Với vai trò quan trọng như thế, các thương nhân người Nhật, người Việt và người Hoa đã tạo ra một mối liên kết, tương trợ lẫn nhau và đó là một trong những nhân tố chủ yếu làm cho Hội An
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ BÍCH THẢO
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA NGƯỜI VIỆT
VỚI NGƯỜI HOA VÀ NGƯỜI NHẬT
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không có trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 06 năm 2010
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ BÍCH THẢO
Trang 5PH ẦN MỞ ĐẦU
1.M ục đích nghiên cứu khoa học
Hội An – Faifo từ lâu đã là địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam và được nhắc tới trong nhiều tài liệu nước ngoài Từ trước thế kỷ XV, nơi đây là một cảng trọng yếu của Champa và sau đó, trong khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội An trở thành một trung tâm giao lưu kinh tế - văn hóa phát đạt bậc nhất của Việt Nam Thuyền buôn và thương nhân nhiều nước Á, Âu đã đến đây buôn bán, lập thương điếm, dựng phố xá
Vào các thế kỷ XV, XVI, XVII, do những điều kiện lịch sử đương thời ở Việt Nam và thế giới, nhiều thương nhân ngoại quốc đã đến Hội An để trao đổi, buôn bán Trong số đó, có thương nhân chỉ đến buôn bán theo mùa nhưng không ít người đến định cư tại đây để làm ăn sinh sống Từ đầu thế kỷ XVII, người Nhật, người Hoa đã dựng nhà, lập phố đan xen với phố xá nhà cửa và xóm chài của người Việt
Vào thời điểm đó, nước Đại Việt có bốn trung tâm buôn bán lớn với người ngoại quốc
là Kẻ Chợ, Phố Hiến ở Đàng Ngoài và Đà Nẵng (Touran), Hội An (Faifo) ở Đàng Trong Trong bốn địa điểm ấy, Hội An là nơi buôn bán sầm uất nhất – nơi vẫn được các thương gia ngoại quốc đã từng một lần ghé đến ca tụng như là một đầu mối giao thông, thương mại bằng đường biển quan trọng bậc nhất xứ Đàng Trong Sức thu hút của Hội An đối với các thương nhân ngoại quốc trước hết ở vị trí thuận lợi vì Hội An là một trong những cảng thị nằm trên con đường tơ lụa trên biển và phát triển trong hệ thống thương mại châu Á Quan trọng hơn, Hội An là một kho hàng lớn có thể cung cấp nhiều mặt hàng, đáp ứng nhu cầu của thuyền buôn các nước Chính vì thế, từ thế kỷ XVII Hội An đã sớm khẳng định được vị trí của một cảng thị quốc tế, trở thành thương cảng lớn nhất Đàng Trong, mở cửa đón nhận các thuyền buôn nước ngoài ở phương Đông và phương Tây Đây được coi là: “hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng” [2, tr 91]
Bên cạnh đó, để khuyến khích ngoại thương, chúa Nguyễn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho các đoàn thuyền buôn ngoại quốc từ Phúc Kiến, Macao, Nhật Bản, Manila, Campuchia…đến trao đổi hàng hóa Nhưng theo C Borri thì: “Người Tàu và người Nhật là những người làm thương mại chính yếu ở xứ Đàng Trong”.[2, tr.89] Hay nói cách khác,
Trang 6chính những thương nhân người Hoa, người Nhật là người nắm cán cân chính trong hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa ở Đàng Trong nói chung, Hội An nói riêng Với vai trò quan trọng như thế, các thương nhân người Nhật, người Việt và người Hoa đã tạo ra một mối liên kết, tương trợ lẫn nhau và đó là một trong những nhân tố chủ yếu làm cho Hội An trở thành trung tâm buôn bán sôi động, là thương cảng lớn nhất Đàng Trong vào thế kỷ XVI – XVII
Mục đích của luận văn là nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống hoạt động thương mại
đã diễn ra giữa thương nhân người Việt với người Nhật, người Hoa ở Hội An Các hoạt động buôn bán, trao đổi đã hình thành, phát triển như thế nào? Nó ảnh hưởng ra sao đối với thương nhân mỗi nước, đến sự phát triển của đô thị Hội An trong thế kỷ XVII và đặc biệt là các hoạt động kinh tế đó đã có vai trò như thế nào trong việc thiết lập quan hệ chính quyền các nước Hơn nữa, tìm hiểu về cảng thị Hội An thế kỷ XVII cũng là tìm hiểu về một loại hình kinh tế - xã hội, văn hóa dưới thời chúa Nguyễn có quan hệ đến sản xuất hàng hóa, thương nghiệp, phát triển đô thị trong mối quan hệ giao lưu kinh tế và văn hóa với bên ngoài
Việc thực hiện đề tài có thể giúp tôi rút ra được những khái luận mang ý nghĩa lịch sử
về mối quan hệ thương mại giữa người Việt với người Nhật và người Việt với người Hoa thế
kỷ XVII cũng như sự phát triển của các cảng thị Việt Nam nói chung và đô thị cảng Hội An nói riêng – một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của đất nước thời trung đại Hội
An thực sự là một hiện tượng đáng nghiên cứu trong lịch sử kinh tế Việt Nam mà trước hết
là lịch sử kinh tế ngoại thương Việc tìm hiểu mối quan hệ thương mại của người Việt với người Nhật và người Hoa ở Hội An còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học, giúp chúng ta có một cái nhìn lịch sử về diễn biến đô thị hóa của một số thành phố cảng hiện nay để có được những đầu tư thích hợp
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Hội An trong những thế kỷ XVI, XVII vẫn đang là đề tài thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đã đề cập đến các mảng khác nhau về Hội An đặc biệt là về hoạt động kinh tế Tuy nhiên chưa có tác phẩm nào
đề cập một cách cụ thể đến mối quan hệ thương mại của người Việt với người Nhật và người Hoa ở Hội An thế kỷ XVII một cách chi tiết, đầy đủ
Trang 7Nhìn lại sau hơn 70 năm, việc nghiên cứu về Hội An có thể chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I _ Từ 1919 đến 1975 Đó là những công trình đơn lẻ của một số nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đến khảo sát trực tiếp ở Hội An Nhưng chủ yếu là những vấn
đề lịch sử Hội An trong hai thế kỷ XVII – XVIII, khai thác tỉ mỉ về phố Khách, Hoa thương
và các công trình kiến trúc của người Hoa Những vấn đề khác ít được quan tâm hoặc không được đề cập đến
Một số giáo sĩ cũng như thương nhân nước ngoài có dịp đặt chân đến đã ghi chép lại
và miêu tả trong một số bản đồ, tư liệu phương Tây từ đầu thế kỷ XVII Theo các nguồn tư liệu hiện biết thì có lẽ Hội An lần đầu tiên được vẽ trên bản đồ với tên Faifoo khoảng năm
1666 do Pieter Goos thực hiện
Bài viết đầu tiên về phố cảng Hội An là Le Vienx Faifo của bác sĩ Sallet đăng trên tập
san BAVH năm 1919 Hơn 30 năm sau, cũng trên tập san BAVH, Nguyễn Thiệu Lâu đã có
sự nghiên cứu về sự hình thành và diễn biến làng Minh Hương ở Hội An Tác giả đã dựa trên
các văn bia, gia phổ các bài viết chưa công bố và tập tài liệu “Thương Tàu vãn lệ” để xây
dựng bản khảo cứu về Hội An Tác giả đã làm rõ các vị tiền hiền có danh tính trong “thập lão”, “tam gia” với quá trình chuyển cư đến Hội An vào các thế kỷ XVI – XVII cùng quá trình mở rộng diện tích đất của làng Minh Hương
Năm sau, trên tập san BEFFO, Nguyễn Thiệu Lâu lại chú ý khai thác phố và cảng Hội
An vào thế kỷ XVII trong 5 trang báo Tác giả đã xác định các bến đỗ của tàu thuyền bên sông Hội An và giới thiệu quá trình hình thành, diễn biến và xác lập phố Khách của Hoa thương tại Hội An
Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) – Giáo sư Sử học người Trung Quốc đã đăng trên tập
chí T ân Á học báo xuất bản ở Hồng Kông bài khảo cứu dài về Phố Khách ở Hội An và Thương nghiệp thế kỷ XVII – XVIII Thành công của bài khảo cứu này là làm rõ quá trình
thành lập phố Khách và thương nhân nước ngoài đến buôn bán với Hội An Sau đó, Chen
Ching Ho lại công bố trên tập san Khảo cổ của Sài Gòn bài “ Mấy điều nhận xét về Minh
Hương xã và cổ tích tại Hội An”, số 1 (1960) và số 1 (1962) giới thiệu về việc thành lập phố
Khách và Minh Hương xã, nghiên cứu về các bậc tiền hiền của người Hoa tại Hội An, việc
mở rộng diện tích của Minh Hương Xã cũng như các đền miếu, hội quán
Trang 8Những tài liệu biên chép về Hội An còn gắn liền với tên tuổi một số học giả trong đó
có biên chép do giáo sĩ người Italia Christoforo Borri thực hiện giai đoạn những năm 1681 –
1823 hay do người Bồ Đào Nha Léon Pagère hoặc giáo sĩ người Pháp Alexandre Rhodes tiến hành các năm 1624 – 1645 Đến cuối thế kỷ XVII, biên chép về Hội An lại được thương nhân người Anh Thomas Boyear cho ra đời khi ông đến Hội An xin đặt thương điếm tại đây ngày 18 tháng 8 năm 1964 Cùng thời gian này một nhà sư Trung Hoa là Thích Đại Sán tới Hội An Ông đã để lại những dòng ghi chép khá chi tiết về mảnh đất cảng thị này Bên cạnh ghi chép của các giáo sĩ, thương nhân người nước ngoài, vào giai đoạn này không ít tác giả Việt Nam quan tâm và đề cập đến Hội An trong các công trình biên sử của mình như
Dương Văn An với cuốn Ô châu cận lục, Lê Quý Đôn ở sách Phủ biên tạp lục, Trịnh Hoài Đức với cuốn Gia Định thành thông chí Đặc biệt phải kể đến các tập Quốc triều chính biên,
Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục tiền biên do Quốc sử quán triều Nguyễn thực
hiện
Nhìn chung, phần lớn các ghi chép của các tác giả nước ngoài về Hội An đều dưới dạng bút ký, thông qua ít nhiều cảm nhận trực quan mà họ thu được liên hệ tới cảnh quan đô thị, tình hình buôn bán, thuế quan, sinh hoạt đời thường của cư dân Những ghi chép đó gắn liền với tên tuổi của các nhà truyền giáo hoặc thương nhân
Ngoài việc ghi chép, miêu tả, các tác giả giai đoạn này còn để lại những bức tranh minh
họa như Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ, các bản đồ của Alexandre de Rhodes, Robert, Le Harpe
(thế kỷ XVIII), Pavie và Caillard thực hiện Những bức tranh và những bản đồ cổ này đã giúp cho việc xác định vị trí Hội An trong suốt chiều dài lịch sử
Giai đoạn II _ Từ năm 1975 đến nay, đặc biệt sôi nổi là trong thập niên 1980 – 1990, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức khoa học đã đến với Hội An Ngoài một số bài công bố
ở các tạp chí, đã có hai cuộc hội thảo quan trọng về đô thị cổ Hội An, quy tụ hầu hết các nhà khoa học ở trong và ngoài nước có quan tâm nghiên cứu Hội An, để lại những thành tựu khoa học quan trọng và những tác dụng thực tiễn cho Hội An
Năm 1985, Hội thảo quốc gia về Hội An được tổ chức ở Hội An nhân dịp thương cảng này được Chính phủ Việt Nam công nhận là khu di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia
Tiếp đó, năm 1990 Hội thảo quốc tế về phố cổ Hội An ở Đà Nẵng đã mở ra một bước ngoặt trong nghiên cứu về Hội An Với sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều
Trang 9chuyên môn khác nhau như địa lý, địa chất, khảo cổ học, sử học, kiến trúc đến văn hóa, nghệ thuật….Hội thảo đã nâng cao tầm hiểu biết về các giá trị của Hội An và đặt ra nhiều vấn đề mới cuốn hút các nhà khoa học
Hội thảo quốc tế về phố cổ Hội An năm 1990 là cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam
và nước ngoài trao đổi những kết quả nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành Các nhà khoa học nước ngoài đem đến hội thảo nhiều nguồn tư liệu mới liên quan đến Hội An như: Ogura
Sadao với bức tranh “Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ” và “Thác kiến quan thế âm”, Chihara Daigaro với những công trình kiến trúc mô tả trong “Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ” nói lên
được một phần tình hình buôn bán của thuyền Châu ấn (Shuinsen) thời Tokugawa Các công
trình nghiên cứu của Shigeru Ikuta với “Vai trò của các cảng thị vùng ven biển Đông Nam Á
từ đầu thế kỷ II đến đầu thế kỷ XIX”, “Hội An và cư dân Nhật trước đây” của Yoshari, “Tìm hiểu mối quan hệ Nhật – Việt qua gốm sứ” của Hasebe Gakyji… Đặc biệt, rất nhiều báo cáo
của các học giả trong nước và nước ngoài tại Hội thảo đã cung cấp nguồn sử liệu có giá trị
khác như: “Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An” của Vũ Minh Giang,
“Quan hệ và phương thức buôn bán giữa Hội An với trong nước” của Đỗ Bang…Các bài
viết của các tác giả tham gia hội thảo đem lại nhiều nguồn tư liệu mới về mặt khảo cổ học và văn hóa, về lịch sử hình thành cũng như quá trình phát triển của đô thị cổ Hội An
Năm 1999, Hội thảo quốc tế Quan hệ Việt – Nhật qua giao lưu gốm sứ được tổ chức
tại Hà Nội đã làm sáng tỏ thêm về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản qua con
đường gốm sứ với các bài tham luận của Tsuzuki Shinichiro trong “Gốm Việt Nam khai quật
từ di chỉ hào thành Sakai”, “Gốm sứ Việt Nam qua cuộc điều tra khảo cổ ở Nagasaki” của
Mori Tsuyoshi Các nhà nghiên cứu Việt Nam như Nguyễn Thừa Hỷ và Phan Hải Linh cũng
có bài tham luận “ Quan hệ thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam thế kỷ XVI, XVII” tại
Hội thảo…
Trong số nhiều nhà khoa học đến từ các nước thì các học giả Nhật Bản có quan hệ hợp tác quy mô và liên tục nhất Đó là do Hội An là một thương cảng Việt Nam có quan hệ mật thiết với Nhật Bản trong thế kỷ XVII và trong những thương cảng có khu phố người Nhật thì Hội An là đô thị cổ duy nhất ở Đông Nam Á còn bảo tồn được một tổng thể kiến trúc phong phú, đa dạng nhất Trong số những nhà nghiên cứu Nhật Bản đó phải kể đến Iwao Seiichi và Kikuchi Seiichi đã có những công trình nghiên cứu về Hội An qua điều tra khảo cổ học Các
Trang 10công trình nghiên cứu về “Phố Nhật Bản ở Hội An qua nghiên cứu khảo cổ học” hay “Sự
hình thành và phát triển khu phố Hội An qua việc nghiên cứu bia văn và các tư liệu khảo cổ học” của Kikuchi Seiichi đã cung cấp nhiều tư liệu hữu ích trong việc làm sáng tỏ mối quan
hệ, giao lưu Việt - Nhật thế kỷ XVII nhìn từ góc độ khảo cổ học Cùng với các nhà nghiên
cứu Nhật Bản thì ở Việt Nam, Nguyễn Quốc Hùng với tác phẩm “Phố cổ Hội An và việc
giao lưu văn hóa ở Việt Nam” Tuy tác giả đề cập khái quát nhưng đã có những nhận định về
quy mô và loại hình đô thị mang tính khác biệt của Hội An
Về mối quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản, tác giả Nguyễn Văn Kim có nhiều công
trình nghiên cứu về đề tài này như “Nhật Bản và Châu Á – những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội”, hay “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV – XVII”, “ Xứ Đàng Trong các mối quan hệ và tương tác quyền lực khu vực”,“Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời Tokugawa nguyên nhân và hệ quả”… giúp chúng ta có thêm tư liệu về
mối quan hệ của Nhật Bản với Việt Nam nói chung và Nhật Bản với Đàng Trong nói riêng
Tác giả Trịnh Tiến Thuận với luận án tiến sĩ về đề tài “Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thế kỷ
XVI, XVII” đã đề cập chi tiết về hoạt động trao đổi, buôn bán của người Nhật với chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài
Không những thế, Hội An còn được nhìn nhận một cách tổng thể qua bài viết của
Nguyễn Phước Tương trong “Hội An – Di sản văn hóa thế giới” hay “Hội An” của Nguyễn
Văn Xuân…
Tuy nhiên, tìm hiểu về mối quan hệ thương mại của người Việt với người Nhật và người Hoa còn liên quan đến vấn đề ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII, phản ánh sự trao đổi, buôn bán giữa Việt Nam với các nước Một số tác giả như Thành Thế Vỹ với cuốn
“Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX”, Nguyễn Thế Anh với
“Kin h tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” cho chúng ta thấy tình hình kinh tế
hàng hóa của Việt Nam hồi thế kỷ XVII cũng như thái độ của nhà nước đối với các lái buôn nước ngoài, đặc biệt là địa vị của thương gia Hoa kiều trong nền ngoại thương Việt Nam
Tác phẩm “Xứ Đàng Trong Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII”của
LiTana cung cấp rất nhiều tư liệu về vùng đất Đàng Trong, các thương gia nước ngoài và hoạt động thương mại
Trang 11Tác giả Đỗ Bang trong “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII” đã dành
một chương về Hội An, giúp chúng ta có cái nhìn bao quát hơn về Hội An với các cảng thị cùng thời
Ngoài ra, rất nhiều bài nghiên cứu có đề cập đến mối quan hệ kinh tế của người Việt
với người Nhật, người Việt với người Hoa được đăng trên các tạp chí như Tân Á học báo,
Việt Nam khảo cổ tập san, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á Trong đó có một số bài viết đề cập khá chi tiết về mảng kinh tế ở Hội An như “Đô thị
cổ Hội An – mấy đặc điểm kinh tế - xã hội” của Phan Đại Doãn, “Phố người Đường cùng nền thương nghiệp của họ vào thế kỷ XVII – XVII ở Hội An” của Trần Kinh Hòa đã phản ánh
phần nào nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Như vậy, việc nghiên cứu Hội An khá phong phú song chưa có một tác phẩm nào đề cập mối quan hệ thương mại giữa ngườiViệt với người Nhật và người Hoa ở Hội An thế kỷ XVII một cách hoàn chỉnh, bao quát toàn bộ mối quan hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau cũng như có sự tác động đến sự phát triển của cảng thị Hội An Đa số các tác phẩm chỉ nghiên cứu một mối quan hệ riêng lẻ như mối quan hệ kinh tế Nhật – Việt hay Hoa – Việt, chưa đề cập đồng thời cả hai mối quan hệ này Vì vậy, kế thừa thành quả nghiên cứu của các các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn sẽ hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển của mối quan hệ thương mại giữa người Việt với người Nhật và người Việt với người Hoa ở Hội
An thế kỷ XVII Đồng thời đưa ra những nhận định thỏa đáng về các nội dung mà các công trình trên chưa đề cập đầy đủ
3 Ngu ồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài luận văn của mình, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu Địa chí có liên
quan đến các vùng Thuận Quảng như: Ô châu cận lục của Dương Văn An, Phủ biên tạp lục
của Lê Quý Đôn…Thế mạnh của nguồn tư liệu này là mang đến những thông tin đáng tin cậy về địa danh, nhân vật lịch sử, các phố, chợ, đường, bến đò, thành lũy, …Trong nguồn tài
liệu địa chí, tôi chú ý khai thác cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn nhất là quyển 4 nói
về lệ thuế đầu nguồn, tuần ty, đầm hồ, chợ đò, đồng sắt, lệ vận tải ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam và quyển thứ 6: nói về sản vật, phong tục Tuy nhiên, nguồn tài liệu địa chí chỉ phản ánh một phần nào đó về hoàn cảnh nội sinh của các phố cảng mà ở vào các thế kỷ
Trang 12trước, những tác giả của nguồn tài liệu này chưa có điều kiện phân tích và kiểm chứng khoa học
Nguồn tài liệu trong các bộ sử biên niên dưới thời phong kiến cũng được tôi tham
khảo như: Đại nam thực lục tiền biên, Đại nam thực lục chính biên… Nguồn tài liệu này nói
chung ít đề cập đến các hoạt động ở đô thị và tình hình thương nghiệp ở nước ta Tuy nhiên, trong Đại Nam thực lục tiền biên và Đại nam thực lục chính biên thỉnh thoảng có ghi chép
vài sự kiện của triều đình có liên quan đến Hội An, Đà Nẵng, Thanh Hà…nhất là chính sách của nhà nước quy định đối với thương nhân nước ngoài
Bên cạnh đó, tôi đặc biệt quan tâm đến nguồn tài liệu du ký của người nước ngoài có mặt ở vùng Thuận Quảng trong các thế kỷ trước Tuy đó là những ghi chép riêng lẻ phiến diện mang tính chủ quan của giới thương nhân, giáo sĩ, sư sãi, quan chức…nhưng tập hợp lại thì đó là bức tranh đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội ở Đàng Trong Đây là nguồn tài liệu quan trọng cần được khai thác triệt để như Cristoforo Borri (1618 – 1621), Alexandre de Rhodes (1624 – 1627, 1640 – 1654), Thích Đại Sán (1695 – 1696)…
Ngoài ra tôi còn chú ý tới nguồn tư liệu đã được công bố trong các công trình khoa học ở nhiều nước, đặc biệt được giới thiệu và trích đoạn trong hai cuộc hội thảo quốc tế ở
Việt Nam: Hội An (1990), Phố Hiến (1992) Thêm vào đó, tôi còn tham khảo các công trình
khoa học như các luận án Phó tiến sĩ, Tiến sĩ có liên quan như:
- Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII của Đỗ Bang, 1993
- Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII của Trịnh Tiến Thuận, 2002
- Tìm hiểu các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á
của Châu Thị Hải, 1989
- P hố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa của Việt Nam của Nguyễn Quốc Hùng, 1993
Đề tài cũng sử dụng một số hình ảnh trên internet Tuy đây là nguồn tư liệu vô cùng phong phú nhưng cần có sự so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để thẩm tra Có như vậy mới đảm bảo tính chính xác và khoa học cho đề tài
Nguồn tài liệu nói trên đã cung cấp những thông tin hết sức quý giá giúp cho luận văn được hoàn chỉnh Tuy nhiên, một số vấn đề do tư liệu hiện có còn hạn chế nên chưa được
Trang 13giải quyết thấu đáo Mong rằng trong thời gian tới, với những phát hiện mới của các nhà nghiên cứu, những vấn đề này sẽ được sáng tỏ hơn
Trong quá trình hoàn thành đề tài, tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
1 Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt Hội An trong hệ thống cảng biển Việt Nam cũng như tình hình thương nghiệp Đàng Trong thế kỷ XVII để nghiên cứu Coi Hội An là thương cảng lớn nhất Đàng Trong, ra đời và thịnh đạt trong thế kỷ XVII trên một vị trí địa lý
và bối cảnh lịch sử trong nước cũng như khu vực có nhiều thuận lợi
2 Phương pháp liên ngành: Trong quá trình thực hiện đề tài, việc kết hợp hai loại tài liệu khảo cổ học và sử học, trong đó tài liệu khảo cổ học đã cung cấp rất nhiều thông tin mới giúp chúng ta có những nhận định đúng đắn hơn về hoạt động trao đổi hàng hóa thời kỳ này
3 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Ngoài việc phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, đề tài cố gắng trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các
sự kiện lịch sử, trình bày lịch sử như nó đã từng có
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề mà luận văn đặt ra chỉ nhằm tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong mảng nghiên cứu về hoạt động thương mại ở Hội An thế kỷ XVII Bởi vì không chỉ có thương nhân người Nhật, người Hoa đến Hội An buôn bán mà còn rất nhiều thuyền buôn ngoại quốc cũng cập cảng Hội An thực hiện giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa Tuy nhiên, việc hình thành hai khu phố người Nhật, người Hoa cũng như vai trò của họ đối với sự phát triển của cảng thị Hội An là vấn đề đáng quan tâm, nghiên cứu Do đó, đối tượng nghiên cứu của luận văn là tầng lớp thương nhân và mối quan hệ thương mại của người Việt với người Hoa và người Nhật ở Hội An thế kỷ XVII
Cụ thể, luận văn tập trung giải quyết những nội dung chính sau:
1 Hoạt động kinh tế của thương nhân người Việt, người Hoa, người Nhật phản ánh đặc điểm, cách thức buôn bán cũng như các mối quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hóa của thương nhân người Việt, người Nhật, người Hoa Đây cũng là nội dung chính của luận văn
đề cập
2 Các sự kiện tiêu biểu phản ánh mối quan hệ kinh tế Việt – Nhật, Việt – Hoa ở Hội
An để thấy được sự tương tác, gắn kết giữa ba đầu mối kinh tế
Trang 143 Hoạt động kinh tế của người Nhật, người Hoa có vai trò, ảnh hưởng lớn đến sự hưng thịnh của cảng thị Hội An
Trang 15CHƯƠNG 1: HỘI AN – ĐIỂM ĐẾN CỦA CÁC THƯƠNG NHÂN
Vào thế kỷ XVI – XVII, Hội An là một trong những trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của nước ta Trong quá trình đi tìm thị trường, thương nhân các nước đã chọn nơi đây làm đầu mối trao đổi hàng hóa, khiến nó trở thành một trung tâm buôn bán của khu vực miền trung và cả nước Hội An đã hội đủ những nhân tố khiến cho nó có vị trí quan trọng trong hệ thống thương mại với nước ngoài và là nơi hấp dẫn đối với những thương nhân ngoại quốc vào thế kỷ XVI, XVII
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.V ị trí địa lý
Là một quốc gia nằm ở vùng bán đảo, Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.200
km Bằng đường biển và giao thương trên biển, Việt Nam có quan hệ với nhiều quốc gia trong khu vực và mối quan hệ đó đã trở nên rộng mở vào thế kỷ XVI – XVIII khi các tuyến thương mại thế giới chạy qua vùng lãnh hải Việt Nam
Thế kỷ XV – XVII được coi là thời đại thương mại (the Age of Commerce) Ở Châu Á, từ thời cổ đại và trung đại, ngoài những con đường giao thương trực tiếp giữa các quốc gia, đã sớm hình thành hai hệ thống giao lưu kinh tế - văn hóa lớn là “con đường tơ lụa trên bộ” và “con đường tơ lụa trên biển” Từ thế kỷ VIII – IX do thuận tiện của đường biển
và do những tiến bộ của kỹ thuật hàng hải, “con đường tơ lụa trên biển” ngày càng chiếm ưu thế Hệ thống thương mại Á châu này có quan hệ và tác động đến quan hệ giao thương của các nước châu Á, nhất là những nước ven bờ đại dương như Việt Nam
Từ khoảng thế kỷ VII – VIII, Đàng Trong đã trở thành địa chỉ hấp dẫn các thuyền buôn Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập…đến trao đổi buôn bán Trong Tân Đường thư, Địa lí chí, ở thế kỷ VII – X, trên con đường từ Quảng Châu đến Bagda (Ả Rập), thuyền bè quốc tế Trung Hoa, Ba tư, Ả Rập, Srivijaya (Giava) bao giờ cũng ghé qua Chiêm Bất Lao (Cù lao Chàm – cửa Đại – cửa Hàn ) Có thể nói, người Chăm đã có cái nhìn về biển đúng đắn, biết tham dự
và dấn thân tích cực vào luồng thương mại quốc tế trên biển.[46, tr.5]
Với một vị trí địa – thương mại được xác lập từ sớm trong lịch sử, thương nhân các nước Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập… cũng đã quen thuộc với thị trường này Đến thế kỷ XV –
Trang 16XVI, khi người Việt vào định cư với số đông, các cảng này đã trở thành những cảng Việt hưng thịnh
Về độ trù mật của cảng thị, C Borri đã viết: “về hải cảng thì thật lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn trăm dặm một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều thuận lợi để cập bến và lên đất liền” [2, tr.91] Trong hệ thống bến cảng đó, thương cảng Hội An trở thành cửa ngõ thông thương quan trọng nhất Đàng Trong Đây là một cảng sông ở cửa biển vốn đã phồn thịnh từ thời đại Champa Khi chuyển sang cảng Việt, Hội An đã có những cơ hội phát triển mới và đã đạt đến sự phồn thịnh vào các thế kỷ XVI – XVII Nếu nhìn vào bản
đồ thương mại trong khoảng thời gian đó thì Đàng Trong với cảng thị Hội An gần như nằm ở trung tâm của khu vực thương mại thế giới Điều đó cũng khẳng định rằng, thương cảng Hội
An nằm ở vị trí chiến lược, là đầu mối quan trọng trong mạng lưới giao thương khu vực và thế giới Theo quan điểm của Keith W Taylor thì đây là “ một nơi đô hội được nhắc đến chỉ
có thể ám chỉ địa điểm tập trung người Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha và những người thương nhân khác, nơi được người Châu Âu biết đến với cái tên Faifo và được người Việt Nam hiện nay gọi là Hội An, nằm không xa về phía Nam của thành phố Đà Nẵng hiện đại Cảng buôn này được đặt một cách thích hợp trên tuyến đường giữa Malacca và Macao, người Bồ Đào Nha đã thiết lập như những địa điểm trung gian quan trọng trên đường vào Trung Quốc và Nhật Bản trong nửa sau thế kỷ XVI” [21, tr 163]
Nhìn trên bản đồ Việt Nam, Hội An – Đà Nẵng là trung tâm nối liền các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên bởi hệ thống đường biển, đường sông, đường bộ thời bấy giờ Các tỉnh miền Trung đều hướng ra mặt biển, còn phía sau là Tây nguyên có cơ sở kinh tế, chỗ dựa vững chắc cho vùng duyên hải Đô thị Hội An vốn được thiên nhiên ưu đãi để trở thành một thương cảng lớn Nằm bên bờ sông Thu Bồn, Hội An là một cảng sông tiện lợi
Từ Hội An có thể ngược dòng Thu Bồn theo sông Vu Gia lên miền thượng du, theo sông Trường Giang vào đến Tam Kỳ Nhưng Hội An chỉ cách cửa biển Đại Chiêm chừng 5 km nên còn là một cảng biển Nhìn rộng hơn về mặt địa lý, Hội An nằm ở điểm mũi nhô ra biển nhiều nhất trên bờ biển hình vòng cung của nước ta nên đón nhiều thương thuyền dừng chân Hội An chỉ cách dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ thứ hai của Đàng Trong khoảng 8 km Vì vậy, Hội An là một vị trí lưu thông trao đổi buôn bán tốt, là cửa ngõ quan yếu của Quảng Nam nói riêng và Đàng Trong nói chung
Trang 17Nếu cả miền Trung là một ngôi nhà thì mặt tiền của nó mở ra biển và cửa chính là Hội An – Đà Nẵng Điều này tự nó đã nói lên yếu tố “thị” và vai trò của nó trong sự đi lên của các tỉnh miền Trung Vào thời chúa Nguyễn đã có nhiều điểm thương mại dọc theo ven biển miền Trung nhưng vị trí trung tâm vẫn là Hội An – Đà Nẵng Hội An là trung độ của cả nước, đồng thời có đường biển nối liền các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Vì thế thật dễ hiểu khi từ thế kỷ XVI – XVII thương nhân nước ngoài đến đây thường xuyên với
số lượng nhiều nhất như người Trung Quốc, người Nhật, người Hà Lan…
Tất cả tình hình thế giới và khu vực trên đều tác động đến nền ngoại thương Việt Nam nói chung và đời sống của thương cảng Hội An nói riêng Với vị trí gần bên con đường hàng hải quốc tế sôi động đương thời, với những bến cảng tốt và với sự trù phú của xứ Quảng, Hội An đã nhanh chóng gia nhập vào các hoạt động mậu dịch quốc tế trong khu vực
1.1.2 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm thủy văn vùng cửa biển
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, Hội An mang tính chất một thành phố sông với đặc điểm vừa hội nhân vừa hội thủy, vừa cận thị lại vừa cận giang [45, tr 51 – 61]
Dưới sự tác động tự nhiên của sông, biển và một phần của con người, từ đầu Công nguyên đến nay đã làm cho vùng cửa sông Thu Bồn phát triển nhanh chóng theo phương thức delta lấp đầy, hình thành các cồn cát với đồng lầy
Vào khoảng đầu Công nguyên, lúc biển tiến đạt tới mức cực đại thì vùng cửa sông Thu Bồn là một vụng biển, cửa sông loe như hình phễu Dấu vết rõ rệt của vụng biển cổ đó là vùng đầm lầy Trà Quế (Cẩm Châu) Sau đó, biển rút dần và các địa hình có nguồn gốc khác nhau được tạo thành Những địa hình cao con người có thể sinh sống được lúc bấy giờ là ven
bờ vụng biển, là các thềm tích tụ biển rải rác và thành một dải dọc theo chân bờ xói lở Thềm tích tụ biển tương đối cổ và cao là doi cát từ Hội An đến Cồn Tàu Hai bên bờ bắc và nam cửa Thu Bồn, hai dải tích tụ cát nhô lên khỏi mặt nước, biến vùng nước phía trong thành các đầm phá
Thế kỷ XVII, cửa sông Thu Bồn đổ ra biển qua hai cửa: Đại Chiêm hải khẩu (cửa Đại)
và Tiểu Chiêm hải khẩu (cửa Tiểu) và tàu thuyền từ phía Nam lên có thể cập bến Hội An bằng cửa Đại Bên cạnh đó, còn một hải trình nối liền cửa Đại Hội An với cửa Hàn Đà Nẵng
Trang 18(Turon hay Touron) Dấu tích còn lại hiện nay là dòng sông Cổ Cò đang bị bồi lấp và chỉ còn lại từng đoạn nhỏ hay những ao đầm
Vào thế kỷ XVII, đường thủy này còn khá lớn và rất tiện cho việc tàu thuyền từ phía Bắc qua cửa Hàn – Đà Nẵng vào Hội An Chính giáo sĩ C Borri sống ở Đàng Trong từ năm
1618 đến 1622, đã xác nhận có hai cửa ngõ vào Hội An từ cửa biển Pulluciampello (Cù Lao Chàm) tức cửa Đại và từ Touron tức cửa Hàn [2, tr.91] Đến cuối thế kỷ XVIII, cửa Khâu bị lấp, ép dòng nước chảy tập trung vào cửa phía Nam khiến cho bờ Nam Cửa Đại liên tục bị phá hủy, các tuyến đường sông luôn thay đổi, bị lấp dần Khoảng thế kỷ XIX sự bồi đắp đó gây khó khăn cho tàu thuyền đi lại hoặc neo đỗ trên sông, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của Hội An không thuận lợi như trước nữa.[56, tr.87]
Cũng vì nằm ở vị trí ven sông, giáp biển như vậy nên Hội An không khỏi bị tác động mạnh từ hai mùa gió trong năm Tiếp theo đó, sự thay đổi dòng chảy, lượng mưa, mức sóng và dao động mực nước biển cũng trở thành những tác nhân tạo nên tính đa dạng, khắc nghiệt ở một vùng khí hậu
Tại Hội An, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa lũ, gió bão, rét từ tháng 9 đến tháng 1 Mùa khô mát từ tháng 2 đến tháng 8 Gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Gió có hướng Bắc, Đông Bắc là chủ yếu Tốc độ gió cao hơn các vùng khác, đạt cực đại tới 15 – 25 m/s Mùa hè chuyển hướng Đông và Đông Nam, thường dẫn đến bão và áp thấp nhiệt đới Vào cuối tháng 10 tức cuối mùa hè mức gió nhiều khi lên tới tốc độ 40m/s [56, tr.87 – 97]
Cửa Hội An gần như nằm giữa tiếp điểm trên đường cong lồi của khúc miền Trung, nơi giao thoa hứng gió hai mùa: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc mua bán tại thương cảng Hội An, hình thành mùa mậu dịch hay còn gọi là Hội chợ Mùa khô là mùa thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động thương nghiệp ngoài trời Mùa khô ráo cũng là mùa biển lặng cho tàu thuyền đi biển và cập bến
Một yếu tố nữa cũng tác động không nhỏ tới hoạt động và diện mạo đô thị thương cảng vì vùng thượng nguồn sông Thu Bồn nằm lọt vào một trong những trung tâm mưa lớn ở nước ta Tâm mưa được xác định tại khu vực Trà Mi, nên lượng nước sông Thu Bồn rất lớn
và lớn nhất ở miền Trung Việt Nam Hàng năm, sông Thu Bồn đổ ra biển gần 80 km3 nước Lượng nước trên tập trung tới 80 – 90 % vào các tháng 9 – 12 Do cửa sông Thu Bồn hẹp,
Trang 19lượng nước lớn lại dồn dập vào một thời gian ngắn nên vùng Hội An thường hay lũ lụt [6, tr
90 – 91] Ảnh hưởng của điều kiện địa lý và khí hậu địa phương, cộng với hoạt động kinh tế trở thành đòi hỏi tất yếu kiến trúc dựng trên địa dư Hội An phải có một tầng gác xếp phía trên
Hơn nữa, Hội An nằm lọt giữa vùng đồng bằng duyên hải phủ đầy cồn cát phía nam Đà Nẵng Sau những cồn cát này tồn tại đầm hồ và đài nguyên, vết tích của vụng biển
cũ Sông thường chảy song song với đường bờ biển, hợp thành mạng lưới giao thông nội địa quan trọng Sử dụng hệ thống sông ngòi tự nhiên đó, người ta có thể đi thuyền từ Đà Nẵng đến Quảng Nam theo các sông Vĩnh Điện, sông Hội An, sông Thu Bồn rồi sông Trường Giang
Bờ biển Hội An là một bờ biển hội tụ Những gioi cát chắn ngoài cửa biển tạo nên vũng vịnh Vùng cửa sông có mực nước sâu lại được dãy Cù lao Chàm chắn sóng nên rất an toàn cho việc đỗ tàu thuyền Cảng ăn sâu vào đất liền cách cửa Đại Chiêm 5km, đủ sâu và rộng cho nhiều thuyền cùng cập bến Địa hình đó vô hình chung tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền quốc tế neo đậu
Lùi xa vào đất liền, cách Hội An không đầy 10km, xuất hiện dãy núi Ngũ Hành Sơn – những ngọn núi đá vôi cuối cùng của dãy Trường Sơn Một dải đất cao 200 – 600m, vốn gốc phù sa cổ, bên trên cây mọc thành vùng cây gỗ và cây ăn quả
Thêm vào đó, một hệ thống đất đai bao quanh thị xã cùng với mạng lưới sông tương đối phát triển đảm bảo cho việc trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp cũng như sự phong phú hải sản, tôm cá của thềm lục địa đã giúp cho Hội An nhanh chóng trở thành thương cảng có vị trí quan trọng trong con đường thương mại khu vực và trên thế giới
Như vậy, nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, cửa ngõ của vùng đất Quảng Nam trù phú
và cư dân đông đúc, Hội An đã tích hợp đủ những điều kiện thuận lợi nhất để có thể phát triển thành một thị cảng sông – biển Và dưới tác động của những điều kiện kinh tế mới nên chỉ trong một thời gian tương đối ngắn từ một cảng Chăm đã tàn lụi, đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, Hội An đã phục hưng và nhanh chóng trở thành một thương cảng quốc tế quan trọng nhất ở Đàng Trong
Trang 201.1.3 Ngu ồn sản vật địa phương
Vào đầu thế kỷ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, C Borri đã nhất trí đánh giá tài nguyên của Đàng Trong với các thương gia châu Âu như sau: “Các thương gia người Âu đã đến buôn bán ở đây nói rằng: các nguồn tài nguyên giàu có của xứ Đàng Trong
còn lớn hơn của chính Trung Hoa như chúng ta biết về mọi thứ”.[ 2, tr.36] Theo Lê Quý Đôn thì Quảng Nam là nơi có nhiều sản vật, ruộng đất màu mỡ Bên cạnh đó, nhân dân Quảng Nam và các tỉnh miền Trung còn phát triển các ngành nghề để khai thác của cải, tạo nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng như nghề làm giấy, đúc đồng, dệt tơ lụa, khai thác sắt, vàng, trầm hương, chạm trổ, khảm xà cừ…
Hội An là cảng ngoại thương nên xuất khẩu là chính Do đó, Hội
An còn là nơi tập trung nguồn thổ sản rất dồi dào, sung dật của Quảng Nam dinh Một thương khách người Quảng Đông, thuộc họ Trần từ Trung Quốc qua đã nói rằng: “ thuyền từ Sơn Nam về chỉ mua được một món là củ nâu, thuyền ở Thuận
H ó a v ề c h ỉ m u a đ ư ợ c m ộ t m ó n l à h ạ t t i ê u , c ò n t h u y ề n t ừ Quảng Nam về thì trăm hóa vật không món gì là không có Các phiên bang không nước nào sánh kịp Các hóa vật sản xuất ở phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn….do đường thủy bộ, đi thuyền, đi ngựa, đều tập hợp ở phố Hội An, cho nên rất đông thương khách phương Bắc tới đó để mua, đem về nước Đường.Trước đây, hóa vật nhiều lắm, dẫu có trăm chiếc thuyền lớn chở đi một lúc cũng không hết được Hỏi tên các hóa vật và giá mua bình thường thì y nói: Ở Quảng Nam tục gọi 100 cân là 1 tạ, cau giá 3 quan 1 tạ, hạt tiêu 20 quan, đậu khấu 5 quan, tô mộc 6 quan, sa nhân 12 quan, thảo quả 10 quan, ô mộc (gỗ mun) 6 tiền, hoa lê mộc (gỗ trắc) 1quan 2 tiền, tê giác 500 quan, yến sào 200 quan, gân hươu 15 quan, vây cá 14 quan, tôm khô 6 quan, rong biển 6 quan, ốc hương 12 quan, đồi mồi 180 quan, ngà voi 40 quan, đường phèn 4 quan, đường trắng 2 quan, còn các thứ hoạt thạch sắt, phấn kẽm, hải sâm và mấy trăm vị thuốc Nam không thể kể xiết; còn kỳ nam lượng một cân giá 120 quan, vàng 1 hốt giá 180 quan, nhục quế, trầm hương, trân châu rất tốt thì giá lên
x u ố n g n h i ề u í t k h ô n g n h ấ t đ ị n h … " [ 2 3 , t r 2 3 4 – 2 3 5 ]
Trang 21Điều đó cho thấy sự dồi dào của nguồn sản vật địa phương cũng như sự phong phú của các luồng hàng tập trung ở Hội An như hàng thủ công, nguyên liệu, lâm thổ sản và không ít những mặt hàng nông phẩm
Tơ sống và các hàng dệt tơ với nhiều chủng loại là quan trọng bậc nhất, đứng hàng đầu danh mục xuất khẩu Cả vùng Thăng, Điện bắc xứ Quảng vào tới Quảng Ngãi, Quy Nhơn, ven các dòng sông hầu như làng nào cũng trồng dâu nuôi tằm Ghi chép của P Poivre cho biết: “tơ lụa ở Đàng Trong so với Trung Quốc thì hơn hẳn về phẩm chất và tinh tế Tơ đẹp nhất là của Quảng Ngãi, người Trung Quốc mua rất nhiều và kiếm lãi từ 10 – 15%” [38,
tr 236.]
Một nông phẩm quan trọng xuất khẩu từ Hội An là đường Thương nhân P Poivre trong chuyến đi Đàng Trong 1774 cho biết ở Đàng Trong có khoảng 20.000 tạ đến 60.000 tạ, cần 80 thuyền chở mới hết Việc dùng đường và bán đường phát triển mạnh đã khiến cho nghề trồng mía và nấu đường phát triển theo
Yến sào cũng là mặt hàng đặc sản, độc đáo của Đàng Trong Yến sào từ Cù lao Chàm đến các đảo Thuận Hải là hàng thực phẩm cao cấp nộp cho chính quyền và xuất khẩu Các thương nhân Hoa, Nhật, phương Tây rất ưa thích mặt hàng này Bên cạnh đó, kỳ nam, trầm hương, quế là những mặt hàng nông lâm sản quý, vốn là sản phẩm tự nhiên của rừng núi Việc khai thác trầm hương, kỳ nam, sừng tê, ngà voi đã lôi cuốn một bộ phận kinh tế miền núi vào guồng thương mại
Vàng là sản phẩm xuất khẩu lớn của Đàng Trong qua Hội An Các thương nhân phương tây đều ca ngợi vàng của Đàng Trong Ngoài ra mặt hàng xuất khẩu của Hội An còn
có cau khô, hồ tiêu, các loại gỗ và một số hàng gốm, hàng mộc
Chính sự giàu có về tài nguyên và ngành nghề phát triển đã làm cho miền Thuận Quảng nói chung, Hội An nói riêng trở thành vùng đất hấp dẫn đối với các thương gia nước ngoài Hội An đã thực sự trở thành kho hàng, cung cấp nguồn hàng vô tận cho các thị trường trong và ngoài nước
Trang 221.2 Điều kiện xã hội
1.2.1 L ịch sử hình thành thương cảng Hội An
Trước thế kỷ XVI, đất Quảng nói chung, Hội An nói riêng là vùng đất có lịch sử lâu đời Người Chàm kế tiếp cư dân văn hóa Sa Huỳnh, rồi đến người Việt Sự cộng cư giữa hai dân tộc Chàm, Việt đã đóng vai trò quyết định trong quá trình mở mang phát triển kinh tế vùng
Trước khi Hội An ra đời, vùng cửa sông Thu Bồn đã trải qua thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh và Champa mà nhiều nhà khoa học quen gọi là thời kỳ tiền Hội An Hội An có một
hệ tầng văn hóa xếp thứ tự theo trật tự thời gian – không gian sau:
Tầng Sa Huỳnh từ vài ba thế kỷ trước Công nguyên cho đến đầu Công nguyên ở vùng Cồn Bàu ven sông trong và ven đường Bờ biển cổ Từ vùng Ngũ Hành Sơn đến Hòa Quý hiện tại, nghĩa là ven sông Cổ Cò – Để Võng và các phụ lưu hiện tại
Tầng Champa từ một hai thế kỷ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ XV Nối các di tích Champa đã được phát hiện đến nay từ Rọc Gốm An Bang – Lùm Bà Yàng thuộc Thanh Chiêm xã Cẩm Hà vùng non nước Ngũ Hành Sơn – và có thể cả Trung Phường hai bên cửa Đại, kể cả một số giếng Chăm cổ ở Cẩm Phô, Sơn Phô, Cù Lao Chàm và Trung Phường Có thể đi đến kết luận đã khá vững chắc rằng: Hội An cổ vốn đã là một cảng – thị phồn vinh từ thời đại Champa Đấy có thể là Lâm Ấp Phố được ghi lại trong Thủy Kinh Chú thế kỷ VI mà
Cù lao Chàm (Chiêm Bất Lao) là bức bình phong ngoài cửa biển và Bến Cồn Chăm (Bàn Thạch) là cảng cuối từ cửa biển vào, trước khi ngược sông Bà Rén để lên kinh đô Trà Kiệu Simhapura [45, tr.58]
Khảo cổ học đã phát hiện và khai quật nhiều di tích văn hóa Sa Huỳnh muộn (khoảng một vài thế kỷ TCN đến thế kỷ I SCN) trên các cồn cát bên tả ngạn sông Thu Bồn thuộc xã Cẩm Hà như An Bang, Hậu Xá, Thanh Chiêm Rõ ràng cư dân Sa Huỳnh đã cư trú trên một
số cồn cát, doi đất cao hạ lưu sông Thu Bồn Văn hóa Champa cũng để lại dấu tích ở xã Cẩm
Hà, Cẩm Thanh qua những di vật gốm sứ Trung Quốc có niên đại thế kỷ IX (Hậu Xá I – II, Cẩm Hà), XII – XIII (Bàu Đá, Cẩm Thanh), XIV (Tràng Sỏi, Cẩm Hà) Đặc biệt, kết quả thám sát và khai quật địa điểm Bãi Làng trên Cù lao Chàm đã tìm thấy gốm Chăm thô, gốm Trung Quốc thế kỷ IX – X, gốm Islam thế kỷ IX, thủy tinh nguyên liệu có nguồn gốc từ Funstat (Ai Cập), một số đồ thủy tinh gia dụng sản xuất từ Ai Cập, Iran khoảng thế kỷ IX
Trang 23Những di tích và di vật trên chứng tỏ khi kinh đô Trà Kiệu và thánh địa Mỹ Sơn của Champa xây dựng trên thượng lưu sông Thu Bồn thì vùng cửa sông và Cù lao Chàm hẳn có một vị trí trọng yếu trong sự phòng vệ đất nước và là cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài Trên mặt đất, vùng quanh Hội An cũng còn để lại một số dấu tích và di vật có nguồn gốc Chăm như di tích kiến trúc ở Lùm Bà Yàng (Thanh Chiêm – Cẩm Hà), tượng thờ ở lăng
Bà Lồi, giếng Chăm rải rác nhiều nơi nhất là ở Trung Phường Những chứng tích này cho phép đi đến một nhận xét khái quát: người Chăm đã từng là chủ nhân khá sớm trên mảnh đất Hội An Hội An một mặt kế thừa những thành quả khai phá của Chiêm cảng xưa, mặt khác được trực tiếp chuẩn bị từ thế kỷ XV khi người Việt vào tụ cư ở đây
Bối cảnh lịch sử ra đời của thương cảng Hội An, xét trong tình hình trong nước và thế giới lúc bấy giờ có những đặc điểm riêng của nó
Trong nước, năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa Rồi năm 1570 kiêm trấn thủ Quảng Nam Vị chúa Nguyễn đầu tiên này đã thi hành nhiều biện pháp tích cực nhằm khai phá đất hoang, mở mang xóm làng, phát triển công thương nghiệp Chúa Sãi ( Nguyễn Phúc Nguyên) kế nghiệp từ năm 1613, càng phải đẩy mạnh các chính sách phát triển kinh tế - xã hội để chuẩn bị đối phó các cuộc chiến tranh với họ Trịnh Cuối thế kỷ XVI – XVII, nền kinh tế Thuận Quảng có những bước phát triển mạnh mẽ Chính sự phát triển kinh
tế đó, trực tiếp là sự phát triển kinh tế hàng hóa cùng với chính sách mở cửa của chúa Nguyễn là cơ sở và tác nhân bên trong rất quan trọng, dẫn đến sự xuất hiện của một loạt đô thị và thương cảng, trong đó có Hội An
Hơn nữa, thế kỷ XVI – XVII cũng là thời kỳ mà Đông Nam Á và phương Đông nói chung chứng kiến nhiều chuyển biến quan trọng
Sau các phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, các nước phát triển phương Tây bắt đầu tràn sang phương Đông và các hoạt động mậu dịch ngày càng sôi nổi, lần lượt lôi cuốn các nước phương Đông vào thị trường khu vực và thị trường thế giới đang hình thành Thuyền buôn các nước Bồ Đào Nha rồi Hà Lan, Anh, Pháp tiến đến Hội An và các thương cảng khác của Việt Nam
Tất cả tình hình thế giới và khu vực trên đều tác động đến nền ngoại thương Việt Nam nói chung và đời sống của thương cảng Hội An nói riêng Đô thị thương cảng Hội An đã hình thành đồng thời với sự phát triển của kinh tế ngoại thương Đàng Trong vào cuối thế kỷ
Trang 24XVI, đầu thế kỷ XVII Hội An với vị trí gần bên con đường hàng hải quốc tế sôi động đương thời với những bến cảng tốt và với sự trù phú của xứ Quảng đã nhanh chóng gia nhập vào các hoạt động mậu dịch quốc tế trong khu vực
Như vậy, qua các tầng văn hóa Sa Huỳnh – Chăm – Việt vừa tiếp nối vừa giao thoa trong lịch sử, cuối cùng xu thế Việt ngày càng chi phối, nền tảng Việt ngày càng bền vững Trên cơ sở đó, khi trở thành thương cảng Hội An, vùng đất này đã mở rộng cửa đón nhận những thành tố văn hóa ngoại nhập của Nhật, Hoa và một số nước Đông Nam Á cũng như các nước phương Tây khác Vì thế cũng có thể nói rằng, Hội An không những là một thương cảng, một cửa ngõ mậu dịch đối ngoại mà còn là một trung tâm giao tiếp văn hóa Hai mặt văn hóa và kinh tế đó có quan hệ mật thiết với nhau và tạo nên sắc thái rất riêng của Hội An
1.2.2 Đặc điểm cư dân và sinh hoạt kinh tế
Về mặt văn hóa – lịch sử, Hội An là tâm điểm, nơi giao thoa giữa Bắc – Nam, Đông – Tây nên được nhiều lớp cư dân sớm muộn khác nhau chọn làm địa bàn cư trú Cư dân văn hóa Sa Huỳnh, sau đó cư dân Chàm, rồi thế kỷ XIV dân Đại Việt tiếp cư và sự cộng cư của những lớp người khác nhau từ nguồn cội, nhân chủng, đặc điểm truyền thống văn hóa như người Việt, người Nhật, người Hoa trên mảnh đất này
Kể từ năm 1307, Hội An thuộc về đất Hóa Châu của Đại Việt, nhưng những cuộc chiến tranh giữa Chăm và Đại Việt diễn ra liên tiếp Việc chinh phục Hội An phải đến năm
1403 mới thực hiện được Sự kiện đó được đánh dấu bằng việc nhà Hồ mở thêm đất Thăng Hoa – Tư Nghĩa và Hồ Hán Thương đưa dân đến chiếm cứ lập nghiệp tại vùng này Dần dà trên đất Hội An xuất hiện một số làng mang tên Cẩm Phô, Hoài Phố, Thanh Hà…của người Việt
Qúa trình cộng cư thông qua hoạt động kinh tế nông nghiệp, đặc biệt qua trao đổi thương nghiệp đã tạo ra những mối giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân ở đây với nhau, giữa họ với các vùng khác của Việt Nam, đồng thời giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á
Nông nghiệp thường được coi là gốc, rễ hoặc là nền móng của các xã hội cổ truyền Việt Nam Nhưng tại Đàng Trong, trong hai thế kỷ XVII, XVIII, họ Nguyễn đã lấy số tàu, thuyền tới Đàng Trong buôn bán làm tiêu chuẩn đánh giá mức thịnh vượng của vương quốc
Trang 25mình Bên cạnh đó, một đặc điểm rất khác của nền kinh tế Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn là phần lớn các mặt hàng được đem ra trao đổi lại không phải là sản phẩm của nông thôn người Việt tại đồng bằng mà là những sản phẩm của miền núi Vào thời kỳ đầu của lịch
sử Đàng Trong, người Việt không chiếm đa số và chỉ là một trong số dân tộc chính, định cư trên một vùng đất trước đây có người khác sinh sống
Trước khi người Việt từ đồng bằng sông Hồng tới thì giữa người đồng bằng và cao nguyên ở đây đã có mối quan hệ buôn bán từ lâu đời Tuy nhiên, khi người Việt gia tăng và tàu vụ phát triển thì việc buôn bán giữa người đồng bằng với người vùng cao nguyên ngày càng tiến triển Các trung tâm buôn bán mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu trao đổi mỗi ngày một trở nên thường xuyên hơn Mối quan hệ giữa người Việt với người Thượng, người Lào
và người Khmer được thiết lập Con đường thương mại quan trọng nhất ở Đàng Trong vào buổi đầu chạy qua đèo Ai Lao, từ sông Mêkông đến bờ biển gần Quảng Trị, tập trung ở thị trấn Cam Lộ
Theo C Borri thì “Xứ Đàng Trong có rất nhiều thứ thuận lợi cho sinh hoạt con người
Vì thế mà dân xứ này không ưa và không có khuynh hướng đi đến các nơi khác để buôn bán cũng như không bao giờ ra khơi xa quá độ không còn trông thấy bờ biển và lãnh thổ của tổ quốc yêu quý của họ” [2, tr.88] Tuy nhiên, theo Hai Fang Yao vào thời kỳ này, người dân Đàng Trong cũng tham gia vào việc buôn bán với nước ngoài Năm 1611, có 73 người định buôn bán với Trung Hoa đã bị quân đội bắt giữ tại vùng biển gần Quảng Châu, sau này có thêm 25 người nữa Tất cả đều khai họ là người huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa của An Nam [Dẫn theo 24, tr 105 – 106]
Đây là tài liệu duy nhất chúng ta có thể biết được người dân thường Việt Nam đôi khi cũng tham gia vào việc buôn bán vượt biển khơi này, cho dù chỉ là nhất thời
Qua đó, chúng ta cũng có thể hình dung được phần nào đặc tính sinh hoạt kinh tế của
cư dân Hội An nói riêng và vùng Thuận Quảng nói chung Với nguồn sản vật địa phương phong phú, cùng với sự thuận lợi về địa thế cảng biển đã khiến cho Hội An trở thành nơi tập trung, kho hàng lớn nhất Đàng Trong J Buttinger cũng thừa nhận: “kể từ năm 1540, Hội An
đã là hải cảng chính trong xứ để hàng hóa ngoại quốc du nhập vào Cochichine” [Dẫn theo
13, tr.53]
Trang 26Có một thực tế rằng, kinh tế thương nghiệp là hoạt động chi phối toàn bộ nền kinh tế ở thương trường Hội An, song trên địa bàn cư trú Hội An và vùng phụ cận vẫn có cư dân hoạt động nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp, vận chuyển hoặc khai thác, chế biến hải sản như Đế Võng, Diêm Hộ, Võng Nhi…nhằm phục vụ cho thương trường Hội An
Nói tóm lại, cùng với nguồn sản vật phong phú, dưới tác động mạnh mẽ của nền kinh
tế hàng hóa mà đời sống sinh hoạt kinh tế của cư dân Hội An đã ngày càng khởi sắc Nhờ có những nguồn lợi lớn từ ngoại thương mà nhiều bộ phận trong xã hội trở nên có cuộc sống sung túc Họ cũng quen sử dụng những phẩm vật cao cấp, ngoại nhập Theo như Lê Quý Đôn thì “quan viên lớn nhỏ không ai là không nhà cửa chạm gót, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn, gỗ trắc, chén mâm đồ sứ, đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, phú quý phong lưu, đua nhau khoe đẹp Những sắc mục ở dân gian cũng mặc áo đoạn hoa bát ty và áo sa, lương, địa làm đồ mặc
ra vẻ thường, lấy áo vải mộc làm hổ thẹn Binh sỹ đều ngồi chiếu mây, dựa quả tựa hoa, ôm
lò hương cổ, ham chè hảo hạng, uống chén sứ bịt bạc và nhổ ống nhổ thau, đĩa bát ăn uống thì không cái gì không phải hàng Bắc Một bữa cơm ba bát lớn Đàn bà con gái thì mặc áo the và hàng hoa, thêu hoa ở cổ tròn Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực.” [23, tr 335]
Qua những lời miêu tả hết sức cặn kẽ này có thể thấy nhờ có hoạt động ngoại thương buôn bán mà đời sống kinh tế của cư dân Hội An đã trở nên sung túc và chính đặc điểm này
đã giúp cho quá trình cộng cư giữa các nhóm cư dân khác nhau diễn ra thuận lợi, êm thắm Bên cạnh những xóm làng của người Việt đã hình thành những phố Khách của người Hoa hay người Nhật và vô hình chung mối liên hệ đó đã tạo ra một mảng màu đẹp cả trong đời sống văn hóa cũng như sinh hoạt kinh tế của cư dân Hội An nói chung
1.2.3.Chính sách c ủa chính quyền Đàng Trong
Năm 1558, vì nhiều nguyên nhân, Nguyễn Hoàng, con trai thứ của Nguyễn Kim đã được sự chấp thuận của Trịnh Kiểm vào trấn thủ khu vực Thuận Hóa Sự ra đi đó của Nguyễn Hoàng trên thực tế đã mở ra một thế cục chính trị mới cho vùng đất này Sau khi làm chủ được vùng Thuận Quảng từ năm 1570, Nguyễn Hoàng và những người thân tín của ông đã tìm nhiều cách để chiêu dụ hiền tài, khuyến khích dân di cư, tích cực khai phá những
Trang 27vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ của mình xuống phía nam, đồng thời thi hành chính sách đối ngoại tích cực
Trong một thế cuộc chính trị hết sức phức tạp, Nguyễn Hoàng đã đi đến một sự lựa chọn táo bạo mà chính ông cũng chưa có nhiều kinh nghiệm là đặt cược thể chế của mình vào sự hưng vong của kinh tế ngoại thương [32, tr.22] Là một người có tư tưởng khoan dung, giỏi thủy chiến, có tầm nhìn và tư duy chính trị nhạy bén, để thu phục nhân tâm trên vùng đất mới và tạo nên những kháng lực cần thiết chống lại thế lực Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, chính quyền nhà Nguyễn đã thực thi một chính sách mở cửa, tiếp nhận những di sản truyền thống mà tiêu biểu là bản tính hướng biển của cư dân Champa.[46, tr.12]
Trong bối cảnh quốc tế thời đại bấy giờ, Đàng Trong cũng chủ động, tích cực hướng đến những thị trường và đối tác kinh tế lớn của khu vực và thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh…Nhờ đó, sức mạnh kinh tế của Đàng Trong đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và về bản chất những chính sách đối ngoại mà Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn theo đuổi luôn cởi mở, rộng rãi hơn so với Đàng Ngoài
Trong quá trình kiến lập trên vùng đất mới, khác hẳn với chính quyền Lê – Trịnh ở phía Bắc về cơ bản vẫn theo đuổi chính sách trọng nông, Nguyễn Hoàng đã sớm xác định rằng thể chế Đàng Trong không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào kinh tế nông nghiệp Với ông, nhiệm vụ tiên quyết là phải xây dựng bằng được một chính thể độc lập với chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài Chính thể đó phải dựa trên căn bản kinh tế thương nghiệp.[29, tr.65] Tuy nhiên, để củng cố vị thế của mình ở Đàng Trong, mở rộng lãnh thổ vào phía Nam, các chúa Nguyễn đã đồng thời thực thi nhiều chính sách tích cực về nông nghiệp
Các chúa Nguyễn đã khuyến khích nhân dân làm ăn theo ba hướng:
Thứ nhất là phát triển các loại ngành nghề như rèn, đúc, chạm trổ, điêu khắc, trồng dâu, dệt vải lụa, đan lát, nghề cá, khai thác gỗ và lâm sản, khai thác quặng sắt và đãi vàng…Nhân dân được tự do hành nghề, miễn giảm thuế má, lao dịch.[23, tr.341]
Thứ hai là tập trung vào ngành trồng trọt để tạo ra lương thực Đây là vấn đề cốt tử của Nhà nước lúc bấy giờ Vì vậy phải giao ruộng đất cho dân [23, tr 125 – 126]
Trang 28Thứ ba là mở rộng và giao lưu khuyến khích hàng hóa trong từng vùng và giữa các vùng với nhau Nhờ chính sách lưu thông tự do mà sản phẩm làm ra ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi…đường thủy, đường bộ đều hội tập ở Hội An để bán cho tàu buôn nước ngoài Để khuyến khích giao lưu hàng hóa, Nhà nước cho mở mang đường sá, quy định đơn vị đo lường thống nhất, trừ sự oán ghét, nghiêm cấm các thổ hào quấy rối người đi buôn.[23, tr.126]
Bên cạnh đó, phát triển ngoại thương là một sự đổi mới trong chính sách kinh tế của các chúa Nguyễn Coi ngoại thương là một trong những cơ sở quan trọng phục vụ cho Đàng Trong và ngược lại, chúa Nguyễn đã tận dụng tối đa những thuận lợi sẵn có để ngoại thương phát triển Điều này đã được C Borri khẳng định trong bản tường trình của mình viết về Đàng Trong năm 1623: “Phương châm của người Đàng Trong là không bao giờ sợ một nước nào trên thế giới Thật là hoàn toàn trái ngược với vua Trung Hoa, ông này sợ tất cả, đóng cửa không cho người ngoại quốc vào và không cho buôn bán với nước ông.”[2, tr.93]
Chúa muốn tận dụng những thuận lợi về mặt tự nhiên của Đàng Trong để kêu gọi, mời chào các nước bạn bằng các bức thư mời đến Đàng Trong buôn bán, trong đó đặc biệt là các bức thư gửi cho Nhật Bản
Bên cạnh đó, Chúa Nguyễn còn tạo mọi điều kiện cho khách buôn đến Đàng Trong và khi đã lôi cuốn một lượng khách buôn nước ngoài đến Đàng Trong, chúa Nguyễn còn tạo mọi điều kiện buôn bán thuận lợi nhằm giữ chân họ Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha,
Hà Lan là những khách hàng lớn của Đàng Trong thời kỳ này nên họ đã được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về mọi mặt
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho lập một khu phố dành riêng cho người Nhật và người Hoa tại Hội An Xây dựng phố Nhật, phố Hoa với nhiều chính sách ưu đãi đã biến Hội
An thành thành phố sinh lời cho Đàng Trong, tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn những nước khác đến xứ này
Như vậy, khác với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn không tìm cách tách thương nhân nước ngoài ra khỏi người Việt, biệt lập họ với kinh đô như vua Lê, chúa Trịnh thực hiện ở bến Vân Đồn và Phố Hiến nhằm tạo nên một sự hòa hợp, năng động cho nền kinh tế
Để lôi cuốn thương nhân ngoại quốc đến buôn bán, mặc dù thực hiện một số biện pháp hạn chế tôn giáo nhưng trong những thời điểm nhất định chúa Nguyễn vẫn cho người nước
Trang 29ngoài được thực hiện quyền tự do về tôn giáo Nhờ đó mà các giáo sĩ và các thương nhân theo Công giáo vẫn có thể thường xuyên đến buôn bán và hành lễ Điều đáng chú ý là, chủ trương đó của chính quyền Thuận Hóa được thực hiện trong bối cảnh ở Nhật Bản, Cơ Đốc giáo ngày càng bị kiểm soát, cấm đoán chặt chẽ và chính quyền Đàng Ngoài cũng hết sức cảnh giác với dị giáo này Và như một hệ quả tất yếu, Hội An đã trở thành điểm đến của các giáo sĩ từ Nhật Bản, Ma Cao, Malacca, Goa…Điều đó cho thấy, với sự khoan dung tôn giáo, rộng mở đón nhận của chính quyền Đàng Trong, rất nhiều người Nhật Bản và thương nhân ngoại quốc đã tìm đến Hội An để tiến hành công việc buôn bán và sinh hoạt tôn giáo
Không những thế, Chúa Nguyễn một mặt thực hiện chính sách ưu đãi ngoại thương phát triển, mặt khác dùng nhiều biện pháp cứng rắn để điều hành, quản lý tốt nền ngoại thương và để khẳng định vị trí của mình đối với quốc tế Các nước có quan hệ buôn bán với Đàng Trong phải có giấy phép thông thương do Chúa cấp Thuyền Nhật Bản đến phải là Châu ấn thuyền Chúa Nguyễn còn tổ chức tình báo đảm bảo trật tự cho Hội An
Chúa Nguyễn còn chủ động đặt quan hệ với các nước Đông Nam Á Lần đầu tiên người Việt Nam đã bước ra vùng cửa biển của mình để đến với các nước khác Thuyền của Đàng Trong lần đầu tiên đến Manila vào năm 1620 và cũng đến Batavia đều đặn trong thời gian này Năm 1632, Chúa Nguyễn còn cho một chiếc thuyền đi Xiêm mang theo số vốn là 10.000 nén bạc [Dẫn theo 14, tr.32]
Để mở rộng quan hệ buôn bán với các nước, chúa Nguyễn chủ trương mở hội chợ hàng năm ở Hội An, giới thiệu sản phẩm, thu hút thương nhân trong và ngoài nước tham gia
Đối với tàu buôn tùy từng loại mà có thể giảm thuế hoặc cho nợ tiền sau khi bán xong mới nộp Nếu tàu buôn đưa trả dân bị dạt, nhân đó mà đi buôn thì miễn cho thuế cảng Tàu nước ngoài có lễ tiến thì đến ngày về đều có lệ phát cho tiền, bạc, gạo, lụa để về nước Thuyền đi buôn bán ở các nước gặp gió dạt vào thì cho đậu ở cửa Hàn hoặc Cù Lao Chiêm Nếu tàu nào muốn buôn bán, xét hàng nhiều được miễn thuế một phần ba, ít hàng miễn thuế một nửa, không có hàng thì được miễn cả Còn tàu nào muốn trở về nước thì cấp phát tiền bạc, lương tháng mỗi người năm tiền mà về.[23, tr 234 – 235 ]
Trang 30Để xây dựng một thể chế mạnh, chính quyền Đàng Trong đã có những chính sách thân dân, cho công thương nghiệp và ngoại thương phát triển Mặt khác, dựa vào các nguồn lực ngoại thương, chúa Nguyễn đã tích cực xây dựng hệ thống quân sự mạnh
Vào thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã có quan hệ với nhiều quốc gia trong đó có những cường quốc lớn nhất về thương mại biển Hầu hết các cường quốc kinh tế lúc bấy giờ, cả ở châu Á và châu Âu đều đã thiết lập quan hệ trao đổi, buôn bán với Đàng Trong như Hà Lan, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc Các chúa Nguyễn tạo điều kiện cho thuyền buôn các nước tới Đàng Trong buôn bán và có những chính sách khác nhau đối với thương nhân mỗi quốc gia hay khu vực
Như vậy, chính sách mở cửa, chú trọng phát triển ngoại thương Đàng Trong của chúa Nguyễn đã đưa kinh tế Đàng Trong phát triển thịnh vượng Dùng kinh tế thương nghiệp để tạo nên sức mạnh đương đầu với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn đã nâng Đàng Trong trở thành một trong những trung tâm mậu dịch quan trọng của khu vực châu Á Hay nói cách khác, Đàng Trong đã ra đời đúng thời, đúng buổi, trong một thời đại thương nghiệp” [24, tr.85] Chính thương nghiệp đã làm cho Đàng Trong chỉ trong vòng ít thập niên trở nên giàu có và
đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với Đàng Ngoài và mở rộng thêm
về phía nam Không có thương mại, kinh tế Đàng Trong khó có thể phát triển Chính sách này đã đem đến những lợi ích thiết thực giúp cho Đàng Trong có điều kiện tập trung toàn bộ sức lực để đối phó với cuộc chiến tranh đến từ Đàng Ngoài, biến Đàng Trong trở thành một địa bản năng động, giàu có và đầy tiềm lực
Trang 31CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA THƯƠNG NHÂN VIỆT - NHẬT - HOA
2.1 Thương nhân người Việt
2.1 1 Tình hình thương nghiệp Đàng Trong thế kỷ XVI, XVII
Trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Quảng, nền sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở đây còn yếu ớt Sách Ô Châu cận lục chỉ ghi có ba cái chợ: chợ Đại Bổ ở huyện Lệ Thủy (Quảng Bình), chợ Thuận Giáp với hai huyện Vũ Xương và Hải Lăng (Quảng Trị), chợ Thế Lại ở huyện Kim Trả (Thừa Thiên Huế) [16, tr 60] Ở đất Quảng ngày nay không thấy ghi có cái chợ nào cả Việc lưu thông, vận chuyển sản vật, hàng hóa vào thế kỷ trước lại càng
ít ỏi Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại thời điểm năm 1485 như sau: “Trước, xứ Quảng Nam không có thuyền Hàng năm quân dân gánh thuế thường bị tổn thất Từ nay trở đi, đến khi nộp thuế, cho thừa ty Quảng Nam chuyển giao thuế vật cho 3 ty Thừa Hiến Thuận Hóa để sai người đi nộp lên”[27, tr.289]
Tại Quy Nhơn từ thế kỷ XV đã sản xuất tơ, đay, lụa, trúc vàng, yến đỏ.[30, tr.236] Ở Thuận Hóa vào đầu thế kỷ XVI có trầm hương, tộc hương, bạch mộc hương, hoàng tiết, nhựa thông, hồ tiêu, sáp ong, lông đuôi công, lông đuôi trĩ, da trâu, da hươu, da nai, nhung hươu, ngà voi, sừng tê, thổ cẩm trắng, vải gấm xanh, tơ hoa, vỏ gai.[16, tr 21 – 29]
Như vậy, trước lúc có chúa Nguyễn, Thuận Quảng không phải là xứ nghèo sản vật nhưng đó là xứ lưu thông và thị trường còn kém nên sản vật khó trở thành hàng hóa mà chủ yếu để đóng thuế và cống nạp
Vào đầu thế kỷ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, C Borri đã đánh giá tài nguyên của Đàng Trong (lúc đó mới đến Phú Yên) với các thương gia châu Âu như sau:
Trang 32“Các thương gia người Âu đã đến buôn bán ở đây nói rằng: các nguồn tài nguyên giàu có của
xứ Đàng Trong còn lớn hơn của chính Trung Hoa như chúng ta biết về mọi thứ” [2, tr.36]
Nguồn tài nguyên đó dưới mắt của các thương gia nước ngoài đã trở thành hàng hóa lưu thông trên thị trường nhiều nước và cũng chính C.Borri đã thừa nhận: “Người ngoại quốc
bị lôi cuốn bởi sự phồn thịnh của xứ này – và bị kích thích bởi sự giàu có và đã dày đặc, vô
số ở đây Họ đến đây không những từ Đàng Ngoài, từ Cam Bốt, từ Gineos và các miền lân cận khác mà còn từ xa hơn nữa như Trung Hoa, Ma Cao, Nhật Bản, Manila và Malacca Tất
cả những người này mang đến Đàng Trong bạc để đem về hàng hóa bản xứ mà họ không mua, chỉ đổi bằng bạc Bạc ở đây dùng như một món hàng, khi thì có giá, khi thì kém hơn tùy theo lúc có nhiều hay hiếm Cũng xảy ra như thế đối với lụa và các hàng hóa khác” [2,
tr 89]
Lê Quý Đôn cũng ngạc nhiên khi biết chỉ một đoạn đường ngắn từ Hội An đến Thanh
Hà mà thương nhân đưa hàng hóa vật bằng đồng ra bán đã lãi được gấp đôi.[23, tr 358] Đặc biệt là lúa gạo Gia Định chở ra Thuận Hóa là một món hàng thu được lãi to như Trùm Châm, người Bố Chánh (Bắc Quảng Bình) đã liên tục thu lợi qua những chuyến buôn theo chiều nam – bắc của đất nước.[23, tr.129]
Vào thời kỳ Hội An, Thanh Hà, Phố Hiến phồn thịnh thì ngay trên đất Thuận Hóa đã hình thành một thị trường nội địa, trao đổi hàng hóa giữa miền ngược và miền xuôi và hai miền nam bắc của đất nước qua con đường thượng đạo ở biên giới Việt – Lào Con đường
đó, vào năm 1622 được sử sách ghi lại như sau: “Sông Hiếu ở xã Cam Lộ (thuộc huyện Đăng Xương) giáp giới với đất Ai Lao, các bộ lạc Man, Lục Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp đều có đường thông đến đây, bèn sai đặt dinh, mộ dân, chia 6 thuyền quân coi giữ, gọi là dinh Ai Lao”.[9, tr 50]
Năm 1776, Lê Quý Đôn có đến chợ Cam Lộ và đã mô tả như sau: “Sông Hiếu ở xã Cam Lộ thuộc huyện Đăng Xưởng phía thượng lưu sông Điếu Giang, dưới thông với cửa Việt, trên giáp với nguồn Sái ở đất Ai Lao, đường đi dân Man các sách đều qua đấy…”…
“Người buôn các xã thường mang muối mắm, cá khô, đồ sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, các đồ lặt vặt đến đất người Man đổi hàng hóa: thóc, gạo, gà, trâu, gai, sáp, mây, gió, vải màn, thuê voi chở về Cam Lộ để bán ”[23, tr 234]
Trang 33Gia phả họ Huỳnh, họ Lê ở Tam Kỳ, họ Châu ở Hội An cho biết có quan hệ mua bán thường xuyên giữa Tam Kỳ - Hội An – Trà Mi – Tiên Phước Kể cả hai thị trấn xa xôi Kim Sơn và An Thái (Bình Định) ngày xưa từng ra vào buôn bán với Hội An.[35, tr.126]
Trong nội địa cũng có những chợ phiên nối các điểm vùng cao với đồng bằng và các thương cảng ven biển bằng những đàn voi hóa vận hàng trăm con mà chợ phiên Cam Lộ được sử sách nhắc đến như một đặc trưng về một loại thị trường biên giới hoạt động bên trong nội địa, luân chuyển hàng hóa giữa hai miền nam – bắc với các nước bên ngoài [12, tr 63]
Như vậy, chỉ trong vòng hơn nửa thế kỷ, kể từ lúc Nguyễn Hoàng vào, nền sản xuất hàng hóa và hoạt động thương nghiệp ở vùng Thuận Quảng đã phồn thịnh hẳn lên Điều đó tất yếu đòi hỏi phải ra đời nhiều hơn về phố xá, bến cảng, chợ búa để đáp ứng nhu cầu của thương khách và người sản xuất hàng hóa
Về thương mại, người Thuận Quảng chỉ mua bán thổ sản và sản phẩm tiểu công nghệ
ở các chợ, chợ phiên Buôn bán bằng ghe thuyền chỉ dọc theo bờ biển đi tỉnh này sang tỉnh
nọ, hoặc từ Bố Chính qua Thuận Hóa, Quảng Nam, Thị Nại, Gia Định, đến vịnh Tiêm La là cùng Để phục vụ lưu thông hàng hóa, đội thương thuyền Đàng Trong năm 1768 có 447 chiếc phân phối hàng trên các cảng từ Bố Chánh đến Gia Định [23, tr 264] Nhờ bán sản vật cho ngoại quốc một phần lớn mà nền thương mãi phồn thịnh [39, tr.479]
Ngoài các nghề thủ công và mạng lưới chợ nông thôn, một loạt đô thị, thương cảng ra đời và thịnh đạt Phú Xuân (Huế) là thủ phủ chính của chính quyền chúa Nguyễn, Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn, Vũng Lấm, Gia Định, Đồng Nai, Mỹ Tho, Hà Tiên…là những đô thị và cảng thị nổi tiếng, trong đó Hội An là một trung tâm mậu dịch đối ngoại thịnh vượng nhất không những ở Việt Nam mà cả trên bình diện Đông Nam Á
Do những yếu tố lịch sử chi phối, nền kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong đã bắt đầu phát triển trong các thế kỷ XVI, XVII Tuy vậy, thương nghiệp Đàng Trong giai đoạn đầu chủ yếu chỉ là một thị trường xuất khẩu những sản phẩm khai thác từ tự nhiên Hơn nữa, nguồn hàng tiêu thụ chủ yếu là những mặt hàng thủ công của Trung Quốc Đến khoảng đầu thế kỷ XVII, trong bối cảnh quan hệ quốc tế đã trở nên rộng mở và nhiều ngành sản xuất thủ công
đã có những phát triển vượt trội, chính quyền Đàng Trong ngày càng chủ động hơn trong các mối quan hệ đối ngoại Có thể nói, sự phát triển kinh tế ngoại thương của Đàng Trong đã dẫn
Trang 34đến những tác động sâu sắc đối với đời sống kinh tế - xã hội Đàng Trong đã dự nhập mạnh
mẽ vào nhiều hoạt động kinh tế, đối ngoại khu vực Các hoạt động kinh tế và bang giao đó
đã không chỉ giúp cho chính quyền Thuận Hóa giữ vững được thể chế của mình mà còn bổ sung và viết tiếp những trang huy hoàng trong lịch sử thương mại dân tộc
2.1.2 Các hoạt động kinh tế của thương nhân người Việt ở Hội An
Hội An có bộ phận lao động nông nghiệp, thủ công nghiệp và lưu thông hàng hóa nhưng thương nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu
Với thị trường nội địa, Hội An là đầu mối thương nghiệp của Đàng Trong Thích Đại Sán rất đỗi ngạc nhiên khi thấy cảnh tấp nập trên phố cảng Hội An vào cuối thế kỷ XVII Ông viết: “Xa trông cách bờ, cột buồm như rừng tên xúm xít, hỏi ra mới biết đoàn thuyền chở lương đậu chờ gió tại cửa Hội An Hai bên bờ nhà cửa đông đúc, người đi xôn xao, kẻ gánh người gồng, người ta đã đi chợ từ sáng” hay “ở đây rau quả, cá tôm họp mua bán suốt ngày” [44, tr 154]
Thương nhân người Việt bao gồm những tiểu thương, tiểu chủ, tầng lớp mãi biện, các chủ cửa hàng đến cả tầng lớp không chuyên như quan lại, hoàng thân của các Chúa Họ là người điều khiển thị trường qua chính sách nhưng đa số là đội ngũ tiểu thương mua từ gốc, bán tại ngọn Những người có ít vốn thì mở cửa hàng bán lẻ hoặc làm trung gian phân phối lưu thông Họ là những người “buôn thúng bán mẹt” hay “buôn thúng bán bưng” Công việc của họ diễn ra hằng ngày hoặc dăm bữa nửa tháng Nhiều khi họ đóng vai trò vận chuyển, lấy công làm lãi Hạng trung bình vốn liếng đã khá hơn, hàng hóa cũng nhiều hơn, đó là những hàng tấm, hàng xén lớn Thường họ có cửa hàng nhất định và tham dự vào những phiên chợ lớn Những người có nhiều vốn thì mua hàng tích trữ đến mùa mậu dịch bán ra cho thương nhân nước ngoài Một số có vốn lớn họ cho vay với lãi suất cao Một số buôn bán giàu có trở thành các chủ ghe bầu đi Nam về Bắc, mở cửa hiệu buôn bán, hình thành khu phố An Nam hoạt động bên cạnh phố Nhật và phố Khách thế kỷ XVII [13, tr.74]
Ở Hội An, người Bồ Đào Nha buôn bán muốn kiếm lợi trước mắt nên không lập thương điếm mà việc trao đổi diễn ra trên thuyền hoặc họ thuê khách sạn để buôn bán hoặc
để các viên thư ký tàu buôn ở lại Vì vậy, người Việt, người Nhật kinh doanh bằng cách cho thuê khách sạn – một ngôi nhà có chiều sâu, mặt trước để bán, mặt sau để chứa hàng, họ cho thuê cửa hiệu, làm đại lý kinh doanh Piere Poivre hồi ký lại: “ Ở Hội An người ta có thể tìm
Trang 35thấy những đại lý cho thuê, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu Đại lý lớn nhất, giá thông thường
là 100 đồng trong thời gian gió mùa.” [Dẫn theo 28, tr.26]
Để đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hóa trong nước với Hội An, nhiều thương nhân người Việt giàu có ở vùng Hội An còn buôn ghe bầu đưa hàng đi khắp các cảng của đất nước Hội An trước kia có nhiều nơi đóng ghe bầu nổi tiếng như làng Kim Bồng (Cẩm Kim), Trà Quân (Cẩm Thanh) Hơn nữa, Hội An là đầu mối thương nghiệp Đàng Trong nên “khách phương bắc đều tụ tập ở đây” [23, tr.154] Thương nhân người Việt đã nối các phố cảng cận duyên trong những chuyến đi buôn xa theo chiều nam – bắc của đất nước Mặc dù đất nước
bị chia cắt nhưng luồng thương nghiệp giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài vẫn được các thương nhân tiến hành bất hợp pháp Người buôn Thanh Nghệ, Sơn Nam mang hàng vào bán rồi mua đồ đồng, tiền đồng ra Đàng Ngoài.[50, tr.19]
Tuy nhiên, do ít vốn nên phần lớn người Việt chỉ buôn bán nhỏ như các mặt hàng trầu, cau, bánh trái Đó là những người buôn bán lẻ, bán hàng xén tại chỗ hay buôn bán hàng nay chợ này mai chợ khác…được gọi chung là tầng lớp tiểu thương Cũng có một số có vốn nhưng chỉ làm trung gian phân phối hàng hóa hoặc cho vay vốn với lãi suất cao Hơn nữa, quan lại, vua chúa cũng tham gia vào hoạt động buôn bán, song với quyền bính trong tay họ
đã nhũng nhiễu, lạm dụng rất nhiều Mua bán theo kiểu trưng mua ép bán, có khi là cướp đoạt trắng trợn ở chỗ ăn quỵt nữa
Có thể nói, thương nhân người Việt là tầng lớp hoạt động rất tích cực ở thương trường Hội An Họ là một khâu quan trọng trong hệ thống buôn bán, giao thương ở Hội An Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau (thiếu vốn, bị vua quan chèn ép về thuế khóa, các thương nhân nước ngoài cạnh tranh) mà thương nhân người Việt dần dần bị phụ thuộc vào nhà nước phong kiến và bị Hoa thương khống chế, cạnh tranh
2.2 Thương nhân người Nhật
2.2.1 Người Nhật đến Hội An
Có thể nói, cuộc Đại phát kiến địa lý ở thế kỷ XV – XVI đã tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới lúc bấy giờ Với Đại phát kiến, con đường tơ lụa trên biển đã nối liền ba đại dương, mở ra thời đại thương mại, thời đại hình thành và phát triển của hệ thống
Trang 36thương mại thế giới Trong bối cảnh biến đổi thế giới thế kỷ XVI, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản cũng chịu tác động của mối quan hệ thương mại quốc tế, khu vực Đông Á và Đông Nam
Á
Sau khi đất nước được thống nhất, nền kinh tế Nhật Bản đã có sự phát triển to lớn Đất nước hòa bình, đời sống nhân dân được nâng cao nên nhu cầu về hàng hóa tăng lên nhanh chóng Các Daimyo (tiểu vương) ra sức phát triển sản xuất, tăng cường trao đổi buôn bán với nước ngoài Nội thương của Nhật được mở rộng tạo ra một tầng lớp thương gia ngày càng đông đảo và giàu có, dẫn đến nhu cầu mở rộng thị trường
Cho đến đầu thế kỷ XVI, quan hệ của Nhật Bản ở châu Á chỉ giới hạn chủ yếu với hai nước láng giềng là Trung Quốc và Triều Tiên Tuy nhiên, do xung đột lớn giữa người Nhật với các quan chức Trung Hoa ở cảng Ningpo (Ninh Bá) vào năm 1523 mà quan hệ mậu dịch Nhật – Trung bị gặp trắc trở Và khi Hideyoshi hai lần tiến hành xâm lược Triều Tiên (1592 – 1597) – một phiên quốc của Trung Hoa thì quan hệ buôn bán chính thức giữa Nhật Bản – Trung Quốc chấm dứt [49, tr.21] Do đó, Nhật Bản phải nhanh chóng tìm một nơi cung cấp cho mình thay thế hàng Trung Hoa Đây là một vấn đề quan trọng trong chính sách kinh tế của Bakufu Tokugawa Và thật may mắn là ngoài Trung Quốc ra thì Việt Nam cũng
là nơi sản xuất nhiều tơ lụa có thể đáp ứng nhu cầu của Nhật Bản Vì vậy, khi mở rộng buôn bán với Đông Nam Á thì Nhật Bản cũng chú ý phát triển mạnh mẽ việc buôn bán với Việt Nam
Không những thế, vào năm 1567, Minh Mục Tông bãi bỏ “hải cấm”, cho phép thương nhân người Hoa được ra nước ngoài buôn bán nhưng chỉ ở Đông Nam Á và vẫn nghiêm cấm vượt biển sang Nhật hoặc xuất khẩu những hàng hóa có tính chất quân sự Do
đó, hoạt động trao đổi buôn bán giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn diễn ra nhưng phải tiến hành ở nước thứ ba Trong bối cảnh đó, các cảng thị ở Đông Nam Á, trong đó các cảng thị của Việt Nam nằm gần kề con đường buôn bán quốc tế và khu vực đã đón nhận những cơ hội thuận lợi để phát triển ngoại thương
Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, tình hình Việt Nam cũng có nhiều thay đổi Ở Đàng Trong, khi làm trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng với nhãn quang của mình đã thi hành nhiều biện pháp, chính sách tích cực để biến vùng “Ô châu ác địa” thành một vùng trù phú Dưới tác động của chính quyền chúa Nguyễn, nhiều cảng thị Đàng Trong đã ra đời và
Trang 37nhanh chóng khởi sắc mà Hội An là một điển hình Với vị trí địa - thương mại của mình, Hội An đã thu hút nhiều thương nhân nước ngoài, đặc biệt là thuyền của Nhật và Trung Quốc vì ở đây, ngoài việc tìm kiếm những mặt hàng theo nhu cầu, họ còn có thể trao đổi hàng hóa với nhau khi mà quan hệ chính thức đã bị nghiêm cấm Thêm vào đó, năm 1593, Mạc Phủ Tokugawa ban hành giấy phép Châu Ấn trạng (Shuinjo) tức là loại thông hành đặc biệt, khuyến khích các tàu thuyền lớn đi về các xứ Quảng Nam, Malaixia, Xiêm La…để tàu Nhật có thể trao đổi, buôn bán với tàu thuyền Trung Quốc, trong đó Hội An là một trong những cảng biển mà người Nhật hướng tới
Như vậy, chủ trương mở rộng quan hệ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của nhà Minh, sự tuyệt giao Trung – Nhật là cơ hội cho thương mại của Nhật Bản và Việt Nam phát triển
Các tàu Nhật Bản xuất phát từ Hirado hay Nagasaki đã tới các cảng thị ở phía bắc của vĩ tuyến 10 bắc tới Trung Hoa – nơi các tàu thuyền Trung Hoa cũng đến để trao đổi hàng hóa Sau sự kiện nước Nhật ban hộ chiếu hàng hải Shuinjo cho các tiểu vương và đại thương gia Nhật Bản thì Hội An đã nhanh chóng trở thành khu thương mại thịnh vượng mang tính chất quốc tế Quá trình hình thành và phát triển thịnh đạt của Hội An vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII gắn liền với thương nhân ngoại kiều, đặc biệt là thương nhân Hoa kiều và Nhật kiều Đầu thế kỷ XVII, Hội An tràn ngập thương khách Nhật Bản nên một số thương nhân phương Tây lúc đó gọi Hội An là thương cảng của Nhật Hàng năm có từ 3 đến 4 đoàn giáo dân Nhật bị nhà cầm quyền Nhật Bản ngược đãi Họ lấy cớ sang Hội An buôn bán để tị nạn Để đáp ứng yêu cầu thương khách, nhu cầu tiêu dùng của nhà nước và nhân dân, chúa Nguyễn đã cho Nhật kiều chọn nơi thích hợp để thành lập phố Vào thời kỳ này, các khu phố Nhật Bản thường gọi là Nihonmachi và chỉ được xây dựng ở bốn nước Philipppin, Việt Nam, Thái Lan và Camphuchia ngày nay
Ghi chép về phố Nhật ở Hội An xưa nhất có lẽ là W.Adams, người Anh là cố vấn ngoại giao cho Shogun Tokugawa Ieyasu Năm 1617, W Adams đã nhận Shuinjo và từ Hirado sang buôn bán ở Hội An Trong “Hàng hải ký” viết về chuyến đi này, ông cho biết đã tới Cù lao Chàm và sau đó tới Faifo nơi có người Nhật cư ngụ Ông gọi là Nihonmachi Những ghi chép vào các ngày 20/4, 16/5, 19/5 năm 1617….cho biết có 3 người Nhật bị cướp
giết, lấy mất 3 quan tiền, trong đó có gia nhân của Haseagawa Shahe đang là Phụng hành
Trang 38Nagasaki Vị quan này đã lợi dụng chức vụ của mình để xin Mạc Phủ giấy phép buôn bán và yêu cầu chính quyền Quảng Nam cho phép gia nhân được cư trú ở Faifo Do đó có thể xác định thời gian hình thành phố Nhật ở Hội An là vào nửa đầu thế kỷ XVII.[55, tr 205 – 215]
Như vậy, phố Nhật Bản được phát triển từ đầu thời kỳ Kinsei – cận thế tới khoảng thời giữa Khánh Tường (Kanli) và muộn nhất vào năm Nguyên Hòa (Genwa), tức là đầu thế
kỷ XVII Cùng với sự phát triển của thương mại, phố Nhật đã thịnh vượng nhanh chóng
Theo tiến sĩ Trịnh Tiến Thuận thì phố Nhật Bản được xây dựng ở Hội An vì:
- Thứ nhất, tạo cho người Nhật Bản yên tâm sinh sống, thuận tiện trong sinh hoạt và hợp tác với nhau trong hoạt động kinh doanh, bảo vệ và giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn Khi sinh sống ở Việt Nam, Nhật kiều phải giao tiếp với các cộng đồng khác, có sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, thói quen sinh hoạt…nhưng vẫn giữ lối sống của dân tộc mình
- Thứ hai, việc tổ chức Nihonmachi giúp Nhật kiều thuận tiện buôn bán với nước ngoài Mục đích chủ yếu của Châu ấn thuyền ở Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á
là buôn bán, trao đổi hàng hóa để thu lợi và phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nước
Do những hạn chế về kỹ thuật hàng hải, chịu tác động của thời tiết nên các Shuinsen phải hoạt động theo mùa Vì vậy, muốn nhanh chóng tiêu thụ khối lượng hàng hóa lớn trong một thời gian ngắn, Nhật kiều phải sống ở một nơi nhất định Vị trí các khu phố Nhật thường
ở những nơi thuận tiện cho việc trao đổi
- Thứ ba, chính quyền chúa Nguyễn cần quản lý người Nhật cũng như đối với người nước ngoài nói chung Chính quyền Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài luôn có thái độ cảnh giác với người nước ngoài Vì vậy, khu phố Nhật nằm ở ngoại vi của chính quyền trung ương hay địa phương một khoảng cách hợp lý để tạo sự an toàn cho chính quyền cũng như quốc gia Khu phố Nhật ở Hội An – một thương cảng mậu dịch lớn nhất Đàng Trong, cách Thuận Hóa (Huế) hơn 100km và Phủ Chúa – Dinh Chiêm khoảng 9 – 13 km.[49, tr.107 – 108]
Nhưng theo tôi thì ngoài những lý do trên còn có thể kể đến một nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng, đó là chính sách cho tự do hoạt động tôn giáo ở Đàng Trong Chúa Nguyễn cho phép các giáo sĩ dòng Tên tới Hội An cư ngụ, truyền giáo và có nhiều
Trang 39chính sách ưu đãi Đạo Thiên Chúa đã dần dần thâm nhập vào đời sống tâm linh của một bộ phận người Việt Chính điều này đã thu hút một số lượng lớn các giáo dân Nhật Bản sang Hội An trong hoàn cảnh chính quyền Mạc Phủ cấm đạo Những thành phần cư dân này đã góp phần hình thành nên bản sắc rất riêng của khu phố Nhật kiều
Cho đến nay đã có khá nhiều tài liệu nói về sự tồn tại của dãy phố Nhật ở Hội An nhưng chưa có ai đưa ra được những chứng cứ thật xác đáng để chỉ rõ vị trí và quy mô của dãy phố này Việc xác định vị trí của khu phố cổ người Nhật gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, trong đó sự suy sụp của khu phố này vào cuối thế kỷ XVII do chính sách cấm xuất dương của Mạc Phủ vào năm 1636 khiến người Nhật không thể đến hoặc đi khỏi Việt Nam được nữa Tuy nhiên, dựa theo bức tranh “Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ” của dòng họ Chaya đang được lưu giữ ở Nagoya thì có thể xác định phố Nhật lúc đó nằm ở bờ bắc con sông cái, là một dãy phố tương đối lớn Bức tranh “Giao chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” là một
tư liệu cổ nói về mối giao lưu Nhật Bản với Đàng Trong Tuy bị mất một phần nhưng phần còn lại có giá trị tư liệu cao vì nó đã mô tả khá sinh động phố Nhật ở Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII
Theo nhà nghiên cứu kiến trúc Chihara Daigoro thì những người Nhật khi đến Hội
An buôn bán đã xây dựng những ngôi nhà giống như ngôi nhà ở quê hương mình để sống Kiến trúc phố Nhật Bản ở Hội An hoàn toàn cùng dạng kiến trúc tại Nagasaki.[7, tr 43]
Phố Nhật ở vị trí làng Hoài Phô Do tên này mà con sông Thu Bồn lúc đó được gọi
là sông Hoài, chỉ đoạn chảy ngang qua Hội An Địa danh Faifo cũng là nguồn gốc từ tên
làng, tên sông đó mà ra Bản đồ do Roze vẽ năm 1764 cũng ghi chú tên sông: Rivie’re de
Faifo Trong Ô châu cận lục, thế kỷ XVI làng Hoài Phô cũng được ghi rồi đổi là Hoa Phô [16, tr 41] Sau này là Sơn Phô hiện thuộc xã Cẩm Châu Người Nhật đến mua 20 mẫu đất ruộng làng Hoài Phô và An Mỹ để xây dựng phố xá, buôn bán, lập một ngôi chùa lấy tên là Tùng Bổn Tự do thương gia Nhật Bản là Kadoya Sichirobei (Giác Ốc Thất Lang) bỏ tiền ra xây dựng
Về vị trí của phố Nhật Bản ở Hội An, trong công trình của mình Iwao Seiichi tuy khẳng định việc xác định vị trí là khó khăn nhưng ông cũng cho rằng “có lẽ phố Nhật ở khu vực con đường có cầu Nhật Bản làm trung tâm Con đường có cầu Nhật Bản hiện nay là đường Trần Phú Vì vậy, phố Nhật có thể ở vị trí phía tây, từ đường Nguyễn Thị Minh Khai
Trang 40đến cầu Nhật Bản, tiếp đó là phía bắc đường Trần Phú đến phía Nam đường Phan Chu Trinh, phía Đông là vùng phụ cận Hội quán triều Châu.[22, tr 36] Tuy việc xác định vị trí khu phố Nhật cần phải chứng minh bằng kết quả của những đợt khai quật khảo cổ tiếp theo nhưng thực tế cho thấy vào đầu thế kỷ XVII, khu phố Nhật khá sầm uất và thịnh vượng
Phố Nhật Bản ở đây gồm có hai dãy phố dài tới 320 mét, có cả thị trưởng người Nhật để quản lý Nhật kiều.[48, tr 59] Theo điều tra di tích kiến trúc Hội An, khu phố cổ này
có hình vuông, theo trục Đông Tây dài 900 mét và trục Bắc Nam 300 mét
Vào giữa thế kỷ XVII, tại khu phố dành cho người Nhật có chừng 60 gia đình sinh sống và làm ăn buôn bán, tức là có khoảng trên 200 người [18, tr 70] Nếu mỗi năm có hai thuyền Shuinsen sang thì số Nhật kiều tạm trú tại Hội An cũng không quá 1000 người Còn theo Th Bowyear thì cả hai dãy phố có chừng 100 nóc nhà Nếu chỉ tính riêng dãy phố nam
có thể ước tính 50 – 60 ngôi nhà, tương đương với trên dưới 400 người Như vậy, mặc dù không có con số chính xác về số cư dân sinh sống trong khu phố Nhật cũng như về sinh hoạt kinh tế của họ nhưng rõ ràng, thành phố tương đối nhỏ này chỉ nhộn nhịp khi nào thuyền Shuinsen xuất hiện
Trong du ký của mình, C Borri cho biết người Nhật và người Trung Quốc được nhận đất đai của Chúa để xây dựng “phố Nhật” và “phố Tàu” Người đứng đầu phố Nhật được gọi là Suoi Governatori
Phố Nhật gần như một khu tự trị của người Nhật Nó mang dáng dấp một đô thị tự
do thời trung cổ Khu vực đó có tên là Nhật Bản dinh Trưởng phố do Nhật kiều bầu lên, thay mặt họ liên hệ với chính quyền sở tại để giải quyết những vấn đề liên quan đến đời sống Những kiều dân được quyền sống theo luật pháp và phong tục nước mình Tư liệu Nhật Bản còn ghi lại họ tên những Trưởng khu người Nhật như:
Domingo (1633 – 1636) Ông cũng là người phiên dịch cho chúa Nguyễn ở Quảng Nam
Fyranwa Rockebeyaota (1636 – 1640)
Siommoera Ouffioye (1640 – 1641)
Siommoera Taiffioye (1642 – 1660)
Fayasi Kiemon (1660 – 1665)