1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87

55 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong Trào Thơ Mới
Thể loại thesis
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 534 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ôi đôi ta tình thương nhau thì vẫn đặng Mà lấy nhau hẳn là không đặng, Để đến nỗi tình trước phụ sau Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau” tình già  Phá vỡ các nguyên tắc của thi luật

Trang 1

PHONG TRÀO THƠ MỚI

CÁC THỂ THƠ TỪ

ĐẾN NAY.

Trang 2

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHONG

TRÀO THƠ MỚI

1 Hoàn cảnh ra đời phong tào thơ mới

Đế quốc Pháp xâm lược nước ta kéo theo sự xâm nhập của văn minh phương Tây vào xã hội Việt Nam Sự ảnh hưởng này tồn tại dưới hai dạng: hình thức và tư tưởng.

Trang 3

Về hình thức

(khoa thi cuối cùng năm 1919 chấm dứt chế

độ khoa cử nặng nề…)

theo báo chí, ngành xuất bản phát triển

thành thị với những tư tưởng tình cảm mới, thị hiếu thẩm mĩ mới: “ở nhà Tây, đội mũ Tây,

đi giày Tây”.

Trang 4

Chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán vốn ngự trị

từ xưa đến nay.

trở thành tiếng nói phổ biến trong các xã hội thành thị nhất là giới trí thức và công chức.

một số được Pháp đào tạo để phục vụ trong

bộ máy nhà nước thuộc địa.

Trang 5

Về tư tưởng

Hoàn cảnh xã hội thay đổi kéo theo sự thay đổi về nếp sống, nếp nghĩ Những tư duy, rung động trong tâm hồn, tình cảm của con người cũng khác trước.

Ta không còn vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước’’.

Trang 6

Tình cảm,cảm xúc thay đổi cho nên thơ cũng cần đổi mới.

Cái khát vọng đổi mới: được nói rõ những điều thầm kín u uất, được sống thực Đó là nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn

“Người thanh niên Việt Nam ngày nay đang bơ vơ đi tìm người thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”

Sự ra đời của thơ mới là hệ quả tất yếu trong hoàn cảnh xã hội thực tại lúc đó.

Trang 7

2.Quá trình phát triển của thơ mới

Trang 9

2.1 Cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và

thơ mới

phái thơ mới:

Tản Đà: người chơi khúc nhạc dạo đầu cho phong trà thơ mới

Mốc đầu tiên: bài thơ “ Tình Già” của Phan Khôi trên báo phụ nữ Tân Văn (29-1929) với tiêu đề “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”.

“ôi đôi ta tình thương nhau thì vẫn đặng

Mà lấy nhau hẳn là không đặng,

Để đến nỗi tình trước phụ sau Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau”

(tình già)

Phá vỡ các nguyên tắc của thi luật thơ cũ,là tiếng pháo lệnh cho sự xuất hiện rầm rộ của các nhà thơ mới- mới cả về nội dung và hình

thức.

Trang 11

Lưu Trọng Lư: “Các cụ ta ưa màu đỏ choét, ta lại thích màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như

đã làm một việc tội lỗi… cái ái tình của các cụ chỉ

là sự hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái

tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn,

cái tình trong giây phút, cái tình nghìn thu…”

buộc, rườm rà, những luật bằng trắc hẹp hòi… làm hạn chế hồn thơ

Trang 12

Năm 1935 thơ mới dần ổn định và chiếm vị trí nhất định, khẳng định được những giá trị mới mẽ về nội dung và nghệ thuật.

Hoài Thanh: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện một lúc hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.

Trang 13

Khi cuộc đấu tranh ấy đã tạm lắng, những nhà thơ mới bây giờ lại kêu gọi trở về với truyền thống:“ Với sự âu hoá, tôi sợ nền văn chương

Việt Nam sẽ mất những tính cách riêng, rồi sẽ không thành thực nữa vì

bị mất gốc.”

Thực chất của cuộc đấu tranh: đi đến cải cách về nội dung và hình

thức thơ

Trang 16

2.2 Các giai đoạn của thơ mới.

thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như thơ tượng trưng, thơ siêu thực…tuy nhiên nó vẫn còn rất mờ nhạt và hời hợt do đó nếu có sự phân loại trong thơ mới thì chủ yếu dựa vào nội dung.

mới” ông đã chia phong trào thơ mới thành hai

thời kỳ:

Trang 17

* 1932-1939: 2 giai đoạn

Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp….

tắn, khẳng đọnh địa vị độc tôn trên văn đàn

Mặc Tử Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…

cực

Trang 18

Thơ mới, vừa ra đời đã mang trong nó nỗi buồn và ước muốn thoát ly hiện thực: “ Nhớ rừng” (Thế Lữ),” Tiếng gọi bên sông”, “ nỗi đau con voi già” của Huy Thông

Từ 1935-1939: Xã hội ngày một phân hoá sâu sắc hơn nhưng các nhà thơ mới ngày càng đi sâu hơn vào cái “tôi” cá nhân chủ nghĩa, cái

“tôi” quặn quại trong hiu quạnh, cô đơn và dần dần đi đến sự suy đồi

Trang 19

* 1940-1945:

Đi vào con đường bế, tắc không lối thoát Những khuynh hướng suy đồi ngày càng phát triển.

Từ 1940 trở đi Thơ mới xuất hiện xu hướng hình thức chủ

nghĩa, câu thơ trau chuốt, đẽo gọt hơn.

Trang 20

II Thi pháp thơ mới.

Phong trào thơ mới: một cuộc cách tân thi ca chưa từng có trong lịch

sử văn học dân tộc.

Theo Trần Đình Sử, đây là cuộc cách mạng trong thơ, nó không những đem lại những tác phẩm hay, những nhà thơ độc đáo mà còn đem lại một phạm trù thơ hiện đại, một thi pháp mới, một kiểu trữ tình mới,

phân biệt và thay thế cho thơ trữ tình cổ điển, truyền thống.

Trang 21

1. Đổi mới về ngôn ngữ thơ

Kết hợp tính truyền thống và hiện đại, đem đến tiếng nói mới, hình thức diễn đạt mới, ngôn ngữ mới…vượt ra khỏi những quy định nghiêm ngặt của vần luật

Tạo câu, ghép chữ một cách phóng túng

“Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao nghe réo rắt?

Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt

Mây bay, gió cuôn, mây bay…

Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may

Ánh chiều thu Lướt mặt hồ thu…

(Tiếng trúc tuyệt vời- Thế Lữ)

Trang 22

Cải tạo lại thơ Tiếng Việt từ câu thơ “ điệu ngâm” sang câu thơ “điệu

nói”

Thơ mới làm thay đổi nhãn quan thơ, thay đổi tiêu chuẩn đánh giá

hình thức thơ của thơ cổ

Thơ cổ giảm thiểu tối đa các yếu tố ngữ điệu, giọng điệu, màu sắc,

cảm xúc của tác giả Thơ mới đem lại một ngôn ngữ thơ gắn với lời nói và dòng ngữ điệu- cảm xúc của con người

Tâm thế sáng tạo thơ đã chuyển từ ý, hình, sang lời, giọng, điệu.

Trang 23

Câu thơ mới đã được chủ thể hóa, cá thể hóa cao

độ để gắn với lời phân trần, tiếng giục giã, câu tâm

sự chất liệu thơ không chỉ là từ, mà còn là ngữ,

giọng, điệu.

“Mau với chứ vội vàng lên với chứ!

Em, em ơi, tình non đã già rồi Con tim hồng trái tim nhỏ của tôi Mau với chứ, thời gian không đứng đợi”

(Giục giã- Xuân Diệu)

âm bên trong dòng thơ để nói cái dài, rộng của

không gian, của nỗi buồn.

“Đưa người ta không đưa sang sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng”

(Thâm Tâm)

Trang 24

Cách hiệp vần: phong phú

So với thơ cũ trong thơ mới có hai sự thay đổi trong cách gieo vần, ở cuối mỗi câu đều có gieo vần khác với luật thi chỉ gieo vần ở cuối câu đầu và câu chẵn.

Thơ mới còn chịu ảnh hưởng của cách hiệp vần phương tây.

+ Vần liên tiếp : a – a – b - b.

+ Vần ôm : a – b – b - a + vần giản cách : a – b – a - b.

Trang 25

Nhạc điệu thơ mới: nhạc điệu dân tộc + nhạc điệu thơ pháp, thơ cổ điển+ nhạc điệu thơ Đường

Rất được chú trọng

Ngôn ngữ: giàu hình tượng, cảm xúc,khả năng kết hợp giữa các từ rất

đa dạng, mới mà táo bạo, nhiều hình dung từ xuất hiện làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của dân tộc.

Tăng cường sử dụng tính từ trong câu thơ để tạo sức gợi cảm.

Trang 26

Sử dụng rộng rãi các biện pháp tu từ làm câu thơ giàu hình tượng,

tăng sức gợi cảm

Học tập từ thơ ca Pháp lối diễn tả tinh tế bằng cảm giác, bằng màu sắc của hội họ

Giải phóng câu thơ, tạo dáng lạ cho câu thơ tiếng Việt

Các thể thơ 8,7,6 ,5 chữ vẫn được sử dụng lại nhưng câu thơ đã khác hẳn (được nói rõ ở phần sau).

Trang 27

2 Cái tôi cá nhân trong thơ mới

Trong thơ mới cái tôi cá nhân đã được ý thức đầy đủ

Cái mới của thơ mới là dám coi cái “tôi” cá nhân như một quan

điểm, một tư cách để nhìn đời và nói với mọi người.

Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”: “Ngày thứ nhất- ai biết đích

ngày nào- chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ

Nó như lạc loài nơi đất khách: Bởi nó mang theo một quan niệm

chưa từng thấy ở xứ này: “ quan niệm cá nhân”.

Trang 28

Lấy cái tôi cá nhân làm đề tài, làm trung tâm của thơ ca, thể hiện khát vọng được thể hiện mình

Giải thoát khỏi quan điểm duy lý và giáo huấn vốn là sự ràng buộc của cái chung truyền thống đối với mỗi cá nhân.

Trang 29

3 Thơ mới thể hiện cái nhìn hướng

Trang 30

Giải phóng cho thi nhân khỏi cái khung lí tính để trực tiếp cảm nhận thế giới bên ngoài bằng cả tâm hồn nhà thơ

thơ cổ làm theo cái hiểu cái biết hơn là cái cảm.

Thơ mới chư trọng đến yếu tố hình tượng

Đặc trưng của cái nhìn hướng ngoại

Cái nhìn hướng ngoại của thơ mới vừa có thể tiếp cận lối tả chân mặt khác lại có thể phát triển thành cái nhìn tượng trưng, siêu thực.

Trang 32

Xuân Diệu không chỉ hướng ngoại theo lối “tả chân

” mà còn huy động giác quan để tái hiện một thế

giới khách thể sống động, hữu hình của cái vô hình.

mới có nhiều biểu hiện đa dạng

quan, có thể biểu hiện những giấc mơ đẹp như cổ tích

tượng trưng.

hoàn toàn với các yếu tố thi pháp cổ điển Tuy nhiên

để nhận ra chất thơ mới người ta buộc phải tách ra

và đối lập nó với thơ cũ.

Trang 33

III Các thể thơ từ phong trào thơ

mới đến nay.

Phong trào thơ mới: được coi là một cuộc đánh giá lại các thể thơ cũ, tiếp thu những cái tốt đẹp của truyền thống cũ đồng thời học tập một cách có sáng tạo thơ ca nước ngoài

Các nhà thơ mới nhận ra rằng thể thơ cũ ( luật thi) có phần nào gò bó, cứng nhắc ( nhất là về phương diện bố cục, đối ý, đối chữ) vì vậy gây khó khăn cho việc thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm mới nên bị phá vỡ.

Trang 34

3.1.Thơ 8 chữ (tám âm tiết).

có cả yêu vận và cước vận

nhiều biến thành vần liên châu(cuối mỗi câu hạ một vần)

Kha” của Nguyễn Huy Thông vẫn còn giữ được yêu vận.

thơ tám chữ thành thuần thục Sau đó Huy Cận,

Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử cũng khá thành công trong thể thơ này.

“Bữa nay lạnh mặt trơì đi ngủ sớm Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em!”

(Tương tư, chiều- Xuân Diệu)

Trang 36

3.2 Thơ bảy chữ:

trắc trong câu thơ cũng gần giống như thơ Đường

có điều là không chặt chẽ như thơ Đường.

như thơ luật nhưng niêm luật và các quy định khác không có như thơ luật.

Thơ thẩn rừng chiều một khách thơ

Say nhìn xa rặng núi xanh lơ Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ

(Cô hái mơ- Nguyễn Bính)

Tình (Huy Cận- Lữa Thiêng)

Trang 37

Thơ bảy chữ được bố trí nhiều dạng, bốn câu, tám, mười hoặc nhiều hơn nữa nhưng phổ biến là ở dạng bốn câu thành một đoạn và bài thơ gồm nhiều đoạn.

Những bài thơ thất ngôn của Xuân diệu như

“Huyền Diệu”, “Nguyệt Cầm” là sự kết hợp giữa lối thất ngôn cổ phong xưa với những bài thơ bốn khổ, mỗi khổ bốn câu của Baude Lare

(Chim Hải Âu, Giai Điệu Buổi Chiều).

Trang 38

3.3 Thơ sáu chữ

Xuất phát từ thể lục ngôn cổ được dùng lại Đây là một dạng từ trong thơ cổ phong Thơ lục ngôn khi đọc lên thường ít nhạc điệu do đó rất ít người làm.

Trang 39

3.4 Thơ năm chữ:

ngôn của thơ mới mềm mại hơn, uyển

chuyển hơn thơ cổ phong Thơ năm chữ cũng

đã từng xuất hiện trong ca dao.

Viễn Khách – Xuân Diệu.

Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô

Trang 40

3.5 Thơ bốn chữ:

Thể thơ này ở Việt Nam thường phổ biến trong ca dao, tục ngữ, vè

nói lối, đây là một thể thơ hấp dẫn nên vẫn được các nhà thơ mới sử dụng lại.

Ví dụ : Chiều Xuân (Huy Cận).

Xuân gội tràn đầy Giữa lòng hoan lạc Trên mình hoa cây”

Trang 41

3.6 Thơ ba chữ

việt: dễ dọc, dễ viết, dễ nhớ…

xen kẽ 2 trắc liền, vần sau vẫn tiếp vần trước

“con bướm vàng Bay nhẹ nhàng trên bờ cỏ”

(con bướm vàng- trần đăng khoa)

Trang 42

3.7 Thơ hai chữ

rất hiếm có ở việt nam, ít người làm

vần:những từ có thanh âm giống nhau, câu thơ có sự tương ứng lẫn nhau… co âm điệu, dễ nhớ

vần gieo liên tiếp từ nôm liền với từ tự

tài tình: từng cặp đối nhau 2 từ một cả về từ lẫn ý

“Sương rơi Nặng trĩu Trên cành Dương liễu…”

(sương rơi)

Trang 43

3.8 Thơ mười , mười hai chữ trở lên.

văn xuôi sau này

Kiêm (thuộc trường thơ Bạch Nga) không thành

công, phải đến sau kháng chiến chống Pháp nó

mới được sử dụng rộng rãi và gặt hái được nhiều thành quả đáng kể.

“tôi gặp anh buổi chiều đông ánh lờ mờ trên sông núi nhuốm một màu chết tiêu ma trong lòng người ngoài

gió bụi”

Trang 44

3.9 Thơ lục bát và song thất lục bát:

Trong phong trào thơ mới, thể thơ lục bát vẫn được nâng niu Huy

Cận, Nguyễn Bính… Đem đến cho lục bát một không khí mới Song thất lục bát không mất hẳn nhưng ít được dùng hơn trước.

Trang 45

3.10 Thơ thị giác

Đây là một cách thể nghiệm mới, thể thơ này tác động trực tiếp vào thị giác của người đọc bằng cách xếp chữ tạo hình.

Hoàng Hôn, Mưa của Nguyễn Vỹ

Tối của Trần Hữu Chưong

Trang 47

tiếng chuông chùa

Trang 48

3.11 Thơ văn xuôi:

Thể loại mới, xuất hiện ở Xuân Thu Nhã Tập, và sau cách mạng thể

thơ phát triển (tiêu biểu là đại diện Nguyễn Văn Hạnh)

Sau cách mạng tháng tám, thể thơ được cải cách từ phong trào thơ

mới vẫn được tiếp tục sử dụng nhưng do hoàn cảnh thực tế của xã hội nên các thể thơ dân gian được dùng rộng rãi hơn Một số thể thơ trong phong trào thơ mới thử nghiệm chưa thành công thì ở giai

đoạn sau này đã khẳng định được vị thế.

Trang 49

3.12 Thể thơ kịch:

Thể loại mới do ảnh hưởng từ thơ Pháp.

Thực chất là một bài thơ dài, hình thức đối thoại giúp cho ý thơ đi xa hơn, đỡ đơn điệu, hơn nữa phù hơp với sự diễn biến tình cảm.

Ví dụ: Tiếng Địch Sông Ô, Anh Nga của Huy Thông

Mỵ Châu Trọng Thủy của Xuân Diệu.

Trang 50

3.13Thể thơ độc tấu:

Ra đời trong kháng chiến, xuất phát từ thực tiễn của cuộc cách

mạng, thể độc tấu ra đời đã đáp ứng được nhu cầu tuyên truyền của cách mạng Người có công đầu là Thanh Tịnh.

Trong phong trào thơ đương đại hầu như không xuất hiện các thể

thơ mới mà chủ yếu là đổi mới về phong cách thơ, đổi mới về cách dùng câu chữ

Trang 51

SÁCH THAM KHẢO:

Thơ mới những bước thăng trầm- Lê Đình Kỵ- NXBTPHCM 1989.

Phong trào thơ mới - Phan Cư Đệ- NXB Khoa Học Hà Nội 1996.

Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại - Mã Giang Lân – NXB GD.

Văn học Việt Nam 1900-1945- Phan Cư Đệ, Trần Đình Hựu NXBGD.

Thi pháp hiện đại- Đỗ Đức Hiểu – NXB HNV

Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình tiếng Việt – Trần Đình

Sử- Tạp chí văn học số 6/1993.

Cuộc cải cách thơ của phong trào thơ mới và tiếng trình thơ tiếng

Việt – Lại Nguyên Ân – Tạp chí VH số 1/1993.

T ìm hiểu các thể thơ Việt Nam t ừ thơ cổ phong đến thơ đường luật

Ngày đăng: 18/04/2022, 19:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

tồn tại dưới hai dạng: hình thức và tư tưởng. - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
t ồn tại dưới hai dạng: hình thức và tư tưởng (Trang 2)
Về hình thứcVề hình thức - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
h ình thứcVề hình thức (Trang 3)
là sự hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình muônlà sự hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình muôn - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
l à sự hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình muônlà sự hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình muôn (Trang 11)
2.2 Các giai đoạn của thơ mới - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
2.2 Các giai đoạn của thơ mới (Trang 16)
 Trong qúa trình Trong qúa trình phát triển của thơ mới đã hình phát triển của thơ mới đã hình thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
rong qúa trình Trong qúa trình phát triển của thơ mới đã hình phát triển của thơ mới đã hình thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như thành nên nhiều trường phái thơ khác nhau như (Trang 16)
giới khách thể sống động, hữu hình của cái vô hình.giới khách thể sống động, hữu hình của cái vô hình. - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
gi ới khách thể sống động, hữu hình của cái vô hình.giới khách thể sống động, hữu hình của cái vô hình (Trang 32)
 có thể xem nó là hình bóng của thơ tự do và thơ có thể xem nó là hình bóng của thơ tự do và thơ - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
c ó thể xem nó là hình bóng của thơ tự do và thơ có thể xem nó là hình bóng của thơ tự do và thơ (Trang 43)
3.8 Thơ mườ i, mười hai chữ trở lên.3.8 Thơ mười , mười hai chữ trở lên. - Phong_trao_tho_Moi_6bcd9d8d87
3.8 Thơ mườ i, mười hai chữ trở lên.3.8 Thơ mười , mười hai chữ trở lên (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm