Thì hiện nay, chúng ta đã có thêm những nghiên cứu về stress qua các hội thảo khoa học “ Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và thanh thiếu niên” do Viện sức khỏe tâm thần th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THỊ DUY DUYÊN
VẤN ĐỀ STRESS CỦA CÔNG NHÂN Ở MỘT
SỐ KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH PHƯƠNG DUY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010 THƯ
VIỆN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực
Đào Thị Duy Duyên
Trang 3cơ sở cho tôi hòan thành luận văn này
Xin cảm ơn các anh/chị công nhân, các cán bộ quản lý đã nhiệt tình cung cấp cho tôi những thông tin
và số liệu quý báu giúp đề tài có được những kết quả chính xác và thực tế nhất
Xin cảm ơn các bạn trong nhóm cộng tác viên đã đồng hành cùng tôi trong suốt giai đoạn thu thập số liệu cho đề tài
Xin cảm ơn các cán bộ , nhân viên công tác tại phòng Khoa học, công nghệ và sau đại học
Xin cảm ơn các Thầy trong hội đồng bảo vệ đề cương đã đóng góp những ý kiến định hướng nghiên cứu cho tôi trong đề tài này
Đào Thị Duy Duyên
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, ở mỗi giai đoạn phát triển, con người đều phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh trong cuộc sống, do đó con người đều có nguy cơ bị stress Nhiều nhà nghiên cứu về stress cho rằng xã hội càng phát triển, càng hiện đại thì nguy cơ bị stress của con người ngày càng cao, đặc biệt trong xã hội mà chúng ta đang sống ngày nay Với sự phát triển của thời đại công nghiệp, bên cạnh việc nó làm cho điều kiện sống của con người ngày càng tốt hơn thì mặt khác nó lại làm phát sinh rất nhiều những hệ lụy tiêu cực, trở thành những tác nhân gây stress cho con người nhiều hơn Xã hội càng hiện đại, nhịp sống ngày càng khẩn trương, gấp gáp và đặt ra yêu cầu cao hơn ở con người, như Alvin Toffler đã chỉ ra rằng những biến động xã hội mạnh mẽ mau lẹ và liên tục là những tác nhân gây stress thời hiện đại [ 31, tr.232], tác động tâm lý của
sự biến động này gây ra tâm trạng mơ hồ và lo hãi có chiều hướng gia tăng Khi xã hội có nhiều thay đổi, con người phải trải nghiệm nhiều sức ép nếu bản thân không kiềm chế được thay đổi hoặc bị thay đổi áp đặt từ bên ngoài, một khi cá nhân cảm thấy mất khả năng kiềm chế và mất khả năng đoán trước được các
sự kiện thì sẽ gây ra căng thẳng và khi những sự thay đổi diễn ra với tốc độ quá nhanh cũng sẽ làm cho
con người cảm thấy bối rối vì nó vượt quá năng lực thích ứng của bản thân [31, tr.238]
Thật vậy, trong những năm gần đây stress là một vấn đề trở nên phổ biến trong đời sống xã hội, hầu hết mọi người đã quen thuộc với thuật ngữ stress, stress có mặt trong mọi biến cố của cuộc sống, stress xuất hiện ở mọi nơi, mọi hoàn cảnh sống của con người…Theo thống kê của tổ chức tư vấn doanh nghiệp Grant Thornton International có trụ sở tại Anh, mức độ stress của các chủ doanh nghiệp trên khắp thế giới đã tăng 57% vào năm 2006 so với 39% hồi năm 2005 [70] Một cuộc nghiên cứu khác của các nhà xã hội học Anh nghiên cứu trên 6000 người từ 18 tuổi trở lên cho thấy có 63% phụ nữ bị stress và 51 % nam bị stress [72] Ngoài ra, kết quả khảo sát đánh giá stress ở Việt Nam do công ty Hoffmann – La Roche thực hiện trong thời gian 2 tháng ( 8-10/2003) với 834 người cũng cho thấy tỷ lệ
bị stress bình quân ở nước ta là 52% [75] Stress trong việc làm là vấn đề mà hầu hết mọi CN đều
vướng mắc không nhiều thì ít Thống kê của hãng bảo hiểm Northwestern National Life cho thấy tới 40% CN than phiền bị stress trong công việc Kết quả theo dõi của đại học Yale cho hay 29% CN bị stress khá nặng vì công việc
Các kết quả khảo sát trên cho thấy tỷ lệ người bị stress đang ngày càng gia tăng đáng kể trong xã hội hiện nay Stress có thể xảy ra với bất cứ ai, ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi ngành nghề khác nhau,
không chỉ trên thế giới, mà ở nước ta số người bị stress cũng khá cao
Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên xã hội còn rất nhiều khó khăn phức tạp và có nhiều vấn đề nảy sinh nên con người luôn đứng trước nguy cơ bị stress Trong những năm gần đây, tại TPHCM ngày càng có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập đã thu hút rất nhiều CN từ khắp mọi miền đất nước tập trung đến để làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp Có thể nói trong giai đoạn nước ta đang chú trọng phát triển công nghiệp như hiện nay thì CN
là một lực lượng lao động rất quan trọng góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội Tuy
Trang 6nhiên, một thực tế cho thấy rằng đời sống CN đang còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần bởi đa số họ là những người xuất thân từ nông dân, trình độ văn hóa không cao, và chủ yếu là dân nhập cư phải sống xa gia đình, xa quê hương, đời sống kinh tế thấp …,chính những khó khăn thiếu thốn ấy lại càng làm cho CN có nguy cơ bị stress cao hơn, họ không chỉ có nguy có bị stress trong công việc mà cả những áp lực, thách thức, khó khăn do cuộc sống thời đại hiện nay mang lại cũng rất dễ làm cho CN bị stress Một khi bị stress và không biết cách ứng phó thì stress sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả lao động của CN và sẽ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Do đó, việc quan tâm đến đời sống tinh thần của CN, đặc biệt là tình trạng stress của CN hiện nay để có những biện pháp hỗ trợ kịp thời nhằm giúp giải tỏa stress là một việc làm rất cần thiết của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung
Khi đứng trước những tác nhân gây stress nếu mỗi người được trang bị những kĩ năng ứng phó và giải tỏa stress thì stress sẽ không phải là mối đe dọa to lớn nhưng ngược lại nếu không có sự hiểu biết
về stress, không có đủ khả năng để tự mình ứng phó với stress mà lại không nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài thì khi đó stress sẽ là một mối đe dọa cho đời sống của mỗi người Như đã nói, đặc điểm CN đang làm việc tại TPHCM đa phần là có trình độ thấp, đời sống vật chất khó khăn, đời sống tin thần thiếu thốn, việc tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế nên có thể nói những hiểu biết về stress và những
kĩ năng ứng phó, ngăn ngừa stress cũng ít nhiều còn hạn hẹp nên CN ắt hẳn rất cần đến sự hỗ trợ từ phía xã hội, từ doanh nhiệp…để giúp họ đối diện, vượt qua stress một cách dễ dàng Cho nên, việc tìm hiểu nhu cầu của CN để có sự đáp ứng kịp thời là một việc khẩn thiết và có ý nghĩa to lớn
Chính thực tế cho thấy stress đang ngày càng phổ biến trong xã hội nên trong những năm gần đây
đã có nhiều công trình nghiên cứu về stress ở nước ta ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có ngành tâm
lý học Các nhà tâm lý cũng đã bắt đầu nghiên cứu về stress trong lĩnh vực lao động, kỹ thuật, quản lý, stress ở từng lứa tuổi Một số đề tài luận văn cao học tâm lý học cũng đã bắt đầu nghiên cứu stress ở tuổi trung niên, stress ở học sinh, sinh viên, stress ở người trưởng thành và một vài khóa luận tốt nghiệp đã bước dầu nghiên cứu về stress nghề nghiệp ở CN…nhưng riêng đối với vấn đề stress nói chung ở CN và nhu cầu của họ về sự hỗ trợ từ bên ngoài để giúp ngăn ngừa và ứng phó với stress là một vấn đề chưa được nghiên cứu sâu ở một công trình nghiên cứu khoa học nào Hơn thế nữa, đa phần những khách thể nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu chuyên ngành tâm lý học nước ta chưa chú trọng đến CN, một lực lượng lao động khá đông và quan trọng của xã hội, cho nên việc nghiên cứu những vấn đề tâm lý trên khách thể này là một hướng đi mới và rất cần thiết, góp phần làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu trong chuyên ngành tâm lý học nước ta và trên cơ sở đó mang lại những lợi ích thiết thực cho CN về mặt đời sống tinh thần
Với những lý do đã trình bày, người nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “ Vấn đề stress của
công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” nhằm tìm hiểu thực
trạng stress của CN về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc giải tỏa stress, qua đó thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đến vấn đề stress của CN để góp phần nâng cao chất lượng đời sống tâm lý, tinh thần cho họ
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách khái quát vấn đề stress ở CN về mặt lý luận, thực tiễn, đồng thời khảo sát nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc ngăn ngừa và ứng phó với stress Trên cơ sở đó đề xuất với các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội có những biện pháp cụ thể giúp CN ứng phó với stress và nâng cao chất lượng cuộc sống về mặt tinh thần
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
400 CN đang trực tiếp làm việc tại khu chế xuất Tân Thuận, khu công nghiệp Tân Tạo, khu công nghiệp Vĩnh Lộc trên địa bàn TPHCM
7 cán bộ quản lý trực tiếp và gần gũi CN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Stress ở CN, nhu cầu hỗ trợ xã hội và các giải pháp từ sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp CN ngăn ngừa và ứng phó với stress
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu stress của CN trực tiếp lao động sản xuất trong các dây chuyền
và cơ sở sản xuất
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về stress nói chung và stress ở CN
5.2 Khảo sát thực trạng hiểu biết về stress của CN, mức độ stress, những biểu hiện stress , nguyên nhân gây stress , cách ứng phó của CN với stress
5.3 Khảo sát nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp họ ứng phó với stress
5.4 Đề xuất những biện pháp từ sự hỗ trợ xã hội để giảm stress cho CN
6 Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Đa số CN đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại TPHCM chưa có hiểu biết đầy
đủ về stress và họ bị stress biểu hiện ở các mức độ khác nhau, tập trung ở mức độ thỉnh thoảng bị stress Có nhiều nguyên nhân gây ra stress, trong đó những yếu tố về đời sống vật chất, tình cảm, công việc ảnh hưởng nhiều tới mức độ stress của CN Stress tác động tiêu cực đến hiệu quả lao động và đời sống của CN thể hiện qua những biểu hiện khi bị stress Mặc dù CN đã có một số cách thức cụ thể để ứng phó với stress nhưng họ vẫn có nhu cầu rất lớn về sự hỗ trợ xã hội để giúp ngăn ngừa và ứng phó với stress
6.2 Có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể về mức độ của stress, sự hiểu biết về stress
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến stress nói chung và stress ở CN
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 8- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình ( case study)
- Phương pháp xử lý toán thống kê bằng phần mềm SPSS: tần số, trung bình, kiểm nghiệm Anova, kiểm nghiệm T…
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Khái quát và hệ thống hóa những lý luận về stress dưới góc độ tâm lý học nói chung và stress ở
CN nói riêng Góp phần làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu của chuyên ngành tâm lý học bằng việc mở rộng nghiên cứu các vấn đề tâm lý, cụ thể là stress trên khách thể nghiên cứu là CN – một lực lượng lao động quan trọng trong xã hội nhưng vẫn chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp những kết quả thực tế những hiểu biết của CN về stress, thực trạng stress ở
CN, những nguyên nhân và ảnh hưởng của stress đến hiệu quả lao động và chất lượng cuộc sống của
CN, một số cách CN thường sử dụng để ứng phó với stress và hiệu quả của các biện pháp đó Ngoài ra còn giúp chúng ta thấy được nhu cầu hiện nay của CN về sự trợ giúp xã hội trong việc giúp ngăn ngừa
và ứng phó với stress một cách hiệu quả
Từ những kết quả nghiên cứu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp, các tổ chức xã hội như công đoàn, trung tâm hỗ trợ thanh niên CN, quỹ hỗ trợ CN sẽ nắm bắt được thực trạng stress hiện nay của
CN và nhu cầu cần được hỗ trợ của CN thế nào để có những biện pháp hỗ trợ cụ thể nhằm ngăn ngừa
và giảm thiểu tình trạng stress cho CN về lâu dài, việc làm này một mặt thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp, của đoàn thể xã hội đến CN, mặt khác làm cho hiệu quả kinh tế không ngừng được nâng cao vì khi CN được quan tâm đến sức khỏe và cải thiện tình trạng stress kịp thời thì họ mới chuyên tâm lao động, không để stress ảnh hưởng đến công việc
Bên cạnh đó, kết quả của luận văn cũng cung cấp những số liệu cần thiết làm cơ sở cho các nhà tâm lý học đề xuất xây dựng và đưa vào hoạt động mô hình tham vấn stress cho CN trực tiếp tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở TPHCM, đây sẽ là một cơ hội việc làm rất tiềm năng cho những người tốt nghiệp ngành tâm lý học hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở CN
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress trên thế giới
Khi con người xuất hiện thì lúc đó stress cũng đã tồn tại trong cuộc sống của con người, tuy nhiên người ta chưa nhận thức rõ ràng về những hiện tượng mà sau này được nhiều nhà khoa học gọi là stress mà chỉ nghiên cứu nhiều khía cạnh của stress dưới những thuật ngữ khác nhau và chưa mang tính hệ thống Stress thật sự được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học bắt đầu từ thế kỉ 17 bởi
Hooke với thuyết “Engineering Analogy” ( tương đồng cấu trúc) trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng
Hooke đã đưa ra các thuật ngữ “load” khối nặng đè lên cấu trúc, “stress “ phần bị khối nặng đè lên và
“strain” sự thay đổi hình dạng do tương tác giữa khối nặng và stress Những khái niệm này có nhiều nét tương đồng với những khái niệm liên quan đến stress tâm sinh lý về sau này : stress là những yêu cầu bên ngoài đặt lên hệ tâm sinh lý xã hội [45,tr1]
Sau đó, stress được nhiều nhà sinh lý học quan tâm nghiên cứu: Ảnh hưởng sinh học của sự sợ hãi được Luis Juan Vives miêu tả từ nhiều thế kỷ trước Cơ sở cho hiểu biết của chúng ta về khái niệm stress đã được nghiên cứu hơn một thế kỷ trước đây bởi nhà khoa học người Pháp Claude Bernard Ông là người đầu tiên nhận ra làm thế nào cơ thể nỗ lực để duy trì một trạng thái tương đối cố định bên trong cơ thể trong một môi trường luôn thay đổi (Bernard, 1878)
Năm 1911, Walter Bradford, một sinh học gia Hoa Kỳ đã nhận thấy kích thích tố nang thượng thận gia tăng khi cơ thể bị xúc động mạnh [64], những phát hiện này làm tiền đề cho những nghiên cứu
về mối liên hệ giữa stress và sức khỏe sau này
Walter Cannon (1927) là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát một phản ứng đối với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc chạy” (fight or flight), mỗi khi các loài vật đối mặt
với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy trốn Trong cả hai tình huống này, nhịp tim
và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn
để đạt được hiểu qua tốt hơn Theo ông, đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho phép mỗi sinh vật có thể ứng phó với những tác nhân gây đe dọa từ môi trường bên ngoài [10], [84] Kết quả nghiên cứu của Cannon được vận dụng trong những nghiên cứu về những chiến lược ứng phó stress của con người sau này, hoặc là đối diện để giải quyết tác nhân gây stress hoặc là né tránh chúng
Hans Hugo Bruno Selye, là người đã phổ biến từ ngữ stress trong công chúng khi ông phát hành cuốn “The Stress of Life” vào năm 1956, và cũng là một người nghiên cứu rất nhiều về stress để rồi những quan điểm của ông trở thành những luận điểm cơ bản, nền móng cho những nghiên cứu khoa học về stress Ông cho rằng bất cứ sự kiện nào đòi hỏi sự thích ứng đều làm khởi phát các đáp ứng sinh
lý đặc trưng cho stress, những đáp ứng này cũng có tính không đặc hiệu; các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương tự nhau Và gọi quá trình đáp ứng này là “hội chứng thích nghi chung” (General Adaptation Syndrome - GAS) [64] GAS ngụ ý chỉ những hoạt động thần kinh và nội tiết cho phép cơ thể sinh vật chống lại những kích thích sinh lý có hại GAS được chia làm
Trang 10ba giai đoạn: báo động , kháng cự và kiệt quệ (exhaustion)[15],[84] Mô hình GAS mặc dù có hạn chế
là chỉ mới đề cập đến yếu tố sinh lý, chưa đề cập đến yếu tố tâm lý những nó được xem là cơ sở hiểu biết của chúng ta về stress Selye còn tiếp tục những nghiên cứu của ông về stress với hàng trăm trang luận cứ khoa học và 39 cuốn sách [8], [52]
Một điểm giống nhau trong lý thuyết của Selye và Cannon là sự xuất hiện các đáp ứng “chống hoặc chạy” và GAS tùy thuộc vào sự nhận biết của sinh vật về các kích thích có hại và việc diễn giải các kích thích này là có tính đe dọa hoặc có hại cho chúng hay không Bổ sung thêm vào luận điểm này
Syrington, Currie, Curran, Davidson, (1955) và Mason (1975) đã thừa nhận: “khi các kích thích có hại
xảy đến mà không có sự nhận biết của đương sự, các đáp ứng sinh học sẽ không xảy ra” Đồng thời sự xuất hiện phản ứng “chống hoặc chạy” và GAS phụ thuộc vào khả năng tiên đoán và kiểm soát các sự
kiện có hại [84] Đồng quan niệm với luận điểm này, một loạt nghiên cứu của Weiss (1968,1971) trên
chuột cũng đã cho thấy tầm quan trọng của những khả năng tiên đoán và kiểm soát đối với những sự kiện
đe dọa, và mối quan hệ giữa nó với bệnh loét dạ dày Những phát hiện của Weiss cho thấy một sự kiện
đe dọa sẽ ít gây ra những hậu quả tai hại nếu chúng ta biết được khi nào nó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có thể làm được một việc gì đó trước sự kiện ấy, và nếu chúng ta nhận được những phản hồi về hiệu quả của hành động ấy Tầm quan trọng của khả năng tiên đoán và kiểm soát cũng được thấy trong các đáp ứng
của con người đối với những tác nhân gây stress (Rodin, 1980) [84]
Nhiều người nghiên cứu cho rằng những nghiên cứu dựa trên quan điểm stress là một đáp ứng sinh lý có tính không đặc hiệu - các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương
tự nhau là quan điểm đúng nhưng chưa thật đầy đủ Vì vậy họ nghiên cứu stress theo quan điểm stress như một sự kiện từ môi trường - tất cả các sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực từ môi trường, cuộc sống đều có tính chất gây stress và mỗi một sự kiện nhất định đều có tính chất gây stress như nhau với tất cả mọi người Các nghiên cứu thực hiện theo quan điểm môi trường đều có bản chất dịch tễ học: số lượng
và mức độ của các sự kiện gây stress sẽ có tính tiên lượng cho tình trạng sức khỏe của đương sự [84] Tuy nhiên, sau này quan điểm stress như một sự kiên từ môi trường được đánh giá là cũng có hạn chế trong việc giải thích tại sao lại có những sự kiện gây stress cho người này nhưng không gây stress cho người khác
Vào những năm 1970 và 1980, nhiều nhà nghiên cứu đã công bố các chương trình nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra mối liên hệ giữa thay đổi cuộc sống và đau ốm Điển hình cho những cuộc nghiên cứu này là cuộc nghiên cứu của Thomas Holmes và Richard Rahe (1967), họ đã thiết kế một thang đo mức độ stress đi kèm với các sự kiện thường gắn với cuộc sống hằng ngày gọi là thang đo sự
kiện cuộc sống (SRE: schedule of recent events - gồm 43 sự kiện cuộc sống) để tìm ra những tình huống
nào trong cuộc sống có khả năng gây stress nhiều nhất [31, tr 243] Ngoài ra cuộc nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận càng tích lũy nhiều khủng hỏang trong cuộc sống thì con người càng dễ bị đau ốm trong khỏang thời gian nào đó [31, tr 247], [84]
Việc ra đời của SRE được xem là một đóng góp rất có giá trị trong việc nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến stress Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác đã ứng dụng thang đo sự kiện cuộc sống vào
Trang 11những nghiên cứu của mình như Patrich và Holmes (1987) nghiên cứu tương quan giữa những sự kiện cuộc sống với thời gian mắc các bệnh mãn tính, A.L Beautrais và cộng sự (1982) lọc ra 20 trong 43 items trong thang đo nói trên để nghiên cứu dọc trên 1082 trẻ em theo dõi từ mới đẻ đến 4 tuổi, kết quả cho thấy gia đình nào có 12 biến cố trở lên thì số lần trẻ em của gia đình đó phải vào viện gấp 6 lần so với nhóm gia đình chỉ có 3 biến cố và các bệnh thường gặp là viêm phổi, tiêu chảy, tai nạn, bỏng, ngộ độc H.A Williamson (1989) dùng thang đo trên để theo dõi 513 phụ nữ mang thai để nghiên cứu liên quan giữa biến cố cuộc sống với các biến cố lúc chưa sinh [31, tr 248-249]
Một hướng nghiên cứu khác về stress là nghiên cứu mặt tích cực của stress : những người này cho rằng, stress không thể thiếu trong cuộc sống mà “thiếu stress” vì thế cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực (Frankenhaeuser, 1978), Những người được bảo vệ tránh stress quá mức có lẽ có nguy cơ cao bởi vì họ không thể phát triển được những kỹ năng ứng phó cần thiết trong đời sống hằng ngày (Murphy, 1979) Stress có thể dẫn đến những hệ quả tích cực Giải quyết thành công những đe dọa và thách thức sẽ đưa đến những cảm xúc tích cực, tạo nên những cảm giác về tính hữu dụng của bản thân
và sức khỏe thể chất [84]
Nhìn chung, hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về stress, có những nghiên cứu thuần túy lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, thực tiễn trên một đối tượng nhất định hoặc kết hợp cả hai trên nhiều lĩnh vực riêng lẻ y học, sinh học, tâm lý học, xã hội học hoặc những nghiên cứu liên ngành Những kết quả nghiên cứu đó giúp cho con người hiểu biết thêm về stress và có cách ngăn chặn những tác động của nó khi mà xã hội hiện nay stress đang ngày càng trở nên phổ biến Riêng đối với lĩnh vực tâm lý học, tác giả L.A Kitaepxmưx (1983) đã thống kê các sách báo khoa học nghiên cứu stress bằng tiếng Anh và Đức từ năm 1976-1980 có trên 1000 tài liệu được công bố [27, tr12] , cho đến nay thì con số đó đã tăng lên đáng kể, điển hình là chỉ bằng thao tác tìm kiếm trên công cụ Google với
từ chính xác “psychology of stress” thì có 6.018 kết quả, với cụm từ “ psychology studies on stress “ thì có 1.180 kết quả , đó là chưa kể đến những nghiên cứu không đưa lên internet và những ngôn ngữ khác…điều này cho thấy tâm lý học hiện nay đã quan tâm nghiên cứu rất nhiều về stress, và nhiều trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa stress vào nội dung giảng dạy cho sinh viên, có thể khái quát những xu hướng nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu nội hàm của khái niệm stress dưới góc độ tâm lý học : Gatchel & Baum (1983) R.S Lazarus and S Folkman (1984), S Palmer (1999), nhà tâm lý học Mc Grath, Robert S Feldman (1997), Stephen Worchel và Wayne Shebilsue, bác sĩ Eric Albert, nhà tâm lý học, người sáng lập Viện nghiên cứu stress
- Nghiên cứu stress tâm lý : bao gồm những biểu hiện về mặt tâm lý khi bị stress và những ảnh hưởng tâm lý của stress đối với cá nhân, những phương pháp,liệu pháp tâm lý giải tỏa stress, cách phòng ngừa stress về mặt tâm lý v.v …điển hình như một số nghiên cứu của Weiss (1972), Lagone (1981), [19]
- Nghiên cứu những tác nhân gây stress, phân loại chúng và những ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý cá nhân đến việc xuất hiện và duy trì stress, cũng như loại bỏ nó như loại nhân cách và stress,
Trang 12ảnh hưởng của cảm xúc và quá trình nhận thức đến stress …Fleming, Baum & Singer (1984), Paterson
& Neufeld (1987), Lazaus &Cohen (1977), Folkman (1984), Rodin (1986), Taylor (1991) v.v…[52]
- Nghiên cứu những cách ứng phó, đương đầu với stress : Folkman & Lazarus (1980) , Adwin & Revénon (1987), Compas (1987), Miller, Brody & Summerson (1988), Amirkhan (1990), Sarason (1990) v.v…[52]
- Nghiên cứu ảnh hưởng của stress trong mối liên hệ với tâm lý học sức khỏe, bệnh tật và những rối loạn tâm lý, tâm thể, tâm lý học thần kinh v.v…như Mason (1975), Selye (1976), Kiecolt-Glaser
&Glaser (1986), Schneiderman (1983), Brown (1984), Eckenrode (1984) v.v…[52] Năm 1977, Caroline Bedell Thomas đã công bố kết quả nghiên cứu từ năm 1946-1977, những người thường kiềm nén cảm xúc, che giấu các tình cảm mạnh, cả tiêu cực, lẫn tích cực trước tình huống khó thì dễ bị ung thư Bên cạnh đó, stress làm giảm hiệu quả của các loại vacxin, làm suy giảm hệ thống miễn dịch (nghiên cứu của giáo sư Janice Kiecolt Glaser và tiến sĩ y học Ronald Glaser, tiến sỹ y học Sheldon Cohen ) Tiến sĩ y học William Malarkeep còn cho thấy stress còn ảnh hưởng đến cả tuổi tác và tuổi thọ Philip Cowen và Walter Kaye (1989) nghiên cứu sự tác động của stress với rối loạn tiêu hóa [8]
- Nghiên cứu stress trong các chuyên ngành của tâm lý như tâm lý học lao động (stress nghề nghiệp), tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học gia đình (stress gia đình), tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm v.v, tâm lý học hành vi v.v hoặc nghiên cứu stress trên những đối tượng khác nhau (giáo viên, bác sĩ, CN, phụ nữ, nam giới, sinh viên, nhà quản lý v v…)
Tình hình nghiên cứu stress trên thế giới đã bắt đầu từ rất lâu và đang diễn ra rất phổ biến nhưng đối với Việt Nam, nghiên cứu về stress là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, nhất là trong tâm lý học, stress chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu một cách khoa học trong mấy chục năm trở lại đây
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress của CN ở Việt Nam
1.1.2.1 Những nghiên cứu mang tính lý luận
Hiện nay, ở Việt Nam stress vẫn chưa được nghiên cứu nhiều như những vấn đề khác, trong các trường đại học có chuyên khoa tâm lý học vẫn chưa đưa stress vào nội dung giảng dạy chính thức nên chưa có một hệ thống lý luận chung cho vấn đề stress, chủ yếu những kiến thức người học biết được về stress tham khảo từ những cuốn sách, bài viết trên các phương tiện thông tin hoặc từ kết quả nghiên cứu của những lĩnh vực khác
Có thể nói, một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về stress là của tác giả Tô Như Khuê vào những năm 60 của thế kỉ XX, với những tác phẩm và bài viết liên quan đến stress trong lĩnh
vực quân sự, trong lao động , kỹ thuật , đời sống cụ thể như “phòng chống trạng thái căng thẳng
(stress ) trong đời sống và lao động” năm 1976, “đại cương tâm lý học kỹ thuật quân sự” năm 1980, “ cảm xúc và căng thẳng cảm xúc trong lao động” năm 1995, “ đại cương tâm sinh lý học lao động và tâm lý học kỹ thuật” năm 1997
Sau đó, có thêm một số cuốn sách viết về stress được xuất bản cung cấp những kiến thức khái quát về stress như định nghĩa stress , dấu hiệu nhận biết stress, hậu quả của stress, cách ứng phó với stress như tác phẩm “ stress trong thời đại văn minh” của Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm đề
Trang 13cập đến stress như là một hiện tượng phổ biến của xã hội hiện đại, mọi người đều có nguy cơ bị stress và chịu tác hại của nó vì thế cần có những cách phòng ngừa và loại bỏ stress Tác phẩm “ Stress và sức khỏe”, “ Cơ sở tâm lý học ứng dụng”, hoặc “ Tâm lý học và đời sống” của Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện….cung cấp một hệ thống lý luận về stress làm cơ sở tham khảo lý luận cho những người nghiên cứu về stress ở Việt Nam sau này, nhưng chủ yếu những nội dung trong các sách này được tham khảo và dịch từ những tác phẩm nước ngòai Hơn nữa , hai ông còn có một số bài viết về vấn đề stress ở trẻ em Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Phúc với tác phẩm “ tâm
lý học y học” đã chỉ rõ tác hại của stress tiêu cực với sức khỏe con người và cách phòng chống stress tiêu cực [dẫn theo 27, tr17]; Nguyễn Công Khanh với tác phẩm “ tâm lý trị liệu” đóng góp những liệu pháp tâm lý trong việc giải tỏa stress
1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu thực tiễn về stress
Trong những năm gần đây, stress đã bắt đầu được nghiên cứu dưới dạng những nghiên cứu mang tính thực tiễn, như một công trình nghiên cứu khoa học nhiều hơn, làm phong phú thêm những hiểu biết của chúng ta về stress Nếu như trước đây, chúng ta chỉ thấy có một vài công trình nghiên cứu cấp bộ về stress của Tô Như Khuê từ năm 1983 -1995 nghiên cứu stress của các bộ đội hoặc các phương pháp phòng chống, giải tỏa stress như dùng võ thuật Thì hiện nay, chúng ta đã có thêm những nghiên cứu về stress qua các hội thảo khoa học “ Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và thanh thiếu niên” do Viện sức khỏe tâm thần thuộc bệnh viện Bạch Mai tổ chức (1997) đã nghiên cứu vấn đề stress trên đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên; Hội thảo Việt – Pháp về tâm lý học “ trẻ em, văn hóa, giáo dục” (2000) tập hợp những nhà tâm lý học, xã hội học đầu ngành của Việt Nam và thế giới để trao đổi về những nghiên cứu liên quan đến trẻ em, trong đó các tác giả Nguyễn Công Khanh
đã có bài báo cáo về những rối nhiễu liên quan đến stress qua các trường hợp trị liệu điển hình, và Lại Thị Bưởi cùng cộng sự với cuộc nghiên cứu “Tìm hiểu stress về thay đổi môi trường sống thanh thiếu niên dân tộc ít người tại trường phổ thông vùng cao Việt Bắc” đã nêu ra những nhân tố tâm lý do thay đổi môi trường sống gây ra stress và các biểu hiện về mặt cơ thể, tâm lý khi bị stress
Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về stress được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Nguyễn Bá Đạt ( 2001) “ Ảnh hướng của stress đến kết quả thi học kì của sinh viên”, nghiên cứu biểu hiện tâm sinh lý và kết quả học tập của những sinh viên bị stress trong kì thi Phạm Thị Thanh Hương (2004) “ một số biểu hiện và mức độ stress ở sinh viên trong học tập” nghiên cứu mức độ stress nói chung và stress ở sinh viên đại học sư phạm hà nội trong học tập, các biểu hiện và thực trạng việc sử dụng các biện pháp giảm stress có hại ở sinh viên; Phạm Thanh Bình (2007) “ stress trong học tập của học sinh trung học phổ thông” nghiên cứu nhận thức của học sinh THPT về stress , mức độ và nguyên nhân gây stress trong học tập của học sinh THPT; Nguyễn Hữu Thụ và Nguyễn Bá Đạt (2009) nghiên cứu những nguyên nhân và cách ứng phó của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội với stress trong học tập;
Lê Thị Thanh Thủy (2009) với bài “ stress trong học tập và cách ứng phó ở học sinh cuối cấp trung học phổ thông” nghiên cứu mức độ , nguyên nhân gây stress trong học tập, ảnh hưởng của stress tới học tập, cách ứng phó với stress của học sinh cuối cấp THPT
Trang 14Ngoài ra, đã có thêm những công trình nghiên cứu dưới hình thức luận văn, luận án cũng đã chọn stress làm vấn đề nghiên cứu như Nguyễn Mai Anh (1991) với luận văn cử nhân tâm lý bước đầu
tìm hiểu “stress của sinh viên trong học tập” đã nghiên cứu ảnh hưởng của stress đến chất lượng bài thi của sinh viên; Nguyễn Thành Khải (2001) với luận án tiến sĩ “ Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý”
nghiên cứu mức độ, biểu hiện, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới stress và thựuc trạng sử dụng các phương pháp làm giảm stress ở cán bộ quản lý, đây có thể được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên ở nước ta về vấn đề stress ở cán bộ quản lý và bổ sung thêm những lý thuyết về stress một cách hệ
thống; Nguyễn Thị Kim Quy (2004) với luận văn tốt nghịêp đại học “ Bước đầu tìm hiểu thực trạng
stress ở sinh viên trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM” nghiên cứu thực trạng, ảnh hưởng tiêu cực của
stress đến việc học tập và ứng xử của sinh viên; Gần đây có một số luận văn thạc sĩ tâm lý học đã
nghiên cứu về vấn đề stress trên các đối tượng khác nhau như Trần Anh Thụ (2005) “ Nghiên cứu
stress ở những người tuổi trung niên” đã nghiên cứu mức độ, nguyên nhân gây stress, biểu hiện về mặt
tâm lý, các biện pháp ứng phó với stress và tương quan giữa nhận thức và stress, kiểm nghiệm 2 biện
pháp giảm stress là thiền của Phật giáo và cầu nguyện của Công giáo ; Lại Thế Luyện (2007) “ biểu
hiện stress trong sinh viên trường ĐHSP Kỹ thuật Tp.HCM” đã nghiên cứu những biểu hiện , nguyên
nhân và cách ứng phó của sinh viên với stress trong học tập và cuộc sống; Nguyễn Thị Hải (2008) với
luận văn thạc sĩ “ nghiên cứu stress ở người trưởng thành” nghiên cứu mức độ, biểu hiện, nguyên
nhân, hậu quả của stress ở người trưởng thành và chứng minh hiệu quả của yoga đến việc giải tỏa stress
1.1.2.3 Những công trình nghiên cứu thực tiễn về stress ở CN
Với đối tượng CN, hiện nay đã có một số nghiên cứu về stress trên đối tượng này nhưng chủ yếu ở lĩnh vực y học và xã hội học, có thể kể đến các công trình sau:
Cuộc khảo sát từ dự án “Bạn gái với các vấn đề xã hội” của Trung tâm công tác xã hội thanh
thiếu niên (Trung ương Hội LHTNVN) phối hợp với Công ty Diana thực hiện trên 326 nữ CN làm việc tại ba khu công nghiệp - khu chế xuất TP.HCM là Tân Thới Hiệp, Tân Bình và Linh Trung, có phần nghiên cứu về tình trạng stress ở CN và những việc họ thường làm khi bị stress [60], [79], đề tài mang tính một cuộc nghiên cứu xã hội về một số nội dung liên quan đến stress ở CN nữ mà không nghiên cứu ở nam
Lê Thị Bưởi , “Nghiên cứu sức khoẻ tâm thần và các Stress ở CN ngành may mặc” Nghiên cứu
trên 1066 CN may mặc nhằm đánh giá thực trạng sức khỏe tâm thần và các căng thẳng (stress) nghề nghiệp, xác định các yếu tố nguy cơ gây stress [61], đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu stress ở CN may mặc
Nguyễn Bạch Ngọc , “Stress nghề nghiệp và sức khoẻ tâm thần của người vận hành” nghiên
cứu 84 nam CN vận hành công trình ngầm, tuổi từ 22-43, thâm niên công tác từ 1 đến 15 năm Các thử nghiệm đối với CN đã được đo 3 lần trong 1 ca (ca sáng) vào các thời điểm trước khi vào cao, trước khi nghỉ ăn trưa và trước khi tan ca Kết quả làm test Zung và Beck của 41 sinh viên được dùng để làm chứng[78] Đề tài này cũng chỉ nghiên cứu CN làm việc ở công trình ngầm
Trang 15Qua những nghiên cứu trên có thể thấy nghiên cứu vấn đề stress ở CN không phải là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ ở nước ta mà nó đã được nghiên cứu bởi những nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác như y tế và xã hội học, nhưng có sự giới hạn về đối tượng đa số là CN may, nữ CN hoặc các CN trong những công trình ngầm và nội dung nghiên cứu thì thường nghiên cứu stress trong mối quan hệ với những rối loạn tâm thần Riêng đối với chuyên ngành tâm lý học, chúng tôi chỉ tìm thấy một nghiên cứu
về stress nghề nghiệp ở CN do Trịnh Thị Minh Dung thực hiện trong luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành tâm lý học “ Bước đầu tìm hiểu stress nghề nghịêp ở nữ CN một số công ty tại khu công nghịêp Biên Hòa” (2005), chủ yếu nghiên cứu mức độ biểu hiện, nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp, những ảnh hưởng về mặt tâm lý và cách ứng phó của nữ CN đối với stress nghề nghiệp Đề tài này chỉ giới hạn trên đối tượng nữ CN và vấn đề stress nghề nghiệp ở một khu công nghiệp tại Biên Hòa Trong giới hạn của mình chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu một cách khái quát vấn đề stress ở CN nói chung đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh Như vậy có thể thấy đây là một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ và bỏ ngõ chưa được quan tâm nhiều trong giai
đoạn hiện nay, do đó chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề stress của CN ở một số khu chế xuất,
khu công nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” để bổ sung thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong việc
nghiên cứu vấn đề stress của CN ở nước ta nói chung và của chuyên ngành tâm lý học nói riêng
1.2 Những lý luận chung về stress và stress ở CN
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm stress
Khi nghiên cứu về stress, mỗi người nghiên cứu thường đưa ra một khái niệm về stress của mình,
do đó cho đến nay có rất nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về stress, mỗi khái niệm đều đề cập đến một hoặc vài khía cạnh, bình diện khác nhau của stress, nhưng tập trung lại có những cách hiểu sau về stress :
Hướng thứ 1: xem stress là một tình trạng căng thẳng, chịu áp lực, sự mất cân bằng do nhiều tác nhân gây ra
Theo nghĩa thông dụng: vào thế kỷ thứ 17, stress được dùng với nghĩa để chỉ một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra phản ứng căng thẳng Ngày nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi để nói về sự căng thẳng cũng như những hậu quả và tác động của nó đến sức khỏe con người [70]
Trong từ điển tâm lý học của Nga, theo V.P.Dintrenko và B.G.Mesiriakova, “stress là trạng thái
căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động ở những điều kiện phức tạp, khó khăn của đời sống hằng ngày, cũng như trong những điều kiện đặc biệt [18, tr19] Định nghĩa này nêu
ra được 2 khía cạnh là bản chất và nguồn gốc gây stress
Trong Merriam-Webster Medical Dictionary thì danh từ stress chỉ “tình trạng căng thẳng thể lý
và tinh thần do những nhân tố làm thay đổi trạng thái cân bằng hiện tại” [45,16] Định nghĩa này đề cập thêm stress không chỉ là căng thẳng tinh thần mà còn căng thẳng thể lý và nêu lên khía cạnh thứ 3 của stress là ảnh hưởng của nó, làm thay đổi trạng thái cân bằng hiện tại
Trang 16Trong The American Heritage Dictionary of the English Language, stress là “một tình trạng gây
khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc, tinh thần, xảy ra khi cơ thể phản ứng lại những ảnh hưởng trái ngược bên ngoài và có thể làm ảnh hưởng tới sức khỏe thể lý dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: tim đập nhanh, huyết áp cao, căng cơ, cảm giác khó chịu, và ưu phiền” [45,16] Định nghĩa này chỉ ra cả 3 khía cạnh của stress , nhất là chỉ rõ những dấu hiệu của stress về mặt cảm xúc và thể lý
Trong A Dictionary of psychology của Andrew M Colman , stress là “căng thẳng thể lý và tâm lý phát
sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm khó có thể chịu đựng hoặc vượt qua như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội, cảm xúc và thể lý” [45,17]
Theo từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên “ stress là một thuật ngữ có giới hạn rộng dùng để chỉ
những trạng thái của con người xuất hiện do phản ứng với những tác động đa dạng từ bên ngoài ở các mức độ sinh lý, tâm lý, hành vi [14, tr 241]
Theo J Delay “ stress là một tình trạng căng thẳng cấp diễn ra của cơ thể bị bắt buộc phải điều động những
tổ chức phòng vệ của nó để đương đầu với một tình huống đe doạ” [15]
Theo S Palmer (1999), Stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường của cá nhân
để ứng phó
=> Các định nghĩa này giống nhau ở chỗ không chỉ ra ảnh hưởng của stress ra sao
Theo Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện “stress được định nghĩa là một lực vật lý hoặc tâm
lý mà khi tác động vào một hệ thống thì đủ tạo ra sự căng thẳng hay méo mó trong hệ thống hoặc nếu rất mạnh thì làm hỏng hệ thống đó”
Nguyễn Công Khanh hiểu “stress là trạng thái căng thẳng của cơ thể , phản ứng lại với những kích thích bên trong hoặc bên ngoài cơ thể” [28,185]
Trong luận án tiến sĩ về Stress ở cán bộ quản lý, Nguyễn Thành Khải đã đưa ra định nghĩa stress “ dưới
góc độ tâm lý học, stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống.” [27, tr20]
=> Ba định nghĩa trên không chỉ ra được nguồn gốc gây stress
Trong luận văn stress ở người trưởng thành, Nguyễn Thị Hải đã định nghĩa “stress là trạng thái
căng thẳng về mặt tâm lý, xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động gặp phải những biến cố, những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơ căng, cảm giác mệt mỏi, khó chịu, hoặc ưu phiền, chán nản…có thể dẫn đến những hậu quả nhiều mặt tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người” [18, tr 22]
Định nghĩa này nêu ra được đầy đủ 3 khía cạnh của stress và những dấu hiệu cụ thể của nó Tuy nhiên về bản chất thì khác nhau, một người thì cho rằng stress là tình trạng khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc và tinh thần, người kia thì xem stress là trạng thái căng thẳng tâm lý
Hướng thứ 2: Xem stress là những đáp ứng, phản ứng sinh học của cơ thể hoặc một quá trình phản ứng của con người
Theo Hans Selye (1930) “stress là mọi đáp ứng của cơ thể trước mọi yêu cầu hay đòi hỏi tác động lên cơ thể đó” [15] Trong đời sống hàng ngày, stress là hiện tượng sinh lý (physiologique) cần thiết cho
Trang 17con người Nhờ có stress ta mới đáp ứng được với các điều kiện thay đổi không ngừng của môi sinh Ông đã viết “ không có stress là chết” Ngược lại, stress mạnh quá hay nhiều quá, có thể gây ra bệnh tật
Do đó ông đưa ra 2 cụm từ “ eutress” (những stress ảnh hưởng tích cực , có lợi cho con người) và “ distress” (những stress tiêu cực gây hại đến sức khỏe của cá nhân) Định nghĩa này mở ra một cách hiểu mới về stress , trước đây mọi người đều cho rằng stress chỉ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, chứ không biết rằng stress cũng có mặt tích cực của nó
Theo Robert S Feldman (1997), stress là phản ứng của con người trước các sự kiện đang đe dọa hay thách thức họ.[87] Định nghĩa này không nêu ảnh hưởng của stress và nhấn mạnh đến tính chất đe dọa, thách thức của sự kiện là nguồn gốc gây stress
Theo Stephen Worchel và Wayne Shebilsue, “ stress là một quá trình mà bằng cách đó con người phản ứng lại với các sự kiện môi trường và tâm lý mà được nhận thức là đe doạ hoặc thách thức” [19,
tr 429] Định nghĩa này nhấn mạnh đến yếu tố nhận thức cá nhân về nguồn gốc gây stress
Hướng thứ 3 : Stress như một sự kiện từ môi trường
Theo bác sĩ Eric Albert, nhà tâm lý học, người sáng lập Viện nghiên cứu stress thì “ stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổi thay”
Theo Holroyd (1979), stress như một sự kiện từ môi trường đòi hỏi một cá nhân phải thử thách những tiềm năng và đáp ứng không bình thường [84]
Như vậy, Stress hình thành do những “đòi hỏi” của sự kiện môi trường hơn là bên trong cá nhân người ấy , cách hiểu này có hạn chế ở chỗ là không phải sự kiện nào từ môi trường cũng gây ra stress và không phải ai cũng bị stress bởi một sự kiện như nhau
Hướng thứ 4: Xem stress là một hiện tượng nhận thức của cá nhân, một quá trình tương tác với môi trường
Theo giáo sư Ferreri, stress được hiểu là mối liên quan giữa con người và môi trường xung quanh, nó vừa để chỉ tác nhân kích thích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó Như vậy stress là mối tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể [10, 47]
Theo Charles Spielperger stress là quá trình tương tác giữa khả năng đáp ứng của mỗi cá nhân với những đòi hỏi được đặt ra cho cá nhân đó trong môi trường của họ, quá trình tương tác đó có thể ảnh hưởng xấu về nhiều mặt (sinh lý, tâm lý, cảm xúc, hành vi) [50,17]
Theo Gatchel & Baum (1983), “stress là một tiến trình mà bằng cách đó con người phản ứng lại với các sự kiện môi trường và tâm lý được nhận thức là sự đe dọa hoặc thách thức” [19, tr 429]
Theo R.S Lazarus (1966), “stress như một quá trình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường là có tính chất đe dọa và có hại, và đòi hỏi đương sự phải cố gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của mình” [84] Stress là một diễn tả chủ quan, từ trong tâm trí, nên nó xuất hiện tùy theo cách nhìn của con người với sự việc (nó có chứa đựng yêu cầu cao đối với cá nhân không, nó có đe dọa chủ thể không; và nhìn nhận về khả năng ứng phó của mình: liệu bản thân mình có đủ nguồn lực để đáp ứng được với những yêu cầu và đe dọa đó không Một sự kiện chỉ gây stress khi cá nhân nhận định là “có hại”, và khi thiếu các phương tiện để ứng phó) Đồng ý với quan
Trang 18điểm này Nguyễn Khắc Viện đã nêu “stress là một vấn đề mang tính cá nhân, ta trải nghiệm bao nhiêu stress là do bản chất của tác nhân gây stress quyết định, do cách stress được lý giải ra sao, những nguồn lực sẵn có để đối phó với tác nhân gây stress và loại căng thẳng nào ta chịu ảnh hưởng” Cũng như theo
Tô Như Khuê, “stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro,
ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [45,tr18]
Hướng thứ 5: một quan điểm hệ thống về stress
Quan điểm này được xây dựng bằng cách tích hợp các bình diện sinh học, tâm lý, môi trường, và
đặc biệt là yếu tố nhận thức cá nhân của stress, xem stress là một khái niệm mang tính tổ chức, liên hệ
đến nhiều thông số và quá trình Vì thế, “stress là một đáp ứng tích hợp sinh học - tâm lý - xã hội với những sự kiện được xem là có hại và đòi hỏi những kỹ năng ứng phó của đương sự”[84] Đóng góp của định nghĩa này cho thấy tính đa dạng, phức tạp của stress, nhất là sự đa dạng, phức tạp trong phản ứng với stress Do đó, khi nghiên cứu những phản ứng với stress cần nghiên cứu trên cả 3 mặt sinh học, tâm lý, xã hội
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về stress, có những định nghĩa về stress dựa trên bình diện sinh học, có những định nghĩa dựa trên bình diện tâm lý hoặc môi trường hoặc phối hợp cả ba bình diện đó , có những định nghĩa đơn giản, có những định nghĩa phức tạp hơn nhưng khái quát lại các định nghĩa đó đã chỉ ra được:
+ Bản chất của stress : stress là một tình trạng đang chịu một sức ép hay áp lực mạnh hoặc một trạng thái căng thẳng về nhiều mặt ( sinh lý, tâm lý) biểu hiện qua các dấu hiệu cơ thể; hoặc stress như một quá trình tương tác giữa con người và môi trường; hoặc stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi; hoặc stress là mọi đáp ứng, phản ứng của con người xảy ra một cách chung khắp, trên nhiều bình diện ( sinh lý, tâm lý, xã hội) với những tác động vào người đó
+ Những nguồn gốc ( tác nhân, nguyên nhân ) gây stress hoặc góp phần tạo nên stress : một phần
do bản chất của những kích thích (sức ép) đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra (tự tạo
áp lực ), một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về nguồn gốc gây stress ra sao và nhận thức về khả năng và tiềm lực của bản thân, cũng như các nguồn lực sẵn có để ứng phó (stress xuất hiện khi thiếu khả năng, nguồn lực để ứng phó)…
+ Những ảnh hưởng, hệ quả của stress : gây ra những hậu quả và ảnh hưởng đến sức khỏe con người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý (quá trình nhận thức, cảm xúc,hành vi), xã hội (cuộc sống, hoạt động thường ngày…) và những hậu quả đó sẽ tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người
Theo chúng tôi, một khái niệm stress đầy đủ phải chỉ ra được 3 khía cạnh của stress là bản chất, nguồn gốc và ảnh hưởng của stress Do đó trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hiểu dưới góc
độ tâm lý học: stress là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của con người gây ra sự căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do con người phản ứng lại với những nhân tố tác động, trong đó một phần do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra,
Trang 19một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về những kích thích đó, về khả năng, tiềm lực của bản thân, các nguồn lực sẵn có để ứng phó; quá trình này gây ra những ảnh hưởng cho con người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý, xã hội”
1.2.1.2 Khái niệm CN và stress ở CN
a Khái niệm CN
Theo viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ
điển ngôn ngữ Hà Nội 1992 “ CN là những người lao động chân tay, làm việc ăn lương” [15, tr 35]
Theo Lênin “ CN là những người lao động công nghiệp, làm việc trong nền đại công nghiệp” [5,
tr 12]
Trong nền sản xuất xã hội thì CN là một lực lượng xã hội, còn trong thể chế chính trị thì CN là một giai cấp xã hội, đây là một giai cấp được nhiều nhà nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học quan tâm:
Theo tác giả Đan Tâm “ Giai cấp CN Việt Nam là cộng đồng xã hội những người làm công ăn lương, thu nhập và nguồn sống chủ yếu là tiền công , trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công nghịêp hoặc có tính công nghiệp, tạo ra sản phẩm công nghiệp hoặc có tính công nghiệp; nắm giữ những cơ sở vật chất kĩ thuật then chốt của xã hội, tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới và là cộng đồng làm chủ xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [44, tr 102]
Tác giả Bùi Đình Bôn đã rút ra một kết luận từ ý kiến của những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học và từ thực tiễn hiện nay về công nhân“ đặc trưng chủ yếu của giai cấp CN là lao động công nghiệp, trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào quá trình sản xuất công nghịêp tạo ra giá trị vật chất cho xã hội” [5, tr 14] Cũng theo tác giả, không thể quan niệm giai cấp CN chỉ bao gồm những người lao động chân tay, điều khiển các máy móc cơ khí, mà theo ông do sự phát triển của lực lượng sản xuất, một bộ phận trí thức đã gia nhập giai cấp CN thực hiện chức năng của người CN lành nghề trong sản xuất ( là những người gắn liền trực tiếp với lao động công nghịêp, với quy trình sản xuất công nghịêp tạo ra của cải vật chất cho xã hội) , và thêm nữa cả những người lao động trong các ngành dịch
vụ công nghiệp mà lao động của họ có tính chất công nghiệp cũng nằm trong nội hàm khái niệm giai cấp CN Cũng không nên đưa tất cả những người lao động “ làm công ăn lương” vào giai cấp CN nếu
họ không có hoạt động lao động sản xuất trực tiếp hoặc tham gia vào quy trình sản xuất công nghiệp [5, tr 15]
Từ những khái niệm và phân tích trên đây có thể thấy khái niệm CN là một khái niệm tương đối
rộng nhưng trong giới hạn đề tài của mình chúng tôi hiểu “CN là một lực lượng lao động những người
làm công ăn lương, thu nhập chủ yếu bằng tiền công, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp hoặc có tính công nghiệp, tạo ra giá trị của cải vật chất cho xã hội.”
b Khái niệm stress ở CN
Từ khái niệm về stress và khái niệm CN nêu trên chúng tôi định nghĩa về stress ở CN như sau :
Stress ở CN là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của mỗi người CN, gây ra
sự căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do mỗi người phản ứng lại với những nhân tố tác động - một phần
Trang 20do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngòai liên quan đến đời sống sinh lý, tâm lý, xã hội
và các hoạt động đặc trưng của CN, hoặc do chính bản thân mỗi người gây ra, một phần do nhận thức của họ về những kích thích đó, nhận thức về khả năng, tiềm lực của bản thân, cũng như các nguồn lực sẵn có để ứng phó với nó; quá trình này sẽ gây ra những ảnh hưởng đến CN ở các mặt sinh lý, tâm lý, xã hội.”
1.2.2 Một số đặc điểm tâm sinh lý, xã hội của CN
1.2.2.1 Đặc điểm xã hội của CN
CN vừa là một lực lượng lao động trong xã hội, vừa là một giai cấp chính trị và giữ vai trò lãnh đạo trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa nhưng trong đề tài này chúng tôi sẽ không đề cập đến vai trò sứ mệnh lịch sử đó, mà chủ yếu quan tâm đến những mặt khác trong đặc điểm của CN Việt Nam, đó là:
- Đội ngũ CN Việt Nam có nguồn gốc xuất thân chủ yếu từ nông dân nên còn những mặt hạn chế như: tính tổ chức, kỷ luật chưa cao; tư tưởng, tâm lý, tác phong và thói quen của những người sản xuất nhỏ còn khá nặng nề, chưa trải qua hoạt động kinh tế đại công nghiệp, đa số họ chưa qua đào tạo về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật, họ làm việc vì nhu cầu cơm ăn, áo mặc Khi chịu ảnh hưởng nhiều bởi những yếu tố đó, có nhiều CN chưa thích ứng được với những yêu cầu trong lao động công nghiệp trong khi chủ nhân thuê mướn của họ lại là những người mang tác phong công nghiệp và quan hệ giữa
họ là quan hệ chủ tớ với những quy tắc và cách ứng xử nghiệt ngã, nên những mâu thuẫn chủ tớ sẽ diễn
ra Thực tế hiện nay ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TPHCM sử dụng phần lớn là CN, lao động trẻ, đa số là dân nhập cư chiếm khoảng 71% số lượng CN (theo số liệu của ban quản lý các KCX-KCN TPHCM) [5], [57]
- Mặc dù số liệu thống kê cho thấy trình độ tri thức, trình độ tay nghề của CN mỗi năm một cao hơn, nhưng mặt bằng chung là vẫn còn thấp vì các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho CN, cũng như chưa có các chính sách thỏa đáng về lương, ưu đãi và các phúc lợi, quyền lợi vật chất, tinh thần khác đối CN bậc cao, lành nghề , còn mang tính chất bình quân nên không khuyến khích được CN phấn đấu nâng cao bậc thợ, tay nghề Hơn nữa, cuộc sống của người CN hiện nay vẫn khó khăn nên họ thiếu thời gian, điều kiện, nhiệt tình và lòng say mê nghề nghịêp để rèn luyện, nâng cao tay nghề, bậc thợ [5, tr 36,37] , [57, tr 19], [68]
- Điều kiện lao động, môi trường lao động và môi trường sống, đời sống của CN đang thiếu những đảm bảo cần thiết: biểu hiện ở mức độ thiếu an toàn lao động, thiếu các phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động, sự gia tăng bệnh nghề nghiệp làm suy giảm sức khỏe và năng lực lao động của CN, nhiều CN đang phải làm việc quá số giờ làm việc/ngày/tháng theo qui định của luật lao động; tình hình việc làm ngày càng căng thẳng, lương không đủ sống, người CN phải xoay sở mọi cách để tồn tại, phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày, đặc biệt đối với CN nhập cư gặp nhiều bất lợi về điều kiện sống, như diện tích nơi ở chật chội, giá điện nước cao, nguồn nước và môi trường kém vệ sinh Tại các khu dân
cư có đông CN ở trọ còn quá thiếu các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao, phổ biến về kỹ năng sống, hoạt động đoàn thể và cộng đồng mà họ có thể tham gia Cũng chính vì điều đó mà CN ít
Trang 21quan tâm và không tích cực tham gia các hoạt động xã hội, thờ ơ với tình hình chính trị- xã hội trong nước và trên thế giới, ngại học tập, đời sống tinh thần thiếu thốn; gặp khó khăn trong việc “hòa nhập xã hội” (bất lợi, thiệt thòi trong các mối quan hệ xã hội) dẫn đến tình trạng thiếu "vốn xã hội" – được hiểu
là những mối quan hệ và mạng lưới, các nhóm chính thức và phi chính thức và các tổ chức xã hội có liên quan đến CN [5, tr 45, 51], [57, tr 18, 236], [68], [87]
- Những chính sách xã hội dành cho CN chưa được thực hiện rộng rãi như chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, vấn đề nhà ở cho CN vẫn đang là vấn đề đáng lo ngại [68] Hiện nay, ở TPHCM hiện
có 7 dự án nhà lưu trú cho CN CN chỉ đáp ứng được cho 6.058 CN ở (theo số liệu của ban quản lý các KCX-KCN TPHCM)
- CN là một lực lượng lao động quan trọng trong ngành công nghiệp mà nước ta đang chú trọng phát triển để phát triển kinh tế, nên những biến động của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến CN gây
ra những tâm trạng lo lắng, bất an vì nguy cơ thất nghiệp và đời sống đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, mặt khác do những yêu cầu của thời đại công nghiệp nên CN cần phải có những thay đổi đáng kể để thích ứng, quá trình chuyển đổi vai trò từ một người lao động trong nông nghiệp sang công nghiệp luôn
có những thử thách, khó khăn đòi hỏi sự nỗ lực thích ứng của cá nhân để có thể tồn tại trong môi trường lao động công nghiệp luôn cần sự nhanh chóng và chính xác Từ đó, những hệ thống giá trị của cá nhân
và xã hội cũng thay đổi mà mỗi CN đều phải chịu tác động, đòi hỏi mỗi người phải cân nhắc, chọn lựa giá trị thích hợp cho bản thân
1.2.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của CN
Về mặt sinh lý : CN ở giai đoạn phát triển và hoàn thiện về thể chất, cũng như về mặt giới tính
Về mặt tâm lý CN có những đặc điểm sau:
- Về mặt nhận thức: do trình độ văn hóa của CN tương đối thấp nên nhận thức của họ về nhiều vấn đề trong cuộc sống, trong xã hội có nhiều hạn chế, điều này khiến cho họ có thể cảm thấy tự tin, mặc cảm và khó hòa nhập vào cuộc sống hiện đại của xã hội, nhiều CN vì thế hạn chế giao tiếp, tự cô lập mình với người khác rồi trở nên cô đơn không người thân thiết bên cạnh
- Về đời sống tình cảm: Họ đang trong lứa tuổi có những rung động giới tính và cảm xúc yêu đương với người khác giới, họ đã có những tình yêu thật sự và thông thường đó là những mối quan hệ để chuẩn bị cho một cuộc sống hôn nhân Trong tình yêu họ bộc lộ những thái độ, nhận thức và quan điểm riêng, cũng như bản sắc riêng của mỗi người Đối với CN, việc có được một mối quan hệ tình yêu tốt đẹp là điều rất quan trọng, và là một nhu cầu rất lớn, tình yêu là nguồn động viên và là động lực để họ sống và làm việc, ngược lại khi có những trục trặc trong mối quan hệ này thì sẽ ảnh hường không tốt đến tâm lý của CN, từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của họ Hơn nữa, một đặc điểm cũng đáng quan tâm của CN đang làm việc tại các KCN – KCX ở TPHCM là đa số họ là những người nhập cư và
tỷ lệ nữ CN nhiều hơn nam CN nên việc có được một người yêu phù hợp không phải là chuyện dễ dàng Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người cảm thấy hụt hẫng, cô đơn và chán nản khi
có những thất bại trong quá trình dẫn đến tình yêu và việc duy trì mối quan hệ đó Mặt khác, cũng chính
vì có nhiều vấn đề không thuận lợi trong việc tìm cho mình một tình yêu và duy trì tình yêu (xa nhà, kinh
Trang 22tế thiếu thốn, tỷ lệ nam nữ chênh lệch, không có môi trường giao lưu …) nên trong CN xảy ra các hiện tượng sống chung, sống thử trước hôn nhân hoặc bị lợi dụng tình cảm , dẫn đến những hậu quả đáng tiếc Không chỉ có mối quan hệ tình yêu ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của CN mà cả những mối quan hệ khác cũng có nhiều vấn đề nảy sinh Con người khi tồn tại ở một môi trường nào đó đều cần phải có những mối quan hệ với những người xung quanh, nhưng đối với CN hầu hết những mối quan hệ thân thiết của họ như những người bạn, hàng xóm láng giềng đều được hình thành từ khi họ còn sinh sống ở quê, lên thành phố với một môi trường xa lạ và nhiều phức tạp, nhiều CN không hòa nhập, thích nghi được nên đã chọn lối sống khép kín, quanh quẩn trong khu nhà trọ của mình do đó họ không thể tạo ra được cho mình những mối quan hệ thân thiết, làm chỗ dựa tinh thần cho mình, và tìm kiếm nguồn chia
sẻ động viên, vì thế nhiều CN cảm thấy lạc lõng, cô đơn, luôn mang trong mình nỗi nhớ nhà gia diết Nhưng vì cuộc sống mưu sinh họ đành phải lưu lại TPHCM để làm việc và nén lại những cảm xúc đó
- Hoạt động chủ đạo của CN: đó chính là hoạt động lao động trong ngành công nghiệp, đối với
CN mục đích chính của họ là làm việc để kiếm thu nhập chăm lo cho bản thân và gia đình nên khi có những vấn đề nảy sinh từ việc làm, công việc không như ý thì sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến
CN Theo tâm lý học lao động, trong hoạt động lao động công nghiệp, CN là một thành phần trong hệ thống người – máy – môi trường, nên luôn luôn có sự tương tác và ảnh hưởng qua lại với những thành phần khác như máy móc, trang thiết bị, tính chất công việc , môi trường vật lý, môi trường xã hội trong lao động công nghiệp, cụ thể hơn là mối quan hệ giữa CN với đồng nghiệp, với quản lý, với lãnh đạo,
sự tương tác giữa những đặc điểm tâm lý của cá nhân với yêu cầu công việc và phương tiện lao động, môi trường lao động [40] Sự tương tác này ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều mặt trong đời sống CN
- Các hoạt động để tạo ra sự cân bằng tâm lý: Những ảnh hưởng từ cuộc sống, những mối quan
hệ, công việc có thể gây ra sự mất cân bằng tâm lý cho CN nhưng do điều kiện kinh tế, điều kiện làm việc, thói quen sinh hoạt và hiểu biết nên nhiều CN không có điều kiện hoặc không biết cách tạo ra sự cân bằng về tâm lý cho mình
Sở dĩ chúng tôi đề cập đến những đặc điểm và thực trạng của CN Việt Nam hiện nay như trên là
vì nó có thể ảnh hưởng ít nhiều đến vấn đề stress của CN mà chúng tôi muốn nghiên cứu Những đặc điểm này sẽ được phân tích cụ thể hơn trong phần những nguyên nhân gây stress cho CN
1.2.3 Các mức độ của stress
Theo Tô Như Khuê, stress có 3 mức độ là [27, tr40] :
- Mức độ stress bình thường : là mức độ đảm bảo hoạt động sống bình thường, cho dù có chịu tác động bởi những tác nhân gây căng thẳng nhẹ hoặc vừa nhưng cá nhân vẫn giữ được trạng thái cân bằng, không có ảnh hưởng của yếu tố căng thẳng đáng kể , ở mức độ này hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường
- Mức độ stress cao : khi có các tác nhân gây căng thẳng đáng kể, cơ thể phải sử dụng thêm một
số các năng lượng và cấu trúc lại hệ thống chức năng để thích nghi với những kích thích đó, các phản ứng thích nghi đạt tới mức giới hạn nếu yếu tố gây căng thẳng đến mức tới hạn Ở mức độ này, mặc dù
có những biến đổi của cơ thể nhưng nó sẽ được hồi phục lại sau khi tác nhân ngừng tác động Tuy
Trang 23nhiên nếu mức độ này kéo dài, hoặc các tác nhân kích thích quá mức hơn nữa thì phản ứng thích nghi
sẽ không đáp ứng được nữa, cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái bệnh lý
- Mức độ stress bệnh lý : ở mức độ này, các phản ứng của cơ thể không còn hiệu quả mong muốn, các hệ thống chức năng mất tính mềm dẻo, môi trường bên trong có nhiều rối loạn và không trở lại bình thường khi kích thích ngừng tác động
Theo bác sĩ Đặng Phương Kiệt [31, tr39], stress có 3 mức độ, trong đó stress ở mức độ nhẹ là mức độ làm cho chủ thể cảm nhận như một thách thức, có thể là một kích thích làm tăng thành tích Stress ở mức độ vừa là mức độ phá vỡ ứng xử, có thể dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại Stress ở mức độ nặng là mức độ ngăn chặn ứng xử và gây ra nhứng phản ứng lệch lạc
Nguyễn Thành Khải [27] lại phân chia mức độ stress thành 3 mức độ dựa trên sự cảm nhận của chính chủ thể gồm mức độ rất căng thẳng khi chủ thể cảm nhận về mặt tâm lý là rất căng thẳng, khó chịu Mức độ căng thẳng khi chủ thể cảm nhận có sự căng thẳng cảm xúc, nếu mức độ này kéo dài sẽ chuyển qua mức độ rất căng thẳng Mức độ thứ ba là ít căng thẳng khi chủ thể cảm nhận bình thường hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ Tuy nhiên việc phân chia này mang tính tương đối, không có những tiêu chuẩn cụ thể để có thể phân biệt được sự khác nhau rõ rệt giữa các mức độ
Nguyễn Thị Hải [18, tr 29] lại phân chia mức độ stress thành 3 mức : ít trầm trọng khi stress chỉ biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể tự khắc phục được ; mức độ thứ hai là trầm trọng biểu hiện ở hai hay một số mặt, lặp đi lặp lại trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định ; mức độ thứ ba là rất trầm trọng biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra trong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian rất dài
* Mức độ của stress phụ thuộc vào các yếu tố sau: [33, tr208], [84]
+ Thời lượng: Mức nghiêm trọng của stress phụ thuộc vào khoảng thời gian một người cảm thấy mình phải chịu đựng stress Nếu stress diễn ra trong một thời gian ngắn thì con người vẫn có thể tập trung sức lực để vượt qua, không bị mất niềm tin vào bản thân và tương lai Nếu stress cứ tiếp diễn, con người sẽ mất tinh thần, sức lực và hi vọng bị hao mòn, ít còn khả năng chịu đựng Nếu stress kéo dài mà con người chỉ có các đáp ứng sinh lý mà không có cách ứng phó khác thì sẽ dẫn đến kiệt sức
+ Cường độ: Khi hậu quả của stress gây lâm nguy cho sự tồn tại và an toàn cho cá nhân thì stress được cho là ở mức độ nghiêm trọng Một người có ý nghĩ tiêu cực về việc làm của mình mà đó lại là nguồn thỏa mãn chính yếu thì cũng làm rơi vào một tình trạng stress nghiêm trọng, khi một người nhận thấy mình đang rơi vào một tình cảnh hoàn toàn xa lạ thì stress gay ra sẽ lớn hơn so với việc đương đầu với những vấn đề quen thuộc, nếu rơi vào tình huống bất ngờ, đột ngột không có thời gian chuẩn bị thì mức độ stress sẽ nặng nề hơn
+ Các yếu tố cá nhân: mức độ nghiêm trọng của stress còn tùy thuộc vào bản thân người bị stress, đó chính là sự nhận định của cá nhân về các kích thích và khả năng ứng phó của họ Levine, Weinberg, Ursin, (1978) đã nêu “nhận định là quá trình trong đó chúng ta gán những ý nghĩa cho các
sự kiện bên trong chúng ta hoặc xung quanh chúng ta” Theo Lazarus, Launier (1978) stress liên quan
đến việc nhận định một sự kiện là có tính đe dọa, có hại hoặc thách thức, hoặc khi cá nhân nhận định
Trang 24khả năng ứng phó là không đầy đủ hoặc không hiệu quả đều là những điều kiện để stress xuất hiện
Việc nhận định kích thích và nhận định khả năng ứng phó sẽ tương tác với nhau để hình thành mức độ của stress mà đương sự trải qua Mức độ stress cao nhất xảy ra khi kích thích là rất tiêu cực và khi không có biện pháp nào để giải quyết sự kiện Khi sự kiện ít trầm trọng hơn và các cố gắng ứng phó có tính khả thi thì mức độ stress sẽ giảm đi Tuy nhiên, một số tình huống khi sự kiện kích thích được nhận định là “rất tiêu cực”, và những phương thức ứng phó có khả năng thực thi được vẫn xảy ra stress
do tính chất nghiêm trọng của sự kiện Tương tự, khi sự kiện ít nghiêm trọng, nhưng trong tay không
có sẵn những biện pháp giải quyết stress sẽ xảy ra do bị mất khả năng kiểm soát sự kiện [84]
=> Từ những cách phân chia mức độ stress trên, chúng tôi nhận thấy chưa có một tiêu chí về mặt định lượng hay định tính cụ thể để phân biệt mức độ stress là nặng, vừa hay nhẹ, trầm trọng hay ít trầm trọng Muốn đánh giá được mức độ stress một cách cụ thể thì cần phải có một trắc nghiệm để đo lường
về mặt định lượng, có thông số rõ ràng Nhưng trong giới hạn của mình, chúng tôi chưa tìm thấy một trắc nghiệm về stress khái quát chính thức nào do các nhà tâm lý học nước ta soạn thảo hay đã được chuẩn hóa tại Việt Nam Đồng thời căn cứ vào những yếu tố chi phối mức độ stress chúng tôi đã chọn hướng nghiên cứu xem xét trong cuộc sống con người có thường xuyên bị stress hay không, những biểu hiện của stress là thường xuyên hay thỉnh thoảng hay là không có biểu hiện gì, và dựa trên luận điểm một tác nhân gây stress nhiều hay ít là do chủ thể nhận định nó gây ảnh hưởng đến bản thân mình như thế nào Do đó chúng tôi đã phân chia mức độ stress dựa trên tần số bị stress trong cuộc sống qua
sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tình trạng của mình với các mức thường xuyên, thỉnh thoảng,
hiếm khi hay hầu như chưa bao giờ bị stress Đồng thời dựa trên tần số biểu hiện của stress là thường xuyên, thỉnh thoảng hay không có biểu hiện đó Thứ ba là, dựa trên sự đánh giá của cá nhân về các tác
nhân gây stress ảnh hưởng cho mình ở mức độ nào ảnh hưởng nhiều, ảnh hưởng ít hay không ảnh
hưởng
1.2.4 Những ảnh hưởng và biểu hiện của stress nói chung và stress ở CN
1.2.4.1 Những ảnh hưởng và biểu hiện của stress nói chung
Đầu tiên, những biểu hiện của stress được nhận biết qua những phản ứng sinh lý của cơ thể và
những ảnh hưởng về mặt sinh lý do stress gây ra:
Khi cơ thể phản ứng với các tác nhân kích thích thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra theo một mô
hình đã được “cài đặt” sẵn như phản ứng “ chống hoặc chạy” mà Cannon đã nêu Trong đó có sự gia
tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp Máu được phân bố đến các bắp cơ lớn và các quá trình tiêu hóa bị ngưng lại Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật ấy thực hiện được những hành động
mạnh mẽ nhằm đáp ứng lại các tác nhân kích thích hoặc là chống trả hoặc là trốn chạy Do đó khi bị
stress , cơ thể sẽ có một loạt thay đổi về hoạt động của tim, sự hô hấp và huyết áp, sự tiêu hóa Còn với
Hans Selye thì ông lại miêu tả quá trình phản ứng sinh lý của cơ thể với tác nhân gây stress bằng “hội chứng thích nghi chung” – GAS, quá trình này trải qua 3 giai đoạn báo động , kháng cự , và kiệt quệ Ở giai đoạn báo động là phản ứng ban đầu của cơ thể đối với tác nhân gây stress, cơ thể chuẩn bị năng lượng cho hệ thống sẽ tạo ra những phản ứng đó bằng cách lấy đi năng lượng của những hệ thống khác
Trang 25như tăng nhịp tim, tăng huyết áp trong máu, các cơ bị căng , thở sâu và thở mạnh, có sự suy giảm tiêu
hóa, nếu các kích thích này vẫn không giảm bớt cơ thể sẽ chuyển sang giai đoạn kháng cự, trong giai
đoạn này cơ thể duy trì tốc độ vận hành cao hơn cho những cái đã khởi động trong giai đoạn báo động, những thay đổi tâm sinh lý trong giai đoạn kháng cự là sự thải hóc môn làm ảnh hưởng trực tiếp đến
các tế bào của cơ thể trong hệ thống miễn nhiễm, do đó stress làm giảm khả năng miễn nhiễm đối với
các bệnh thể lý, cơ thể dễ mắc các bệnh khác hơn Nếu các yếu tố gây stress tiếp tục đủ lâu, nguồn lực
của cơ thể bị hao mòn và sự suy sụp là điều không tránh khỏi, giai đoạn này cơ thể đánh dấu bằng các phản ứng báo động, nếu lờ đi những dấu hiệu cảnh báo này thì stress tiếp tục tăng và cá nhân sẽ thật sự
thấy kiệt quệ và đây chính là hiện tượng thường gọi là sự suy sụp thần kinh [31, tr 28], [50],[84] Đồng
ý với những luận điểm này, Nguyễn Công Khanh nêu ra 3 ảnh hưởng sinh lý của stress là “(1) làm rối loạn các quá trình trao đổi chất, làm thay đổi các quá trình sinh hoá, dẫn đến các tác nhân gây bệnh (như vi khuẩn, vi trùng, vi rút) có nhiều cơ hội thâm nhập gây bệnh hay truyền bệnh; (2) khởi động hay thúc đẩy một tác nhân gây bệnh đã có nay có điều kiện sinh sôi hay hoạt động trở lại gây bệnh;(3) giúp
duy trì một quá trình bệnh lý đang diễn ra, làm chậm lại quá trình khỏi bệnh”[28,tr42] Như vậy biểu
hiện của stress về mặt sinh lý thể chất sẽ được nhận biết qua sự hoạt động của tim, các cơ, hệ hô hấp,
huyết áp, hệ tiêu hóa, và hệ miễn dịch, hệ thần kinh
Một số người nghiên cứu khác như Kiecolt-Glaser& Glaser (1986); Schneiderman (1983); Cohen, Tyrrell, & Smith, (1993) cũng nêu lên nhưng ảnh hưởng và tác hại của stress, các ông cho rằng qua thời gian, các phản ứng với stress có thể thúc đẩy sự suy yếu của các mô, như mạch máu và tim chẳng hạn Kết cục, chúng ta dễ nhiễm bệnh hơn khi sự đề kháng vi trùng bị giảm sút Ngoài những trục trặc sức khỏe trầm trọng, nhiều cơn đau nhức nhỏ hơn có thể là nguyên nhân hoặc trở nên tồi tệ hơn do stress : đau lưng, tim, da nổi mụn, khó tiêu, mệt mỏi và táo bón, thậm chí, liên quan đến cảm cúm thông thường nữa (Brown, 1984; Cohen, Tyrrell, & Smith, 1993) [87]
Ngoài ra, một số ảnh hưởng sinh lý, đồng thời cũng là những biểu hiện cụ thể của stress đã được biết đến như:
+ Ảnh hưởng đến não: stress thường xuyên khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm
chí có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng
+ Ảnh hưởng đến hệ hô hấp: stress kích thích tuyến thượng thận giải phóng hormone
adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao thì hơi thở thường trở nên gấp gáp, hổn hển, không sâu, phải rướn lên để thở Người bị stress nếu đã mắc bệnh suyễn hoặc các bệnh khác về đường hô hấp thì bệnh tình sẽ trở nên tồi tệ hơn
+ Ảnh hưởng đến tim: stress liên quan đến bệnh sơ vữa động mạch vành, rối loạn nhịp tim (tim
đập nhanh, mạnh) Một số căng thẳng về tinh thần hoặc tình cảm, gây ra quá trình thiếu máu cục bộ cơ
tim có thể diễn ra một cách lặng lẽ
+ Ảnh hưởng đến hệ bài tiết : khiến cơ thể hay bị đổ mồ hôi một cách khác thường (ví dụ, đẫm
mồ hôi tay) ngay cả khi nhiệt độ không cao hoặc không có sự vận động cơ thể gắng sức
Trang 26Ảnh hưởng đến cơ khớp: Ngoài tác hại làm hơi thở trở nên gấp gáp, hormone adrenaline còn
khiến cơ bắp dễ căng cứng, mệt mỏi; lưng, cổ, hàm hay mặt dễ bị đơ hoặc đau nhức Các nhà khoa học cho rằng stress không những khiến chúng ta lười vận động mà còn có khuynh hướng nằm, ngồi, đi, đứng…không hợp lý, càng thêm mỏi mệt, và gây ra những bệnh cơ khớp
Ảnh hưởng đến mắt, cơ quan cảm giác : Mất ngủ do stress lâu ngày làm mắt mệt mỏi, thâm
quầng hoặc sưng đỏ thậm chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy hiểm khác về mắt Stress làm cho cơ thể có những phản ứng giác quan quá mức như tai có cảm giác
khó chịu với những tiếng động hằng ngày, mắt nhạy cảm với ánh sáng
Ảnh hưởng đến da: Theo các nhà khoa học tại Trường Đại học Freedom ở Berlin, một trong
những tác hại chính của stress đối với da là kích thích các tuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên kém mịn màng, nhanh lão hóa và dễ nổi mụn, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác
như chàm bội nhiễm, vảy nến…
Ảnh hưởng đến tiêu hóa: Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăng cường lưu lượng
máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm rõ rệt, hậu quả là sức vận động cũng như sự co bóp của chúng
bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó có dạ dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi, buồn nôn và chướng bụng, tiêu chảy hoặc táo bón Đồng thời tạo ra những thay đổi trong ăn uống (ăn không ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc ít hơn bình thường, không muốn ăn) dẫn đến cơ thể tăng hoặc giảm cân đột ngột
Ảnh hưởng đến răng miệng: Khi tinh thần suy sụp, căng thẳng, họat động của hệ miễn dịch trở
nên kém hiệu quả, nguy cơ nổi mụn nhiệt (còn gọi là đẹn) ở vòm miệng, nướu, lợi, lưỡi…sẽ rất cao
Ảnh hưởng đến đầu: Stress là một trong những nguyên nhân chính khiến đầu óc dễ choáng
váng, mệt mỏi, kể cả chứng đau đầu kinh niên Nguy cơ này sẽ cao hơn nếu lưng và cổ bị tổn thương trong khi stress hành hạ
Ảnh hưởng hệ sinh sản: Giảm nhu cầu tình dục, lãnh cảm, giao hợp đau, xuất tinh sớm v.v…
Đối với nữ thì có sự rối loạn kinh nguyệt, đau hơn khi hành kinh
Ảnh hưởng đến giấc ngủ: làm rối loạn giấc ngủ như khó ngủ, ngủ chập chờn, hay thức giấc, hay
có ác mộng và cảm giác khó thức dậy, khó hồi phục sức lực sau khi ngủ
Ảnh hưởng đến hệ thần kinh : gây ra các chứng nhức đầu (đau nửa đầu, chóng mặt, choáng, hoa
mắt và nhiều trường hợp gây ra chứng suy nhược thần kinh
* Thứ hai, những biểu hiện của stress được nhận biết qua những phản ứng tâm lý và những ảnh
hưởng về mặt tâm lý, xã hội do stress gây ra
Xét ở góc độ tâm lý học, stress là một tình trạng căng thẳng tâm lý, nên bản chất của nó là đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm lý:
- Stress làm thay đổi hoạt động nhận thức của con người bởi vì khi chịu tác động bởi những tác nhân kích thích, cơ thể hưng phấn liên tục kéo dài làm cho chủ thể cảm thấy căng thẳng đầu óc, cảm thấy quá tải hoặc quá sức chịu đựng, luôn bị thời gian thúc ép ; đến một lúc nào đó sẽ phải chuyển sang
ức chế, điều đó làm cho các giác quan mất độ nhạy cảm, tư duy giảm sút (đầu óc trống rỗng không muốn, không thể suy nghì gì nữa, hoặc suy nghĩ chậm), trí nhớ kém, thậm chí quên cả những điều đã
Trang 27nhớ [27] Theo kết quả một nghiên cứu của các nhà khoa học tại trường đại học California, khi con người bị stress ngắn hạn hay cực kỳ căng thẳng đã khiến cho một loại phân tử có tên gọi corticotropin sinh ra hormone CRH Hormone này can thiệp nghiêm trọng là làm giảm quá trình não thu thập và lưu trữ thông tin, do đó làm suy giảm trí nhớ (hay quên, nhầm lẫn) và giảm khả năng tiếp thu học tập Bên cạnh đó, những cảm xúc quá mạnh khi bị stress như lo lắng, hoảng hốt, giận dữ… làm cho hoạt động nhận thức bị rối loạn biểu hiện là khó tập trung chú ý, khả năng tự kiểm soát, phán đoán của cá nhân suy giảm , có khuynh hướng suy nghĩ vội vàng; stress làm cản trở việc giải quyết vấn đề, việc xét đoán, khó khăn trong việc ra quyết định (đắn đo, do dự, lưỡng lự) do bị thu hẹp những giải pháp thay thế và
bị thay thế bởi tư duy rập khuôn, cứng nhắc thay vì đáp ứng sáng tạo hơn Thêm vào đó stress dễ làm
cá nhân cảm thấy mệt mỏi về tinh thần, mất đi niềm tin vào cuộc sống, mất phương hướng, cướp mất nghị lực, ý chí vươn lên, cái nhìn của họ về môi trường sống trở nên u ám, có những suy nghĩ tiêu cực,
bi quan (không thể trải nghiệm bất cứ cảm giác tích cực nào ở mọi việc, mọi hoàn cảnh, có những cảm giác không ai có thể giúp mình được, cảm thấy cô độc, bơ vơ, không có gì để nương tựa, bị mọi người
xa lánh, cảm thấy không hài lòng về cuộc sống, cuộc sống không thú vị, không có ý nghĩa, không có gì
để mong đợi, hy vọng, cảm thấy bản thân mình không còn giá trị gì ) hoặc suy nghĩ nhiều về những việc đã xảy ra (hồi tưởng lại những sự buồn phiền) lâu ngày trở nên bị ám ảnh với một ý nghĩ nào đó,
có mặc cảm tội lỗi (dằn vặt bản thân), có những ý nghĩ quanh quẩn, vẩn vơ trong đầu, trở nên nghi ngờ quá mức và không còn lòng tin, thậm chí có ý nghĩ muốn chết thóat khỏi cuộc sống hiện tại Khi những rối loạn này xảy ra, cá nhân sẽ thiếu sáng suốt để tìm cách thoát ra khỏi tình trạng stress và điều đó càng làm cho cá nhân bị cuốn vào mớ hỗn độn và tình trạng stress càng nặng thêm [8, tr 54], [21], [27], [45] , [64], [66], [86], [88],[89], [93], [94]
- Stress ảnh hưởng đến cảm xúc và đời sống tình cảm của cá nhân: khi bị stress, cá nhân có những 2 dạng phản ứng xúc cảm: (1) phản ứng xúc cảm thụ động là không làm gì mà chỉ chờ cho nó qua đi do tính tích cực ứng xử hạ thấp và quá trình ý chí giảm sút, sự phản ứng xúc cảm thụ động này lâu dài có thể làm cho cảm xúc bị chai sạn, khô khan; (2) sự thay đổi cảm xúc trở nên rõ nét hơn , phát sinh những cảm xúc tiêu cực điển hình như: khóc nhiều hơn trước hoặc cảm thấy không thể khóc ngay
cả khi muốn khóc, dễ bị kích thích (bực bội, cáu gắt vô cớ, mất bình tĩnh) , lo sợ, cảm thấy sợ hãi mà không có bất kỳ lý do chính đáng , hồi hộp và bất an, lo lắng quá nhiều về những điều nhỏ nhặt, thiếu
tự tin, dễ cảm thấy bối rối, chán nản, buồn bã và mất mọi hứng thú, , cảm thấy bị dồn nén, Cảm thấy dễ
bị tổn thương ; Cảm thấy tủi thân ; nôn nóng, sốt ruột, trở nên thiếu kiên nhẫn khi có bất cứ điều gì bị trì hoãn; cảm thấy cô đơn, trống trải; thấy khó chịu ngay cả với những điều bình thường, thay đổi tâm trạng đột ngột; trở nên nhạy cảm hơn; cảm thấy ủ rũ, dễ xúc động; cảm thấy không hạnh phúc ; cảm thấy thật khó để bình tĩnh lại sau khi một cái gì đó khiến mình lo lắng; cảm thấy bồn chồn không yên stress làm cho cá nhân dễ cáu gắt, lo âu, khó chịu, dễ bị kích động từ đó làm cho mối quan hệ với những người xung quanh trở nên khó khăn [8, tr 55], [10], [18], [21], [27], [31, tr 35], [50], [62], [86],[88] ,[89], [91],[92],[93], [94]
- Stress ảnh hưởng đến hành vi và hoạt động, giao tiếp xã hội của cá nhân
Trang 28Echenrode (1984); Glaser & Kiecolt-Glaser, (1994); Avision & Gotlib, (1994) đã nêu mức độ stress cao ngăn chặn người ta đối phó một cách thỏa đáng với cuộc sống Với các mức stress ghê gớm, đáp ứng xúc cảm thái quá đến độ không thể hành xử gì nổi Người phải chịu đựng quá nhiều stress cũng kém khả năng đáp ứng với tác nhân gây stress mới, nguồn lực để chiến đấu chống lại stress trong tương lai sẽ suy giảm do hậu quả stress của quá khứ
Ứng xử của một người đã phải đối mặt với một tác nhân gây stress phụ thuộc vào mức độ stress được trải nghiệm, stress mức độ nhẹ hoặc vừa gây ra những phản ứng không thích nghi hoặc bị rối loạn, có thể dẫn tới những hành động rập khuôn, lặp đi lặp lại, stress mức độ nặng có thể triệt tiêu ứng
xử [31, tr 35]
Stress làm cho con người giảm khả năng kiểm soát, ý thức về hành động , điển hình có các biểu hiện là có những thói quen thần kinh như cắn móng tay, nhịp chân, đi tới đi lui, cứ nói hoài về một vấn
đề mà cá nhân nhiều khi không ý thức được những hành động của mình
Stress ảnh hưởng đến việc giao tiếp và sự tác động qua lại về mặt xã hội giữa người với người: stress có thể làm khă năng giao tiếp giảm sút ( e dè, ngại giao tiếp, khó khăn trong việc hỗ trợ, chia sẻ cảm xúc với người khác), Thay đổi tiêu cực trong cung cách ứng xử làm cho các mối quan hệ có chiều hướng xấu đi làm phá vỡ mối liên hệ giữa cá nhân với người khác hoặc tập thể, nhóm Buông thả vệ sinh cá nhân và diện mạo ; Không muốn nói chuyện
rằng stress phổ biến trong trạng thái trầm cảm nhẹ hơn “trầm cảm phản ứng” Vì quá phổ biến, stress
có thể xảy ra đồng thời với khởi phát của trầm cảm [45]
Biểu hiện về mặt tâm lý của stress cũng chính là những sự thay đổi các hoạt động tâm lý, thay đổi cảm xúc, thay đổi hành vi, hành động ứng xử, hoạt động và nhận thức của cá nhân đã nêu trên Những thay đổi này ở các mức độ khác nhau và dấu hiệu khác nhau ở mỗi cá nhân tùy theo cường độ,
độ lâu dài của tác nhân gây stress và sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tác nhân đó
1.2.4.2 Những ảnh hưởng và biểu hiện stress ở CN
Những ảnh hưởng và biểu hiện của stress nói chung ở trên cũng được áp dụng cho CN vì họ cũng là những cá nhân cụ thể, đang sống trong thời đại mà stress đang trở nên phổ biến, có thể bị cùng lúc nhiều loại stress do những tác nhân gây stress khác nhau trong cuộc sống Ngoài ra, còn có những ảnh hưởng và biểu hiện khác đặc trưng cho CN, bao gồm:
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của stress trong công việc đối với người CN đã kết luận stress gây ra những rối loạn về thể chất, tinh thần, tâm lý và chất lượng công việc, cuộc sống của CN [64]
Trang 29Người CN thường chịu một số stress liên hệ tới việc làm, nếu không ứng phó được thì họ bị rối loạn Sự rối loạn đưa tới thương tích, bệnh hoạn, giảm khả năng lao động, giảm sản xuất, thua lỗ cho công ty Những hậu quả đó lại làm tăng thêm mức độ stress cho CN.[27] Và chu kỳ kín tiếp diễn, ngày một trầm trọng hơn, nếu không được hóa giải, điều chỉnh
- Cụ thể những rối loạn về mặt sinh lý, thể chất : Người làm việc theo ca khác nhau nhất là ca đêm đều than phiền bị nhức đầu, viêm bao tử, huyết áp lên cao, bệnh tim, suyễn, đau nhức khớp xương ở lung
và thượng chi Nguyên nhân là có sự xáo trộn về sắp đặt sinh học trong cơ thể gây ra do giờ giấc làm việc bất thường, trái với thiên nhiên Hậu quả trầm trọng nhất vẫn là về hệ thống tim mạch Làm việc nhiều giờ, làm trên hai việc một lúc đã được coi như tăng nguy cơ bệnh động mạch tim, các thứ bệnh hoạn khác và tử vong Đối với bệnh tim mạch, không kiểm soát được việc làm đôi khi có hậu quả xấu hơn là khi làm nhiều việc, nhiều giờ Tăng nhịp tim và cao huyết áp cũng xảy ra khi CN không nắm vững vai trò của mình cũng như khi có mâu thuẫn với đồng nghiệp Có nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng căng thẳng việc làm là nguy cơ đưa tới 30% các trường hợp bệnh tim Hơn nữa, trong người dễ mệt mỏi, ngủ nghê rối loạn, ăn uống thất thường, tiêu hóa khó khăn, khó thở, mất ngủ, [64] Sự lo lắng liên miên
về trách nhiệm thường dẫn đến thói quen ăn uống thất thường và vận động không đủ, dẫn đến các vấn đề
về cân nặng, và tăng tỷ lệ cholesterol
- Những rối loạn tâm lý, tinh thần do stress trong công việc gây ra cho CN như: lo âu, trầm cảm, bất mãn với công việc, thái độ tiêu cực hay bất cần đến những người khác và chính bản thân, họ sẽ có các thay đổi về hành xử như uống rượu, dùng thuốc cấm, hút nhiều thuốc lá, vắng mặt tại sở làm, trong công việc sự thờ ơ thay thế cho sự hăng hái lúc ban đầu, không còn quan tâm về nhiều thứ và người khác, không còn thích thú với công việc, có mặc cảm tự ty, không nhiệt thành tham gia đóng góp ý kiến với mọi người, không còn khả năng để thực hiện công việc một mình, trì hoãn hoặc bỏ bê công việc và trách nhiệm, buông xuôi không còn muốn cố gắng nữa Lâu ngày, hậu quả của stress sẽ là giảm năng suất hay hiệu quả làm việc dẫn đến chậm trễ sản xuất, phí phạm thì giờ, để máy móc hư hao Rồi
CN trở thành thụ động, buông thả ở nhà, bỏ các sinh hoạt trong cộng đồng Stress còn khiến CN rơi vào tình trạng kiệt sức, giảm khả năng, kém tập trung, bẳn tính, kém chịu đựng, cảm thấy bất lực Những tình trạng đó khiến họ sẽ có nguy cơ bị tai nạn và thường tích rất cao [64]
1.2.5 Những nguyên nhân gây stress nói chung và stress cho CN
1.2.5.1 Nguyên nhân gây stress nói chung
Theo quan điểm hệ thống về stress, một cá nhân bị stress là do bản chất của các sự kiện kích thích và do những yếu tố thuộc về cá nhân quyết định mức độ stress của cá nhân đó vì vậy có hai nhóm nguyên nhân gây stress là nguyên nhân khách quan (nguyên nhân bên ngoài cá nhân), và nguyên nhân chủ quan ( nguyên nhân bên trong) [31], [50]
a Nguyên nhân khách quan – bên ngoài
- Những luận điểm chung về nguyên nhân khách quan gây stress cho con người:
Căn cứ vào mức độ kích thích của các tác nhân thì có 2 mức độ gây ra stress đó là kích thích quá thấp ( thiếu tải) hoặc kích thích quá mạnh (quá tải) bởi vì nếu mức độ kích thích quá thấp thì con người
Trang 30sẽ không cảm thấy phấn khích và thích thú điều gì, từ đó hiệu quả làm việc cũng như tâm trạng sẽ không tốt Ngược lại nếu mức độ kích thích quá cao con người sẽ luôn cảm thấy phấn khích và thường phải làm theo những yêu cầu, mong muốn mâu thuẫn nhau, và họ sẽ luôn phải chịu đựng quá sức mức độ kích thích, như vậy hiệu quả làm việc cũng như tâm trạng của họ sẽ bị giảm sút, dần dần họ sẽ có những dấu hiệu và chịu ảnh hưởng bởi stress [27, tr 26], [50, tr 13]
Theo Lazarus và Folkman một thông số bên ngoài cá nhân được nghiên cứu trong mối liên quan với stress, đó là đối tượng ủy thác - là những gì mà cá nhân đánh giá cao và xem trọng, bao gồm những
mục đích và hoạt động mà họ đầu tư năng lực vào, hoặc những nhóm người và tổ chức mà họ gắn bó Bất kỳ sự đe dọa hoặc gây thách thức cho những đối tượng ủy thác của cá nhân đều chất chứa một tiềm năng gây stress rất lớn Chúng ta càng đầu tư nhiều vào một ai đó, một mục đích hoặc một hoạt động nào đó, thì stress xảy ra càng nặng nề khi người đó, mục đích đó, hoạt động đó bị đe dọa [84]
Các đặc tính của sự kiện kích thích cũng có ảnh hưởng đến mức độ stress, đó là khả năng tiên
đoán, sự hạn định thời gian và sự nhập nhằng, nước đôi Khả năng tiên đoán là sự biết trước khi nào
sự kiện sẽ xảy ra Nói chung, những sự kiện có thể tiên đoán được thì ít gây stress hơn những sự kiện không tiên đoán được Khả năng tiên đoán làm giảm mức độ đe dọa, nguy hại và thách thức, bằng cách
cho phép ta chuẩn bị ứng phó sự kiện và biết được khi nào chúng ta được an toàn (Weinberg, Levine,
1980) Sự hạn định về thời gian là những sự kiện có giới hạn về thời gian hoặc khi một sự kiện trở nên chắc chắn sẽ xảy đến, cá nhân sẽ nhận thấy nó càng lúc càng có tính thách thức và đe dọa Ví dụ, càng
tới thời gian cần phải hoàn thành xong sản phẩm, CN sẽ càng cảm thấy lo lắng và vội vã hơn Sự nhập
nhằng là việc không xác định rõ như không biết vai trò và trách nhiệm, công việc cụ thể của mình là gì [31, tr 19], [84]
Trái với quan điểm của Holmes và Rahe những sự thay đổi là nguyên nhân gây stress thì Lazarus, Folkman cho rằng trong vài trường hợp, tình trạng ít thay đổi lại có thể gây stress như những tình huống chán chường kéo dài thường được xem là có thể gây stress
- Những nguyên nhân khách quan cụ thể gây stress bao gồm:
* Stress do môi trường sinh thái
Những yếu tố có nguồn gốc sinh thái góp phần gây nên stress , nó phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể Cụ thể là do (1) rối loạn chu kỳ thời gian sinh học, rối loạn
ăn ngủ; (2) do suy giảm khả năng thích ứng với môi trường vì chấn thương và bệnh tật làm giảm khả
năng chống đỡ với stress , đồng thời những nhận thức về mối đe dọa thể chất, tâm lý xã hội hoặc lo lắng về tình trạng sức khỏe cũng làm gia tăng thêm stress và bệnh tật càng nặng thêm Như một chu kì vòng tròn bệnh tật gây stress , stress làm cho bệnh tật nặng hơn, khó chữa hơn [27], [84], [87] Thêm vào đó, bất kì những đe dọa nào đối với hình ảnh thân thể, thay đổi hình ảnh thân thể đều có thể khơi
gợi sự lo hãi, và là nguồn gốc đặc biệt gây stress [33, tr 245]; (3) do những tác nhân trong môi trường
vật lý, tự nhiên như tiếng ồn, hóa chất, sự đông đúc hạn chế tính riêng tư, không gian chật chội, ô
nhiễm, nóng bức, sự mới mẻ do thay đổi nơi cư trú …)[15], [27], [31], [45], [50], [87]
* Stress do môi trường xã hội
Trang 31Những yếu tố thuộc về xã hội cũng góp phần tạo nên stress cho cá nhân trong xã hội đó Theo thuyết xung đột thì stress xuất hiện khi con người không có việc làm, không có nhà ở, stress là hậu quả của những mối quan hệ xã hội ít ổn định, của nghèo khổ, của quyền hạn thấp kém, và stress nảy sinh
do những vấn đề của tòan cầu hóa, quá tải dân số, gia tăng tội phạm, suy thóai kinh tế, thất nghiệp, hội nhập xã hội và tuân giữ các tiêu chuẩn xã hội, sự phân phối hàng hóa kinh tế và dịch vụ xã hội, sự phát triển của khoa học công nghệ mạnh mẽ, mau lẹ, sự quá tải thông tin và những biến động xã hội, những giá trị thay đổi , địa vị xã hội… tác động lên cá nhân làm cá nhân không thích ứng kịp và dễ rơi vào tình trạng stress [15], [31], [45], [87] Ngòai ra, stress còn nảy sinh khi chúng ta xử lý sai các thông tin hỗn độn và ồ ạt từ môi trường xã hội xung quanh mình hoặc khi mong muốn một cái gì đó mà kết quả lại
tệ hại ngoài dự kiến hoặc do có vấn đề trong quá trình thích ứng về mặt tâm lý trước những sự kiện thay đổi, biến cố trong cuộc sống[27]
* Stress do những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau trong xã hội
Con người sống trong xã hội luôn phải gắn kết mình với những quan hệ xã hội nhất định, và những mối quan hệ này có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi người , do đó những vấn
đề bất lợi từ những mối quan hệ xã hội mà cá nhân tham dự như quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, tình yêu …sẽ là một tác nhân gây stress đáng kể cho con người[50] Ngoài ra, việc thiếu những quan hệ gần gũi, thiếu bạn bè, thiếu giao tiếp, sống một mình và cô độc hoặc phải ở một mình khi bản thân không muốn sẽ làm con người có cảm giác cô đơn hay những người thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội cũng
có nguy cơ và gia tăng mức stress [21], [50]
* Stress do nghề nghiệp
Những yếu tố liên quan đến nghề nghiệp có thể gây stress bao gồm: những thay đổi, biến động trong công việc; đảm trách nhiều vai trò, trách nhiệm; bên cạnh đó điều kiện, môi trường, thời gian lao động; tính chất, yêu cầu của công việc; vấn đề thu nhập trong công việc; quan hệ trong lao động, công
việc; sự phát triển nghề nghiệp; về phương diện cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp với cá nhân đều
có thể trở thành tác nhân gây stress cho cá nhân đó [8], [21], [31], [50],[59],[62]
b Nguyên nhân chủ quan – bên trong cá nhân
- Sự thiếu ý thức về khả năng kiểm soát sự kiện sẽ làm tăng thêm stress khi khi cá nhân cảm thấy hành vi của họ chẳng có hiệu quả gì hoặc các sự kiện là không thể kiểm soát được Điều này được đặc trưng bởi tính thụ động trong hành vi, cảm xúc ức chế và tư tưởng tập trung vào sự thất vọng [84]
- Sự không chắc chắn như không chắc chắn về tương lai, không dự đoán trước được những sự kiện quan trọng, không dự đoán trước được những thay đổi cũng gây ra stress [21], [50]
- Khi cá nhân cảm thấy không có quyền hoặc ít có quyền quyết định những việc của bản thân hoặc việc quan trọng thì sẽ chịu đựng một ít stress bất lợi Bên cạnh đó quá nhiều quyền quyết định và
sự chắc chắn cũng có thể gây stress bất lợi [50]
- Cảm giác làm chủ hoặc mất tự chủ cũng ảnh hưởng đến stress, chẳng hạn một nghiên cứu về CN làm việc dây chuyền đã chỉ ra rằng những người CN nào có thể chủ động trong nhịp độ công việc hoặc
Trang 32lựa chọn vị trí làm việc trong dây chuyền sẽ làm việc có hiệu quả hơn và thấy thoải mái hơn những người hoàn toàn bị thụ động [21]
- Cảm giác hẫng hụt khi các nhu cầu bị cản trở trong việc làm thỏa mãn chúng cũng là một nguồn gốc gây stress , việc cản trở có thể là do chậm trễ hay trì hoãn, hoặc cũng có thể bắt nguồn từ thất bại mặc dù đã cố gắng tìm sự thỏa mãn nhưng không được, hoặc do mất đi nguồn gây thỏa mãn, mâu thuẫn nội tâm trong mỗi người [33, tr 203], những chấn thương tâm lý [33, tr 207]cũng là nguồn gốc cơ bản gây stress
- Yếu tố tự đánh giá, tự nhận thức, suy nghĩ là yếu tố gây stress và quyết định mức độ stress của
cá nhân Một tình huống chỉ có thể là nguyên nhân dẫn đến stress nếu cá nhân cho là như vậy
+ Một số người tăng mức stress bất lợi do những sai lầm, không hợp lý trong suy nghĩ của họ
như suy nghĩ vội vàng, suy nghĩ tuyệt đối hóa, kiểu suy nghĩ cực đoan, hay tưởng tượng ra những điều
không tốt đẹp (tương lai của mình xám xịt, suy nghĩ quá nhiều những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai
v.v ) Lối suy nghĩ quy mọi cái là tại bản thân, buộc tội chính mình cho bất kì điều gì sai ngay cả khi
bản thân chỉ phải chịu trách nhiệm một phần hoặc hoàn toàn không chịu trách nhiệm, ngoài ra cách suy này cũng có nghĩa là luôn nghĩ rằng mọi người sẽ chú ý đến từng sai sót của bản thân, mình là trung tâm của sự soi mói của mọi người
Bên cạnh đó việc đánh giá thấp khả năng giải quyết vấn đề của bản thân hoặc cứ nghiền ngẫm những thất bại hoặc kinh nghiệm khó chịu trong quá khứ hoặc cũng sẽ làm gia tăng stress bất lợi [27], [50],
- Những cảm xúc thái quá, tiêu cực như lo lắng, buồn rầu, chán nản, thất vọng, đau khổ…kéo dài lâu ngày sẽ khiến con người rơi vào tình trạng stress và trầm trọng hơn là bị trầm cảm; Những người hay có trạng thái cảm xúc không ổn định, hay lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương [70]
- Do cá nhân có những hành vi không thích hợp, thái quá gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và người khác như hút thuốc, uống rượu, hành vi gây hấn…làm nguy cơ bị stress cho bản thân cao hơn[27]
1.2.4.2 Những nguyên nhân gây stress cho CN
Tất cả những nguyên nhân gây stress cho con người nói chung đã nêu ra ở trên đều có thể là nguyên nhân gây stress cho CN, vì trước hết CN là những cá nhân mang đầy đủ những đặc điểm tâm sinh lý, xã hội của một thành viên trong xã hội hiện đại như tất cả những người khác, có thể bị stress
do những nguyên nhân khác nhau Nhưng nếu xem xét về mặt tâm lý lứa tuổi thì CN là những người trưởng thành, và về mặt xã hội CN là một bộ phận, thành phần, lực lượng lao động của xã hội nên có những nguyên nhân rất đặc trưng có thể gây stress cho họ
a Những nguyên nhân liên quan đến bản thân người CN
- Trình độ văn hóa và tay nghề chưa cao, họ có nhiều hạn chế về những kiến thức, hiểu biết ở một số lĩnh vực của xã hội dẫn đến những hậu quả và thiệt thòi không đáng có cho bản thân, từ đó gây
ra những sự ức chế và mặc cảm thiếu hiểu biết ở một số CN , dẫn đến họ rụt rè, ngại giao tiếp, ngại va
Trang 33chạm, kỹ năng xã hội kém và có thể bị lợi dụng, lôi kéo làm những việc không tốt mà bản thân họ không nhận thức được…Mặt khác CN cũng gặp khó khăn trong việc nâng cao trình độ vì nhiều nguyên nhân như không có điều kiện, thời gian, tiền bạc, doanh nghiệp không tạo điều kiện, thiếu sự hỗ trợ từ
xã hội, bản thân không cố gắng…Những yếu tố đó sẽ góp phần làm nguy cơ bị stress của CN cao hơn
b Những nguyên nhân liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của CN
- Thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của CN hiện nay có rất nhiều yếu tố có thể gây stress cho họ đó là :
+ Hiện nay mức lương trung bình của CN ở các KCX-KCN ở là 1.704.000đ (theo số liệu của ban quản lý các KCX-KCN ở TPHCM), với mức lương này so với tình hình giá cả ngày càng tăng hiện nay
là một mức lương thấp không đủ để trang trải chi tiêu cho cuộc sống của bản thân nhất là CN nhập cư với nhiều khoản chi hơn dẫn đến tình trang thiếu thốn về nhiều mặt của đời sống vật chất từ đó khiến nhiều người không đủ sức khỏe để làm việc, dễ bị căng thẳng, mệt mỏi Hơn nữa, việc thiếu thốn túng quẫn luôn khiến họ có những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực như cảm thấy lo lắng, suy nghĩ, bứt rứt, khó chịu [87]
Tại các KCN-KCX hiện nay việc xây nhà ở cho CN chưa nhiều chỉ đáp ứng cho một số lượng nhỏ CN, trong khi đa số CN là người nhập cư nên họ phải thuê nhà bên ngòai để ở với giá rẻ nhưng điều kiện vệ sinh và môi trường sống không đảm bảo, hoặc những bất lợi khác do nơi ở mang lại như vấn đề chi phí điện nước quá cao so với định mức của nhà nước, xa chỗ làm, đi lại khó khăn, xa chợ,
xa nơi vui chơi giải trí cũng làm cho CN có thể bị stress nhiều hơn[11], [63], [67] ,[83], [87]
Vì các giá trị về đời sống vật chất không đáp ứng đủ nhu cầu nên về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động tại các KCN đang dần giảm sút một phần do thiếu thốn các phương tiện để giải trí lành mạnh, thiếu các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao dành riêng cho CN, một phần do quá bận rộn với cuộc sống mưu sinh đến nỗi không có thời gian rảnh để tham gia những hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của đời sống tinh thần, hoặc do không có tiền chi tiêu cho những khỏan chăm lo về đời sống tinh thần đó cho nên có thể thấy đời sống tinh thần của CN quá thiếu thốn và tẻ nhạt, đó chính là một trong những nguyên nhân khiến cho CN bị stress nhiều nhất [60], [65], [83], [85] [87]
Bên cạnh đó, việc thiếu những sự hỗ trợ về mặt tinh thần của các tổ chức, đoàn thể cũng làm cho CN không có cơ hội để chia sẻ, giải tỏa những khó khăn của mình, dần dần những vấn đề đó tích
tụ lại, làm CN căng thẳng triền miên Những buổi tư vấn tâm sinh lý mới đếm trên đầu ngón tay, thông tin về các trung tâm tư vấn trong thành phố đến với CN quá ít, những câu lạc bộ kết bạn thì nghèo nàn, những chương trình văn hóa văn nghệ miễn giảm giá cho CN rất ít ỏi [60], [87]
c Những nguyên nhân liên quan đến các mối quan hệ
Bên cạnh việc có những mối quan hệ khác nhau như một thành viên trong xã hội như quan hệ bạn bè, quan hệ tình yêu, gia đình, hàng xóm …thì CN còn có những mối quan hệ rất đặc trưng như quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên, lãnh đạo ở nơi làm việc của mình Hiện nay có một số vấn đề tồn tại trong các mối quan hệ của CN với người khác có thể là nguyên nhân gây stress cho họ Đó là
Trang 34- Mối quan hệ với lãnh đạo công ty, nơi làm việc : vấn đề đình công xảy ra do tranh chấp lợi ích
giữa người sử dụng lao động và CN cho thấy rằng ít nhiều mối quan hệ giữa CN và lãnh đạo cũng không tốt đẹp [68] Nhiều nơi không có sự đối thoại giữa người chủ và người lao động, CN không có điều kiện để nói ra những ý kiến, khó khăn, bức xúc của mình, mà nhiều khi có nói cũng không được lắng nghe và ghi nhận , thậm chí còn phản tác dụng là có nguy cơ bị đuổi việc
- Mối quan hệ với đồng nghiệp, bạn bè, người dân địa phương:
Có nhiều CN nhập cư từ do mặc cảm hoặc lo sợ va chạm nên đã chọn lối sông rất khép kín chỉ quanh quẩn trong khu nhà trọ, hạn chế giao lưu với ai nên họ không có những quan hệ tốt đẹp với người dân địa phương, không có nhiều bạn bè làm chỗ dựa trong những lúc khó khăn Mặt khác chính lối sống khép kín này làm nảy sinh những trở ngại trong các mối quan hệ với người khác như bị hiểu lầm, không được cảm thông, bị nói xấu hoặc những thái độ hành động không hay của những người xung quanh… Trong mối quan hệ với đồng nghiệp thì hiện nay sự phân biệt, kỳ thị giữa những CN cũ và mới, về cấp bậc, tính chất công việc … vẫn tồn tại ở một số nơi gây ra những mâu thuẫn, ganh ghét và bất hòa giữa các CN , những điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của họ trong quá trình làm việc Đối với những
CN sống xa gia đình thì bạn bè có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của họ nơi đất khách, do đó nếu mối quan hệ với bạn bè có những trục trặc hoặc mâu thuẫn thì sẽ ảnh hưởng lớn đến họ
- Mối quan hệ với gia đình (bố me, anh chị em, họ hàng):
Những CN nhập cư từ các tỉnh khác vào TPHCM thường là những người sống xa gia đình vì vậy họ gặp rất nhiều khó khăn, cảm thấy nhớ nhà, cô đơn, thiếu thốn tình cảm gia đình Bên cạnh đó,
có nhiều CN còn chịu áp lực và những tác động tiêu cực do gia đình tạo ra cho họ
- Mối quan hệ với người khác giới, mối quan hệ tình cảm nam nữ
Hiện nay, có một thực tế tồn tại là nhiều CN gặp khó khăn trong việc tìm kiếm cho mình một người khác giới phù hợp để thiết lập mối quan hệ tình yêu và lập gia đình vì nhiều nguyên nhân, những trở ngại đó khiến CN cảm thấy cô đơn, buồn bã và trống trải, nhiều khi khiến họ cảm thấy ức chế và nảy sinh những ý nghĩ mặc cảm, không tích cực và dẫn đến bị stress Hoặc những phức tạp, rắc rối, trục trặc do mối quan hệ này gây ra cũng khiến CN có nguy cơ bị stress rất cao [60], [67], [68], [71]
- Mối quan hệ vọ chồng/ con cái trong gia đình người CN
Đối với những CN đã có gia đình thì họ càng có nguy cơ bị stress nhiều hơn những CN khác do những vấn đề khó khăn, bất lợi nảy sinh do mối quan hệ hôn nhân gia đình gây ra đó là mối quan hệ vợ chồng mâu thuẫn, không hạnh phúc, sự cách trở, việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái, vấn đề tài chính gia đình trong điều kiện đời sống CN khó khăn, quan hệ bên nhà chồng/vợ….[67], [87]
d Những nguyên nhân liên quan đến công việc
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia nghiên cưu về lao động cho thấy những nguyên nhân lien quan đến công việc có thể gây stress cho CN bao gồm:
+ Điều kiện, môi trường lao động không đảm bảo, không phù hợp, CN phải làm việc trong những điều kiện kém an toàn, lo lắng bị tai nạn hoặc gây tai nạn; điều kiện làm việc không thoải mái, môi trường làm không đảm bảo; Làm theo ca thay đổi và thời khóa biểu khác nhau; thường phải làm
Trang 35việc quá giờ (ca lao động kéo dài); ít nghỉ giải lao hoặc thời gian nghỉ giải lao quá ít; [21], [31], [59], [62], [64]
+ Tính chất, yêu cầu của công việc không hợp lý như công việc không ổn định, đảm bảo hoặc cách thức thực hiện công việc thay đổi theo hướng không phù hợp với cá nhân hay công việc thay đổi quá nhanh không đáp ứng kịp[21],[50] Sự quá tải, sự dưới tải, mức độ trách nhiệm cao, công việc yêu cầu cao vượt quá khả năng …[8], [21], [31], [59],[62]
+ Sự phát triển nghề nghiệp không như mong đợi như sự giảm biên chế ; Thuyên chuyển, giáng cấp hoặc thăng chức; bị sa thải; áp lực về cuộc sống bấp bênh nếu bị thất nghiệp; [21], [31], [62]
+ Về phương diện cơ cấu tổ chức quản lý: Các quy tắc, Các quy định, những điều không được phép trong công ty [31]
+ Vấn đề thu nhập, trợ cấp, vấn đề việc làm không đáp ứng như mong đợi như lương thấp và thiếu những trợ cấp cần thiết hoặc bị cắt giảm lương vì nhiều lý do hoặc tình trạng thiếu nhỡ việc làm, phải chờ việc, công việc không ổn định đảm bảo hoặc mất việc do công ty giảm chỉ tiêu do kinh tế suy giảm hoặc không có đơn hàng làm mất đi nguồn thu nhập chính của họ [31], [59], [60], [62], [71], [73], [87]
+ Quan hệ trong lao động không tốt đẹp như bị bắt nạt, cách quản lý của cấp trên khắt khe, cứng nhắc, không thân thiện, hay la mắng và không biết lắng nghe CN [72],[81],[82]
+ Thời gian lao động bị vượt mức quy định trong luật lao động như làm ca, làm thêm giờ liên tục, kéo dài , hình thức chuyển ca hết sức bất hợp lý, ít thời gian và không có chỗ nghỉ trưa cho CN để phục hồi sức khỏe cho buổi làm việc tiếp theo, CN thường phải tranh thủ ngủ tại chỗ làm việc trong môi trường ồn ào, không sạch sẽ [65] , [68], [71], [72], [73], [81] [82], [83]
1.2.5 Những cách ứng phó với stress và nhu cầu về sự hỗ trợ xã hội của CN trong việc ứng phó với stress
1.2.5.1 Những cách ứng phó với stress nói chung
Theo Lazarus “ứng phó là những hành động thuộc về nhận thức và hành vi nhằm chế ngự những đòi hỏi của một sự kiện được nhận định là có tính gây stress” [84]
“Tính chất gây bệnh của stress tiêu cực phần lớn phụ thuộc vào ý nghĩa thông tin của nó và kỹ năng chống stress của mỗi cá nhân Vì thế, việc ứng phó với stress cũng không thể bằng một cách thức duy nhất Mặt khác, yếu tố gây stress được điều tiết bởi từng mỗi cá nhân khác nhau, do đó cách ứng phó cũng không giống nhau nơi mỗi cá nhân” [45]
Nhiều người nghiên cứu phân loại cách ứng phó thành 2 loại là ứng phó dự phòng và ứng phó chống cự:
a Ứng phó dự phòng:
Là việc chuẩn bị cho stress trước khi nó xuất hiện (Folkman, 1984; Everly, 1989; Holahan & Moos, 1987, 1990) [87] bao gồm việc ngăn chặn tác động tiêu cực của các tác nhân gây stress bằng việc thích nghi tốt với những thay đổi, đòi hỏi và tác động của cuộc sống, hình thành nên những lối sống, kiểu
Trang 36ứng xử, kỹ năng làm giảm nguy cơ tạo stress, và biết tạo ra những nguồn lực để dự phòng ứng phó[15] Ứng phó phòng ngừa giúp cá nhân chuẩn bị tốt hơn để đón nhận sự kiện thật sự khi nó xảy ra [34]
* Ứng phó tập trung vào cảm xúc: Nội dung của chiến lược này là nhắm vào việc giảm bớt sự
khuấy động cảm xúc gây nên bởi stress hay còn gọi là tự điều hòa cảm xúc, cá nhân cố gắng kiểm soát bản thân, điều chỉnh cảm giác của mình Cách này không thể loại trừ tận gốc stress nhưng nó có thể làm giảm mức độ stress [23], [27] [84], [87] Một số cách cụ thể để giải tỏa cảm xúc là khóc, viết lại những gì xảy ra [86] Theo P.Vitaliano có 3 cách ứng phó tập trung vào cảm xúc là đổ lỗi cho bản thân thể hiện ở việc tự chỉ trích mình, cảm giác ân hận, giày vò chính bản thân mình; lảng tránh (hành động như chưa có gì xảy ra); suy nghĩ mang tính tô hồng sự việc (hy vọng, mong đợi vào những điều kì diệu) [23, tr59]
* Ứng phó tập trung vào giải quyết vấn đề: Những nội dung của chiến lược ứng phó này là cá
nhân sẽ đối mặt với tác nhân gây stress và giải quyết chúng với mong muốn thoát khỏi nó hoặc kiểm soát các kích thích, tình huống gây stress hoặc nhắm vào việc thay đổi tác nhân gây stress, thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân với tác nhân thông qua hành động giải quyết vấn đề, bao gồm việc phân tích tình huống để đề ra những hành động khả thi, đánh giá những hành động đó và lựa chọn kế hoạch hành động hữu hiệu [23], [27], [45],[84], [87]
- Một cách phân loại khác đề cập đến chiến lược ứng phó bằng nhận thức và hành vi:
* Ứng phó về nhận thức: quan tâm đến chiến lược ứng phó này gồm có R.Lazarus (1971),
Meichenbaum (1977), ứng phó bằng nhận thức là nhằm thay đổi nhận thức, cấu trúc lại nhân thức qua việc đánh giá lại tính nghiêm trọng của vấn đề và các nguồn lực của bản thân để giảm thiểu những tác động tiêu cực đến bản thân Chiến lược ứng phó bằng nhận thức không làm cho khó khăn nhỏ đi những chúng làm cho chúng đỡ nguy hiểm hơn đối với con người, giúp con người suy nghĩ bình tĩnh hơn, hợp
lý hơn, có tính xây dựng hơn khi đối mặt với những khó khăn vì thế tạo ra một trạng thái cảm xúc tích cực hơn [15] , [23, tr 54],
Có các hình thức của chiến lược ứng phó về nhận thức là:
+ Tự nói chuyện một mình: ngụ ý chỉ những câu nói hoặc ý nghĩ thầm kín được dùng để hướng dẫn những cố gắng của chúng ta vào việc ứng phó với sự kiện gây stress cùng những khuấy động cảm xúc kèm theo nó [84]
+ Tái nhận định hoặc điều chỉnh lại : gồm việc giảm bớt tác động của sự kiện bằng cách thay đổi cách diễn giải sự kiện để nhằm cảm thấy dễ chịu hơn Nói cách khác, sự kiện sẽ được gán cho một
ý nghĩa khác, việc làm này không thay đổi thực tế bên ngoài, nhưng giúp cá nhân nhìn sự vật theo một ánh sáng khác hơn và ít stress hơn [84], [86]
Trang 37+ Suy nghĩ tích cực: nhìn mặt sáng của vấn đề, quên đi những tác động tiêu cực của nó, nghĩ đến những điều lạc quan hơn [94]
* Chiến lược ứng phó về hành vi : thông qua những hành vi, hành động cụ thể như tìm kiếm
thông tin, hành động trực tiếp, kiềm chế hành động và quay sang người khác thì cá nhân có thể ứng phó tốt hơn với stress
+ Tìm kiếm thông tin : là thâu thập dữ liệu về bản chất của tác nhân gây stress và về các chiến
lược ứng phó khả thi Thông tin vì thế sẽ giúp ích cho các chiến lược ứng phó và tăng cường cảm giác
về khả năng kiểm soát và tiên đoán sự kiện [84]
+ Hành động trực tiếp là công khai các đáp ứng bằng lời nói hoặc hành động nhằm làm thay đổi
tác nhân gây stress hoặc các khuấy động cảm xúc liên quan đến stress Các hành động, việc làm cụ thể
để ứng phó với stress là sắp xếp lại công việc đặt thứ tự ưu tiên làm những việc quan trọng, lên kế hoạch các hoạt động, quản lý thời gian với việc xây dựng thời gian biểu chỉ ra những việc làm cụ thể trong khoảng thời gian nhất định sẽ giúp con người kiểm soát được hành động của mình, làm được nhiều việc hơn mà không bị rối rắm; bên cạnh đó việc xử lý stress cũng cần phải bao gồm sự tái cấu trúc điều kiện môi trường vật lý (thay đổi môi trường, điều kiện sống, sinh hoạt) nhằm làm giảm những ảnh hưởng không lành mạnh do môi trường tạo ra [23, tr 52] , [31, tr 47], [84], [86]
+ Kiềm chế hành động là không làm một điều gì đó, nhằm làm giảm bớt stress và các khuấy
động cảm xúc Tránh các tình huống tạo nên stress
+ Quay sang người khác - sự hỗ trợ xã hội :
Sự hỗ trợ xã hội trong ứng phó với stress chính là có một chỗ dựa từ những nguồn lực xã hội [23] Theo Đặng Phương Kiệt, “ nguồn lực xã hội bao gồm các mối quan hệ gần gũi riêng tư và các mạng lưới được mở rộng, kể cả sự nâng đỡ của nhà thờ, giáo hội Hiện nay, nhiều người cho rằng việc sử dụng các nghi lễ tôn giáo và các tín ngưỡng tâm linh là một nhân tố đã bị bỏ sót trong các chiến lược ứng phó” [dẫn theo 45, tr 52] Qua các nguồn lực xã hội cá nhân nhận được sự ủng hộ trợ giúp để giúp bản thân ứng phó tốt hơn với stress Thứ hai, sự hỗ trợ xã hội có tác dụng làm giảm nhẹ tình trạng stress của cá nhân khi nó đã xuất hiện, việc tìm thấy những ý nghĩa và có được những nguồn lực xã hội mạnh mẽ có thể gia tăng những cơ hội vượt qua những khó khăn, thậm chí trong những tình huống xấu nhất [21], [84]
Với một số người thì liệu pháp tâm lý và tư vấn cũng mang lại hiệu quả Theo các chuyên gia,
sự cải thiện do những liệu pháp này mang lại có tính tích cực rõ rệt và kéo dài Nhóm liệu pháp này đặc biệt có hiệu quả đối với những người phải trải qua những tổn thương mất mát [21]
- Xét về mặt hiệu quả, tác dụng của các chiến lược ứng phó, một số người lại phân chia chiến lược ứng phó thành ứng phó tích cực và ứng phó tiêu cực
- Ứng phó tích cực: là những cách giúp giải tỏa stress hiệu quả ngay tức thời và về lâu dài mà
không gây ra những thiệt hại khác, những cách ứng phó được xem là tích cực bao gồm:
Thư giãn là một trong cách phổ biến nhất để kiểm soát stress, theo tiến sĩ Herbert Benson, trường
đại học tổng hợp Harvard, thư giãn là cơ chế làm giảm tác động của các phản ứng sinh lý do căng thẳng
Trang 38gây ra Khi bị stress thì người ta có sự căng thẳng về thể chất và tinh thần cho nên cần thư giãn cả về mặt thể chất và tinh thần [21]
Thư giãn về thể chất trong những tình huống gây stress sẽ giúp bản thân kiểm soát được tình
hình và tăng cường niềm tin vào khả năng giải quyết của bản thân [50, tr 109] Thư giãn nhanh bằng
sự phản hồi yên lặng: là một ký năng đối phó nhanh đối với một nguyên nhân gây stress do tiến sĩ Charles F.Stroebel và đồng nghiệp phát triển [50, tr 113,114] Ngoài ra, có những cách thư giãn khác như:
+ Giải trí: giải trí là một hoạt động làm cho con người thư giãn, vui thích và khỏe khoắn Khi cùng giải trí với người nào đó sẽ góp phần vào việc tạo ra và duy trì thành công mối quan hệ với người
đó [50,tr122, 131] Một số việc làm có tác dụng giải trí cụ thể là đi du lịch, đi chơi [86], theo đuổi những sở thích riêng làm những gì mà bản thân thấy thích
+ Tham gia các chương trình giáo dục cộng đồng, các hoạt động vui chơi của các hiệp hội, đoàn thể địa phương [50,tr 134]
+ Thực hiện các hoạt động tay chân vừa sức hoặc tập thể dục là một cách đặc biệt để cải thiện
và duy trì sự khỏe mạnh về thể chất, đồng thời tập thể dục cũng làm giảm lượng hoóc môn lưu hành trong máu do căng thẳng sinh ra vì thế nó giúp giải tỏa tình trạng stress [21], [50, tr 137], [87]
- Ứng phó tiêu cực: sở dĩ những cách ứng phó này gọi là tiêu cực là vì chúng tạm thời có thể
làm giảm căng thẳng, nhưng về lâu dài chúng sẽ gây thiệt hại hơn [90]
Có nhiều người có những phản ứng không thích nghi tốt với stress là tấn công bằng bạo lực dù chỉ là đe dọa hay thực sự, dù dưới hình thức vật lý hoặc xúc cảm với người khác Chẳng hạn hành vi đập phá đồ đạc, trút giận lên người khác, sự xỉ vả, bùng nổ cơn tức giận, bạo lực về thể chất [50], [86], [90]
Những cách ứng phó hướng đến thể chất như : lạm dụng việc hút thuốc, uống bia rượu, ăn uống vô
độ để giảm cảm xúc tồi tệ hoặc để chịu đựng stress; Sử dụng các loại thuốc để thư giãn Những cách này có tác dụng làm quên đi tình huống khó khăn hiện tại và phản ứng sinh lý với stress trở nên dịu lại, con người thấy dễ chịu hơn nhưng chúng chỉ có tác dụng tạm thời khi dùng, khi không dùng nữa thì tình trạng trở lại, vấn đề vẫn còn nguyên chưa được giải quyết, mà về lâu dài, lạm dụng cách ứng phó này sẽ gây ra những tác hại không tốt cho sức khỏe [23, tr 53, 56], [50,tr40-43], [90]
Tận dụng mọi thời gian trong ngày để tránh phải đối mặt với những vấn đề khó khăn; dành nhiều giờ ngồi trướcTV hay máy vi tính; rút lui khỏi bạn bè, gia đình, và các hoạt động; Ngủ quá nhiều [90]
1.2.5.2 Giải pháp ứng phó, giải tỏa stress cụ thể của CN
Những cách ứng phó nêu trên là những cách ứng phó nói chung khi bị stress mà một cá nhân có thể sử dụng cho mình, tùy điều kiện, hoàn cảnh, loại stress và tác nhân gây stress cũng như đặc điểm cá nhân của họ Đối với CN có lẽ khi nhắc đến họ chúng ta sẽ nghĩ nhiều đến khía cạnh stress trong công việc vì CN thường được nhìn nhận dưới góc độ một lực lượng lao động trong xã hội nhưng vì chúng tôi nghiên cứu vấn đề stress của CN một cách khái quát với nhiều nguồn gốc, tác nhân gây stress khác
Trang 39nhau trong cuộc sống, không chỉ giới hạn trong công việc nên có thể nói những cách thức ứng phó chung cho mọi người cũng là những cách ứng phó mà CN có thể sử dụng Tuy nhiên, với những đặc trưng riêng của mình thì CN lại có những cách ứng phó với stress điển hình:
Trong một cuộc khảo sát về vấn đề stress của nữ CN, thì họ chia sẻ cách mà họ thường làm để giải tỏa stress là đi ngủ hoặc nói chuyện với bạn bè Có một tỷ lệ rất nhỏ CN tìm đến các tổ chức công đoàn [60]
Một vài cuộc khảo sát về đời sống của CN cũng cho thấy những hình thức giải trí của CN hiện nay là nghe nhạc, xem tivi, lên internet để chat với bạn bè hoặc đọc báo, tim thông tin, chơi một môn thể thao nào đó, chơi điện tử, đi mua sắm, đi làm đẹp, tổ chức ăn uống, đi ăn và thường ăn nhiều hơn bình thường để giảm căng thẳng đầu óc Cũng có người thích ở một mình không muốn nói chuyện hay tiếp xúc với người khác, chỉ muốn nằm trong nhà Hoặc rủ nhau đi uống bia rượu, hút thuốc lá nhiều hơn khi căng thẳng để quên đi tình trạng hiện thời của mình, hoặc tranh thủ tham gia những buổi văn nghệ, hoạt động vui chơi tổ chức dành riêng cho CN sau những giờ làm việc mệt mỏi, căng thẳng Một cách giải tỏa khác là CN làm việc nhiều hơn, miệt mài hơn để không còn thời gian rảnh nghĩ đến chuyện buồn [24], [60], [63], [65], [71], [72], [79], [81], [82], [83], [85], [87]
Để giải tỏa stress CN cần tìm sự hỗ trợ từ người khác như bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, cấp trên, những tổ chức xã hội đó là đoàn thanh niên, trung tâm hỗ trợ thanh niên CN, quỹ hỗ trợ CN, doanh nghiệp, các tổ chức ở địa phương hoặc các chuyên viên tư vấn tâm lý để tâm sự, chia sẻ về tình trạng stress của mình, nhờ đó mà họ cảm thấy dễ chịu hơn, chứ cứ chịu đựng tình trạng đó một mình sẽ làm cho tình trạng stress càng tồi tệ hơn và có nhiều cảm xúc tiêu cực hơn Việc để cảm xúc dồn nén
mà không chia sẻ thổ lộ sẽ có hại cho sức khỏe thể chất và tinh thần, ảnh hưởng giao tiếp với những người khác Dồn nén cảm xúc cũng có thể làm con người có hành động liều lĩnh Thiếu suy nghĩ, ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn và khỏe mạnh của chính mình [66], [86]
* Các chiến lược ứng phó với stress trong việc
Úng phó bằng hành động hợp pháp : CN cần biết tới những giải pháp hợp pháp chẳng hạn các
CN có quyền gởi đơn khiếu nại tới các cơ quan y tế, an toàn lao động về các điều kiện lao động không
an toàn dễ gây nguy hiểm để được cải thiện tác nhân điều kiện lao động gây stress [31, tr 222]
Tìm đến các chương trình hỗ trợ CN: một chương trình hỗ trợ CN tạo ra đủ loại dịch vụ giúp
CN thích ứng với lao động và nhiều phương diện khác Các dịch vụ này gồm tư vấn cá nhân, các giải pháp xử lý stress và ứng phó với stress, huấn luyện, tư vấn thay đổi nghề nghiệp, hỗ trợ các gia đình
CN Một số chương trình bao gồm cả việc công ty chỉ định hẳn một người chuyên trách hỗ trợ CN trong công ty của mình, ngoài ra còn một loạt những dịch vụ khác hỗ trợ về mặt vật chất và tinh thần cho CN Các chương trình này đáp ứng một số nhu cầu quan trọng của CN từ đó làm hạn chế những tác nhân gây stress [31]
1.2.5.3 Nhu cầu hỗ trợ xã hội của CN trong việc giúp họ ứng phó với stress
Trong tâm lý học, nhu cầu được định nghĩa là đòi hỏi của cá nhân về những điều kiện và phương tiện nhất định cho sự tồn tại và phát triển Nhu cầu đó nhất thiết được bắt nguồn từ những quá
Trang 40trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình Nhu cầu là trạng thái của cá nhân nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân ( B.Ph.Lomov )
Nhu cầu hỗ trợ xã hội ở CN là những mong muốn của CN về sự trợ giúp, ủng hộ từ các nguồn lực bên ngoài cá nhân để có thể giúp họ ngăn ngừa và ứng phó với stress, bao gồm nhu cầu về sự hỗ trợ vật chất, hỗ trợ tinh thần, hỗ trợ thông tin từ những người khác, các tổ chức xã hội mà họ có liên hệ
Nhu cầu hỗ trợ vật chất là những mong muốn nhận được sự hỗ trợ về vật chất gồm tiền bạc,
hàng hóa, vật dụng, sức lực và các dịch vụ sẵn có từ những người khác (Cohen, McKay, 1984) [23],
[84]
Nhu cầu hỗ trợ tinh thần là những mong muốn nhận được sự hỗ trợ về tinh thần, cảm xúc gồm việc mong muốn mình được người khác yêu thương, đánh giá cao và có cơ hội để trao đổi những cảm
giác ấy (Cobb, 1976), cũng như mong muốn người khác thể hiện những cảm xúc dương tính với mình,
chia sẻ , làm xoa dịu những cảm xúc âm tính nơi mình, nhận ra giá trị của cá nhân, chấp nhận một cách căn bản những cái thuộc về họ như một nhân cách [23], [84]
Nhu cầu hỗ trợ thông tin là những mong muốn nhận được sự hỗ trợ về thông tin, gồm những hình thức như muốn được người khác cho ý kiến về ý nghĩa của những sự kiện gây stress, hoặc cho lời khuyên về những chiến lược ứng phó và cung cấp một phản hồi về tính đúng đắn của các cố gắng ứng
phó này (Cohen, McKay, 1984) [23], [84] Ngòai ra, nhu cầu hỗ trợ thông tin còn là mong muốn được
cung cấp những kiến thức cần thiết liên quan đến stress để CN có thể ứng phó với stress một cách chủ động