LỜI NÓI ĐẦU Sau đại hội toàn quốc lần thứ IX,tiếp tục đường lối được đề ra từ đại hội XI của đảng chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ “đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại h
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau đại hội toàn quốc lần thứ IX,tiếp tục đường lối được đề ra từ đại hội
XI của đảng chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ “đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” định hướng phát triển nhằm mục tiêu “ xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý,quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ ,văn minh”
Không phải ngẫu nhiên,việc nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới CNXH mà chúng ta đang tiến hành hôn nay
Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ,xây dựng chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất ,xây dựng kiểu xã hội mới –xã hội xã hội chủ nghĩa Trong thời kỳ quá độ thì nền kinh tế cũng có tính chất quá độ Đặc điểm cơ bản nhất xuyên suốt và bao trùm trong thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần , đây là do quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất qui định
Do vậy vấn đề quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những vấn đề nan giải mà chúng ta cần quan tâm giải quyết Việc thực hiện thắng lợi của CNXH ở nước ta một phần phụ thuộc vào việc có vận dụng tốt quy luật này hay không
Trang 2I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua các hình thái kinh tế- xã hội từ trước tới nay ,quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất luôn là quy luật cơ bản nhất ,quan trọng nhất trong cả lĩnh vực kinh tế
và trong lĩnh vực lịch sử phát triển của xã hội loài người
Chủ nghĩa xã hội duy vật lịch sử đã khẳng định rằng : Lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với Quan hệ sản xuất và ngược lại , Quan hệ sản suất cũng có tác động trở lại có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp Quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả khi Quan hệ sản xuất phàt triển không đồng bộ ,có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”( Đảng Cộng Sản Việt Nam,Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI)
Trước đây trong thời kỳ bao cấp , chúng ta đã có lúc phạm phải sai lầm là xây dựng “Quan hệ sản xuất đi trước Lực lượng sản xuất”, chỉ cho phép các hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể tồn tại , trong khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng mạnh mẽ đối với Lực lượng sản xuất thì lại bị ngăn cấm , không cho phép phát triển.Việc đó đã dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, không phát triển.Sau khi đã nhận thức đựợc sai lầm này, chúng ta đã đổi mới đường lối chiến lược trong lĩnh vực kinh tế ,
đó là xác lập lại các hình thức sở hữu, cho phép nhiều kiểu Quan hệ sản xuất cùng tồn tại để mở đường cho Lực lượng sản xuất phát triển
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI , Đảng ta đã xác định rõ con đường đi lên Xã hội chủ nghĩa là : “Tiếp tục thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ
Trang 3nghĩa, phát huy mọi nguồn lực để phát triển Lực lượng sản xuất , đẩy mạnh CNH-HĐH”
Hiện nay,việc chúng ta duy trì và phát triển 5 thành phần kinh tế là đã vận dụng đúng đắn quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với Lực lượng sản
xuất Để phân tích rõ hơn vấn đề này, tôi chọn đề tài : “Quy luật Quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triểncủa Lực lượng sản xuất với việc phân tích tính tất yếu của nền kimh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam” làm đề tài cho tiểu luận môn triết Triết học.Bài tiểu luận này
được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của cô: TS NGHIÊM THỊ CHÂU GIANG
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4
II/GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.Nội dung Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất.
a.Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giơi tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngươi lao động” Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình ,trước hết là công cụ lao động ,tác đông vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất
Người lao động là người có tri thức, kinh nghiệm, sức lao động, kỹ năng lao động
Cùng với người lao động là công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của Lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất Công cụ lao động do con người sang tạo ra, là “sức mạnh tri thức đã được vật thể hóa”, nó nhân sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản
xuất Công cụ lao động là yếu tố động nhất của Lực lượng sản xuất
Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm với những phát minh và sáng chế
ký thuật, công cụ lao đọng không ngừng được cải tiến và hoàn thiện Chính
sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi
toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa của mọi
Trang 5biến đổi Xã hội Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình
độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử
Trong sự phát triển của Lực lượng sản xuất ,khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.Sự phat triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay ,khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất ,trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”.Sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không chỉ còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại
là đặc trưng cho Lực lượng sản xuất hiện đại
b Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là Quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất gồm ba mặt quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất ,quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người.C.Mac đã viết “trong sản xuất, người ta không chỉ Quan hệ với giới tự nhiên Người ta khônng thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau Muốn sản xuất được người ta phải có những mối quan hệ nhất định với nhau ,và quan hệ với tự nhiên ,tức là việc sản xuất” Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất;giữa ba mặt của Quan hệ sản xuất thống nhất với nhau ,tạo thành mộy hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động phát triển không ngừng của Lực lượng sản xuất
Trong ba mặt của Quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu là quan
hệ xuất phát ,quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong xã hội
Trang 6Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định về quan hệ tổ chức quản lý sản xuất,quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ khác
Lịch sử phát triển của nhân lọai đã chứng kiến có hai hình thức sở hữu
về tư liệu sản xuất: sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân Quan hệ tổ chức
và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, điều khiển quá trình sản xuất.Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của quá trình sản xuất Khi quan hệ quản lý không phù hợp quan hệ sở hữu làm biến dạng quan hệ sở hữu.Quan hệ về phân phối sẩn phẩm do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản người lý chi phối, song nó cũng tác động kích thích trực tiếp đến thái độ của người lao động sản xuất,và do đó
có thể thức đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển
c.Phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là cách con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người
mỗi xã hội dặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.Sự thay thế
kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển xã hội loài người từ thấp đến cao.Còn theo kết cấu thì phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa Lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với Quan hệ sản xuất tương ứng
d Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX.
Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội
Trình độ - tính chất của lực lượng sản xuất : Trình độ Lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ kinh nghiệm kỹ năng
Trang 7lao động của con người, trình độ tổ chức và pân công lao động xã hội, trình
độ ứng dụng khoa học công nghệ và sản xuất Gắn liền với trình độ của Lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trình độ nào thì tính chất
ấy không thể tách rời Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém thì Lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân Khi sản xuấtđạt tình độ cơ khí, phân công lao động xã hội đã phát triển Lực lượng sản xuất
có tính chất xã hội hóa
Sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển cuả Lực lượng sản xuất thể hiện ở những điểm sau :
-Trong sản xuất khai thác được mọi năng lực sản xuất của xã hội -Sử dụng có hiệu quả những tư liệu sản xuất
-Áp dụng được mọi thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của Quan hệ sản xuất.
Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất Sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó Quan hệ sản xuất là “ hình thức phát triển” của Lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó tất cả các mặt của Quan hệ sản xuất tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất do đó có cơ sở để phát triển hết khả năng của Lực lượng sản xuất
Sự phát triển của Lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho Quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp, trở thành xiềng xích của Lực lượng sản xuất, kìm hãm Lực lượng sản xuất phát triển Như vậy yêu cầu khách quan của sự phát triển Lực lượng sản xuất tất yếu dẫn tới thay thế Quan hệ sản xuất cũ bằng Quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của Lực lượng sản xuất để thúc đẩy Lực lượng
Trang 8sản xuất tiếp tục phát triển Và phương thức sản xuất mới ra đời Nhưng rồi quan hệ sản xuất mới dần lại trở nên không còn phù hợp với Lực lượng sản xuất đã phát triển hơn nữa; sự thay thế phương thức sản xuất nước mới lại diễn ra
Lực lượng sản xuất quyết định Quan hệ sản xuất, nhưng Quan hệ sản
xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của Lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất tác
động đến thái dộ của con người trong lao động, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ …và do đó tác động đến sự phát triển của Lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy cho Lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, Quan hệ sản xuất lỗi thời lạc hậu hoặc tiên tiến một cách giả tạo so với trình
độ phát triển của Lực lượng sản xuất Tuy nhiên việc giải quyết mâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất không phải đơn giản Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người ,trong xã hội có giai cấp phải thông qua cách mạng xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế phát triển của lịch sử nhân loại qua các chế độ XH từ thấp đến cao là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất
là quy luật cơ bản nhất
2.Tính tất yếu của quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
a Sự hình thành và các thành phần kinh tế ở việt nam trong thời kỳ quá độ
Trang 9
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao và có nhiều trình độ khác nhau Do đó trong nền kinh tế tồn tại ba hình thức sỏ hữ tư liệu sản xuất cơ bản: sở hữu toàn dân sở hữu tập thể
và sở hữu tư nhân Trên cơ sở ba hình thức sở hữu đó, hình thành 5 thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh
tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
+) Kinh tế nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu
nhà nước về tư liệu sản xuất, chủ yếu gồm các đơn vị kinh tế mà tất cả vốn thuộc về nhà nước hoặc phần lớn của nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế
Từ năm 1986 đến nay, các doanh nghiệp nhà nước đã giảm 55% số lượng doanh nghiệp, hiện nay còn 5.700 doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp độc lập hoặc dưới hình thức trực thuộc các tổng công ty
+) Kinh tế tập thể: kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm
những cơ sở kinh tế do người lao động tự nguyện góp vốn, cùng kinh doanh,
tự quản lý theo nguyên tắc tập trung, bình đẳng cùng có lợi Trong thời gian
từ năm 1996 đến nay, nước ta chuyển sang thời kỳ xây dựng hợp tác xã theo
mô hình kiểu mới, đánh dấu bằng việc ban hành luật hợp tác xã tháng 3 năm 1996(có hiệu lực tháng 1 năm 1997)
+) Kinh tế tư nhân: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu Tư
bản Chủ nghĩa, gồm các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nứơc đầu tư để sản xuất kinh doanh, dịch vụ
Năm 1991, ở Việt Nam có 122 doanh nghiệp Tư bản, Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Năm 1993, sau khi ban hành Nghị định 60/HĐBT đã có khoảng 900.000 cá nhân, nhóm kinh doanh được cấp đằng
ký thaeo loại hình đơn vị có vốn dưới mức pháp định Cuối năm 2001 có hơn 30.000 doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo luật Doanh Nghiệp
Trang 10+) Kinh tế tư bản Nhà nước: Là thành phần kinh tế mà chủ thể là các
nhà Tư bản và Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh
Năm 1998, sau khi Nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã có 3 dự án đầu tư được cấp phép dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 366 triệu USD, chỉ riêng năm 1995 có 404
dự án với 6,6 tỷ USD vốn đăng ký Đến tháng 12 năm 2000, số dự án được cấp giấy phép lên tới 3.112 dự án với vốn đăng ký ;là 43,16 tủ USD
+) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Nghị quyết đại hội IX đã căn
cứ vào điều kiện thực tiễn của nền kinh tế đã đưa thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhằm mục đích khai thác những tiềm nằng, lợi thế so sánh và các nguồn lực từ phía cá đối tác bên ngoài nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước
Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn biến khá sôi động trong năm 1998 Cuối năm 2000 cả nước có khoảng 3.000 dự án của hơn 700 doang nghiệp thuộc 62 nước và lãnh thổ với tổng vốn đăng ký là 36 tỷ USD, vốn thực hiện 16,89 tỷ USD ( chưa tính đến liên doanh dầu khí Vietsopetrol ), hoạt động đầu tư nước ngoài đã nộp ngân sách 1,52 tỷ USD, tạo 21,6 tỷ hàng hóa xuất nhập khẩu, giải quyết việc làm cho 32 vạn lao động trực tiếp và 1 triệu lao động gián tiếp
b Tính tất yếu khách quan của nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.
Trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị trí chi phối Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước để lại và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị Mặt khác, trong thời kỳ quá độ chưa có thành phần