai, sở hữu chéo có tác dụng tạo ra lợi thế từ sự kết hợp các nguồn lực kinh tế giữa các
NHTM với nhau Một ngân hàng có thể vượt qua sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ cần phải
có một mô hình kinh doanh riêng biệt, có ưu thế hơn về những nguồn lực kinh tế Nếu một NHTM kết hợp với các ngân hàng khác đặc biệt là ngân hàng lớn hơn để tạo ra những lợi thế kể trên, sự
hỗ trợ về công nghệ, chia sẻ thông tin, thực hiện các giao dịch tài chính, chia sẻ nguồn nhân lực, quảng bá hình ảnh, và cả hỗ trợ về tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên, mang lại lợi ích cho nhà đầu tư Sở hữu chéo
Trang 14có thể tạo ra lợi thế tổng hợp về nguồn lực kinh tế, làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp và cải thiện rõ rệt kết quả của hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, sở hữu chéo hỗ trợ việc xây dựng liên minh chiến lược và chia sẻ rủi ro Liên minh
chiến lược là việc nhiều ngân hàng xây dựng một chiến lược phát triển chung Chiến lược này bao gồm việc hợp tác chặt chẽ giữa các ngân hàng , tạo ra giá trị mới trên cơ sở hợp tác, cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro Một hay một vài ngân hàng trong liên minh sở hữu chéo sẽ đóng vai trò là người đảm bảo cho những rủi ro của những ngân hàng còn lại Mối quan hệ chặt chẽ về sở hữu và kiểm soát với ngân hàng thông qua việc nắm giữ cổ phần tạo ra một hiệu ứng về mức độ tin cậy đối với bản thân ngân hàng và sau đó là với các tổ chức tài chính bên ngoài liên minh Thông qua việc chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp và ngân hàng, vấn đề thông tin bất cân xứng và vấn đề người đại diện chủ sở hữu sẽ được giảm thiểu, tạo điều kiện cho các hợp đồng về tài chính diễn ra thuận lợi trong quá trình phân tích để ký kết cũng như quá trình giám sát trong việc thực hiện hợp đồng Hơn nữa, xét ở một khía cạnh nhất định, các cổ đông nhỏ tại các doanh nghiệp trong liên minh sở hữu chéo sẽ tận dụng được nguyên lý “ kẻ ăn theo” trong quá trình giám sát hoạt động của ban điều hành và ban quản trị khi mà các ngân hàng thường có lợi thế trong việc thực hiện các chức năng này.
Thứ tư, sở hữu chéo có thể giúp các ngân hàng huy động được nguồn vốn dài hạn
có tính ổn định cao Các doanh nghiệp trong liên minh sở hữu chéo là những người
có khả năng đầu tư thêm vào ngân hàng khi ngân hàng phát hành cổ phần mới nhằmduy trì tỷ lệ sở hữu và quyền kiểm soát
4.2 Tác động tiêu cực
Thứ nhất, sở hữu chéo làm tăng vốn ảo, vi phạm các quy định về vốn thực và tín dụng của cơ
quan quản lý nhà nước Thực chất, sở hữu chéo là việc một doanh nghiệp nắm giữ cổ phiếu của chính nó thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp có liên quan Mặc dù tổng vốn điều
lệ của nhóm ngân hàng và doanh nghiệp tăng lên thông qua việc được đầu tư bởi doanh nghiệp thành viên, chỉ có một lượng vốn ảo dịch chuyển liên tục giữa các doanh nghiệp
Trang 15trong liên minh sở hữu chéo Lượng VCSH ban đầu vì thế có thể tăng lên nhiều lần nhưng lượng vốn thực lại không thay đổi Ngoài vấn đề tăng vốn ảo, sở hữu chéo còn khiến cho các quy định
về hệ số an toàn vốn không phát huy được tác dụng tạo sự an toàn cho ngân hàng khi hệ số đảm bảo an toàn vốn (CAR) tăng không thực chất Các quy định về cho vay đối với người có liên quan, giới hạn vốn góp đầu tư, cổ phần không được phép vượt quá một tỷ lệ nhất định cũng bị vô hiệu hóa Điều này khiến cho sự tách bạch giữa chức năng của một ngân hàng đầu tư ra khỏi chức năng của một NHTM theo quy định không phát huy được tác dụng.
Thứ hai, sở hữu chéo khuyến khích tình trạng độc quyền phát triển, làm giảm mức độ cạnh
tranh giữa các ngân hàng Mặc dù sở hữu chéo tạo sự liên kết bền vững giữa các ngân hàng
để chống lại cuộc thâu tóm và sáp nhập, nhưng ở khía cạnh tiêu cực lại gây ra tình trạng độc quyền Mức độ liên kết giữa các ngân hàng trong liên minh sở hữu chéo càng tăng thì các biện pháp mang tính độc quyền sẽ tăng lên về cả tần suất và mức độ Theo đó, mức độ cạnh tranh giảm sẽ hạn chế nguồn vốn và công nghệ từ nước ngoài vào hệ thống ngân hàng trong nước Khi xảy ra sở hữu chéo, mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp dần mờ nhạt đi, thay vào đó là phục vụ lợi ích của một nhóm người nhất định hay còn gọi là lợi ích nhóm.
Thứ ba, sở hữu chéo gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động quản trị doanh nghiệp trong
ngân hàng Các cuộc họp đại hội đồng cổ đông, ban giám sát sẽ bị giảm hiệu quả khi màvai trò sở hữu và kiểm soát của các cổ đông nhỏ lẻ bị suy giảm nghiêm trọng
Thứ tư, các cổ phiếu của các nhà đầu tư thuộc nhóm sở hữu chéo ít khi được giao dịch
trên thị trường chứng khoán, khiến cho tỷ trọng cổ phiếu có tính thanh khoản cao giảm xuống Do vậy, các nhà đầu tư trên thị trường có thể thao túng giá cổ phiếu trên thị
trường dễ dàng hơn hoặc bản thân những giao dịch của nhà đầu tư thuộc nhóm sở hữuchéo có thể làm cho thị trường của cổ phiếu biến động mạnh Thị trường chứng khoánthiếu hiệu quả như vậy sẽ không thể khuyến khích các nhà đầu tư bên ngoài, cũng nhưhạn chế mức độ tham gia tích cực của các nhà đầu tư dài hạn
Trang 16Thứ năm, khi mộ t hoặ c mộ t số ngân hàng trong nhóm sở hữu chéo gặp rủi ro, rơi vào tình trạng
phá sản thì mức độ lan truyền rủ ro trong hệ thống ngân hàng tăng lên gây ra hiện tượng khủng
hoảng dây chuyền Sự ổn định của từng ngân hàng vốn dĩ đã có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định của các ngân hàng trong nhóm sở hữu chéo trên thị trường khi chỉ xét riêng trên khía cạnh các giao dịch tiền tệ đực khuyếch đại khi mức độ quan hệ về vốn đầu tư tăng lên thông qua hiện tượng sở hữu chéo Tùy thuộc vào số lựng cổ phần nắm giữ sẽ dẫn tới kết quả phân loại khoản đầu tư và ảnh hưởng tới việc thực hiện báo cáo tài chính hợp nhất.
Thứ sáu, khi vấn đề bất cân xứng thông tin được giải quyết, sở hữu chéo lại khuyến
khích các doanh nghiệp vay nợ nhiều hơn bởi chi phí vay vốn thấp nhất và điều kiện vay
đã được nới lỏng hơn Điều này làm tăng mức độ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp vàkhiến chi phí nợ của doanh nghiệp tăng, làm giảm lợi nhuận đồng thời làm tăn mức độ rủi
ro của doanh nghiệp Hơn nữa, khi người ủy quyền của ngân hàng nằm trong ban quảntrị doanh nghiệp, ngân hàng có thể xếp đặt các điều khoản tín dụng có lợi cho mình, qua
đó cũng làm tăng chi phí vay nợ Thông qua người ủy quyền của mình tại doanh nghiệp,các ngân hàng có thể chi phối tới cơ cấu vốn và các hoạt động khác của doanh nghiệp
Thứ bảy, trong trường hợp ngân hàng chính trong liên minh sở hữu chéo cùng với
các ngân hàng khác bên ngoài cấp tín dụng cho doanh nghiệp thành viên, ngân hàng
chính sẽ gặp phải tình huống mâu thuẫn về lợi ích Khi ngân hàng chính nắm được
thông tin về tình hình tài chính hay hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thànhviên đang vay vốn, ngân hàng chính có thể tận dụng lợi thế về thông tin nội gián này
để thực hiện việc thu hồi nợ trước hạn và thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi rotrước các ngân hàng cùng cấp tín dụng cho doanh nghiệp
Thứ tám, ngân hàng có thể chuyển khoản nợ xấu thành các tài sản khác với mức độ chất lượng
tài sản cao hơn nhìn từ bên ngoài thông qua các giao dịch với doanh nghiệp thành viên Bằng
việc bán khoản nợ xấu, hình thức của một khoản phải thu khó đòi cho một doanh nghiệp thành viên, và ghi nhận nó dưới dạng một khoản phải thu trên cơ sở định giá không chính xác
Trang 17với mứ c giá thị trường, khoản nợ xấu trên bảng cân đối tài khoản sẽ được chuyểnthành một dạng tài sản khác Tuy nhiên, về thực chất, khoản nợ xấu không hề bị xử
lý hay chuyển ra khỏi hệ thống ngân hàng mà vẫn còn nguyên mức ảnh hưởng của
nó tới tình hình hoạt động của ngân hàng