Slide 1 1 Tiền Giang, tháng 9/2016 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 2 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬ[.]
Trang 1Tiền Giang, tháng 9/2016
TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP
KHẮC PHỤC
TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP
KHẮC PHỤC
Trang 2TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Chất lượng môi trường; Một số vấn đề môi trường cần đặc biệt quan tâm; Giải pháp khắc phục
Trang 3A TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU – GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
Trang 4KHÁI NiỆM VỀ BiẾN ĐỔI KHÍ HẬU
BĐKH là sự thay đổi có tính hệ thống (liên tục tăng hoặc liên tục giảm) các yếu tố khí hậu
(Nhiệt độ, lượng mưa, áp suất hay gió, ) so với trung bình của khí hậu đã duy trì trong vài thập niên hoặc dài hơn
Trang 5
Trong 10 năm qua (2001-2010), nhiệt độ đã tăng hơn nửa độ so với thời kỳ trước đó.
BiẾN ĐỔI VỀ NHIỆT ĐỘ
Nhiệt độ trung bình toàn cầu đang tăng Trong 100 năm từ 1906-2005 nhiệt độ đã tăng +0,74 ± 0,18 O C; tốc độ tăng trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó
Trang 6Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình từ 1901-2005
Biến đổi về lượng mưa
• Trên phạm vi toàn cầu lượng
mưa tăng lên ở các đới phía bắc vĩ độ 30 O N thời kỳ 1901-
2005 nhưng lại giảm đi ở khu vực nhiệt đới, kể từ thập niên 1990.
• Lượng mưa tăng rõ rệt ở Bắc
Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á.
• Lượng mưa giảm ở Tây Nam
nước Mỹ, Đông bắc Mehico, Nam Mỹ, Nam Á, Nam và Tây Phi.
•Tần số mưa lớn tăng ở nhiều khu vực,
kể cả những nơi lượng mưa có xu thế
giảm đi.
Trang 7Biến đổi mực nước biển
Sự tăng lên của nhiệt độ trung bình mặt đất toàn cầu làm cho băng tan ở các vùng cực, trên đỉnh núi cao cùng với sự giãn nở nước ở các đại dương làm cho mực nước trung bình ở các đại dương tăng cao.
- Trong giai đoạn 1961-2003 (khoảng
40 năm) mực nước biển tăng với tốc độ
3,1mm/năm.
Trang 8Hồ Alaska
Sông băng Thụy Sĩ
Hậu quả của BĐKH
Trang 9Nguy cơ xảy ra sét tăng 12% khi nhiệt độ tăng 1 o C, tia sét phóng ra với tốc độ 36.000 km/h, có sức nóng 30.000 o C, có thể gây cháy rừng
Hậu quả của BĐKH
Trang 10Hậu quả của BĐKH
Trang 11-Hành lang san hô “Great Barrier Reef” di sản thiên nhiên thế
giới tại Australia sẽ bị tan rã.
-Rừng nhiệt đới Amazon có nguy cơ biến thành sa mạc.
-Sa mạc Sahara sẽ biến thành rừng.
-Sẽ xuất hiện nhiều cơn bão mạnh hơn bão Katrina.
-Thủ đô London của Anh sẽ bị chìm dưới mực nước biển vào
năm 2100.
-Số lượng cá thể của một số loài động vật suy giảm (cá, sinh
vật phù du, các loài vi khuẩn), sự co cụm của một số loài động vật (các đàn cừu trên một hòn đảo ở Scotland).
-Nhiều hòn đảo ở Indonesia (2.000 đảo, thực tế 24 đảo trong số
17.500 đã biến mất) và quần đảo Maldives (thấp và bằng phẳng nhất thế giới đang ngày càng bị thu hẹp) sẽ bị nhấn chìm trong đại dương.
Hậu quả của BĐKH
Trang 12- Theo chu kỳ từ 2 đến 7 năm, một dòng nước ấm bất thường, với nhiệt độ đôi khi cao hơn 2-3oC so với bình thường, hình thành ở vùng biển nhiệt đới phía đông Thái Bình Dương sẽ tạo ra một hiện tượng biến đổi
khí hậu ngắn hạn tự nhiên gọi là hiện tượng El Nino Hiện tượng này không chỉ gây ảnh hưởng đến môi
trường nước ở khu vực mà nó đi qua mà còn thúc đẩy các hiệu ứng thời tiết khắc nghiệt trên khắp thế giới -El Nino là hiện tượng tự nhiên tuy nhiên tình hình
toàn cầu nóng lên do biến đổi khí hậu làm gia tăng
các đợt nắng nóng và gây ra hậu quả khắc nghiệt hơn
vì khô hạn, thiếu nguồn nước ngọt trầm trọng do
nước biển dâng, xâm nhập mặn lấn sâu vào đất liền
Hiện tượng El Nino
Trang 13Nguyên nhân của BĐKH BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên như: thời kỳ băng hà, thời kỳ ấm áp, tuy nhiên các
thời kỳ này kéo dài hàng trăm nghìn năm do đó không được xem là nguyên nhân của BĐKH trong giai đoạn hiện nay.
BĐKH giai đoạn hiện nay là do hoạt động của con người (công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông, ) làm gia tăng khí nhà kính (CO2, CH4, N2O, ) có khả năng giữ nhiệt cao, làm nhiệt độ bề mặt trái đất tăng dần lên dẫn đến sự tan dần của những khối băng vĩnh cửu ở Bắc cực, Nam cực, trên các đỉnh núi cao làm cho mực nước biển dâng cao.
Trang 14Sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than
đá, xăng, dầu,…) phát thải lượng lớn khí CO2
Trang 15Sản xuất nông
nghiệp cũng góp phần phát thải khí
CO2, CH4
Trang 16CO 2 CO2 CO2
Trang 17-Thời kỳ tiền công nghiệp (1750) hàm
lượng CO2 trong khí quyển vào khoảng
280 ppm
- Từ sau thời kỳ tiền
công nghiệp đến nay
hàm lượng CO 2 liên tục
tăng, mức tăng trung
bình trong giai đoạn
Trang 18- Theo báo cáo
Trang 19350 phần triệu là những gì nhiều nhà khoa học, các chuyên gia khí hậu và chính phủ các nước hiện nay cho là giới hạn trên an toàn khí CO 2 trong khí quyển của chúng ta Chính vì vậy, một Chiến dịch mang tên 350.org đã được triển khai trên phạm vi toàn cầu và lấy ngày 24-10 hàng năm là Ngày quốc tế hành động
vì biến đổi khí hậu.
“350”
Trang 20Biểu tượng của chiến dịch toàn cầu
về biến đổi khí hậu 350 được nhiều
người hưởng ứng tại Nhà hát
Trang 21Mọi người xếp thành hình hoa
hướng dương với nụ hoa là biểu
tượng về biến đổi khí hậu ở Mexico.
Khẩu hiệu chống biến đổi khí hậu của Trường trung học Massey Waitakere,
New Zealand.
Trang 22Thiên nhiên và động vật cũng được
lồng ghép vào chủ đề biến đổi khí
hậu tại Okavango Delta, Botswana.
Thay cho vị trí của những cánh buồm là thông điệp biến đổi khí hậu
tại Santa Cruz, Mỹ.
Trang 23Theo công nhận của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH – IPCC (2007):
-Vùng hạ lưu sông Mêkong (Việt Nam) được đánh giá là 1 trong 3 vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do tác động của BĐKH.
- Việt nam nằm trong nhóm 5 quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu
Trang 24Tháng 8-2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tính toán và đưa ra ba kịch bản biến đổi khí hậu đối với Việt Nam, trong đó kịch bản trung bình đã đưa ra kết quả dự báo rằng:
- Về nhiệt độ: vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,60C ở Tây Bắc;
tăng 2,50C ở Đông Bắc; tăng 2,40C ở đồng bằng Bắc bộ; tăng 2,80C ở Bắc Trung bộ; tăng 1,90C ở Nam Trung bộ; tăng 1,60C ở Tây nguyên và tăng 20C ở Nam bộ so với trung bình của thời kỳ 1980-1999
Trang 25- Về lượng mưa: tổng lượng mưa và lượng mưa trong mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu của
nước ta đều tăng, trong đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở các vùng khí hậu phía Nam Tính chung cho cả nước, lượng mưa cả năm vào cuối thế kỷ 21 tăng khoảng 5%
so với thời kỳ 1980-1999 Ở các vùng phía Bắc mức tăng lượng mưa sẽ nhiều hơn so với khu vực phía Nam.
- Về nước biển dâng: mực nước biển sẽ dâng 30cm vào năm 2050 và cuối thế kỷ 21 sẽ dâng
khoảng 75cm (nhiệt độ trung bình ở nước ta trong khoảng 50 năm qua tăng 0,70C và mực nước biển quan trắc ở các trạm Cửa Ông (Vịnh Hạ Long), Hòn Dấu (Đồi Sơn) tăng khoảng 20cm; tính trung bình mực nước biển ở Việt Nam đã tăng thêm 12cm)
Trang 26Năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật từ kịch bản năm 2009.
Năm 2016 Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục công bố kịch bản biến đổi khí hậu mới.
Nhìn chung kịch bản sau kế thừa kịch bản trước nhưng cụ thể, chi tiết hơn Năm 2016 kịch bản biến đổi khí hậu sẽ cụ thể, chi tiết đến cấp huyện để các địa phương chủ động hơn trong xây dựng các kế hoạch ứng phó với BĐKH.
Trang 27Những tác động cụ thể của BĐKH đối với ĐBSCL:
Nếu mực nước biển dâng 100 cm sẽ ảnh hưởng 38,9% diện tích đất của Đồng bằng Sông Cửu Long, các tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất là Hậu Giang(80,62%), Kiên Giang (76,9%).
Trang 28- Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, giảm sản lượng lúa và cây ăn quả: Theo tính toán và tiên
đoán của các nhà khoa học, nếu mực nước biển dâng theo kịch bản trung bình cao thì sản lượng lương thực của ĐBSCL sẽ giảm gần một nửa, các vùng chuyên canh cây ăn trái, nuôi trồng thủy hải sản chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Và như thế, vấn đề an ninh lương thực sẽ bị đe
dọa nếu như không có biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó; đặc biệt, đáng quan tâm tới vấn
đề này vì ĐBSCL là vựa lúa của cả nước cũng như thế giới
Trang 29
- Tăng diện tích bị nhiễm mặn:
ĐBSCL được xác định là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH Đây cũng là vùng chịu tác động rất lớn sự thay đổi về biên độ triều của mực nước biển Mực nước biển dâng lên sẽ làm triều cường tiếp tục lên cao hơn và gia tăng xâm nhập mặn Tương đương với mực nước biển dâng cao thêm 75cm vào cuối thế kỷ 21 thì cư dân nhiều vùng thấp ven biển thậm chí sẽ không có nước ngọt để uống vì các nguồn nước bị nhiễm mặn, ảnh hưởng cực kỳ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân với 70% là nông dân
Trang 30- Từ đầu năm 2015 dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công bị thiếu hụt, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm
qua và không còn khả năng đẩy mặn, dẫn đến mặn trên sông đã xuất hiện sớm hơn gần hai tháng so với cùng kỳ và xâm nhập sâu về phía thượng lưu, nơi xa nhất hơn 90km Theo số liệu quan trắc, độ mặn lớn nhất đều cao hơn so với trung bình nhiều năm (TBNN) và vượt quá độ mặn lớn nhất cùng kỳ đã từng quan trắc được trong lịch sử: ranh giới độ mặn 4g/l đã lấn sâu tới 90-95km trên sông Vàm Cỏ, 45 - 65km trên sông Tiền, 55-60km trên sông Hậu và 60-65km ở khu vực ven biển Tây (Sông Cái Lớn) Phạm vi xâm nhập mặn nêu trên vượt so mức TBNN từ ít nhất 5-10 km đối với khu vực ven biển Tây; 10-15 km ở khu vực sông Vàm Cỏ và Sông Hậu đến lớn nhất 20-25 km đối với sông Tiền Kết quả quan trắc cũng cho thấy độ mặn lớn nhất cũng cao hơn so với mức lớn nhất cùng kỳ trong lịch sử.
Trang 31Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nêu trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh ven biển Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau có nhiều diện tích cây trồng bị thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn Tổng diện tích thiệt hại là 126.798 ha; trong đó, 78.137 ha thiệt hại trên 70% năng suất (chiếm 62%), 45.740 ha thiệt hại từ 30-70% năng suất (chiếm 36%), 2.921 ha thiệt hại dưới 30% năng suất (chiếm 2%) Các tỉnh bị thiệt hại nhiều là Cà Mau: 49.343 ha, Kiên Giang: 34.093 ha, Bạc Liêu: 11.456 ha và Bến Tre: 10.755 ha Hạn hán, xâm nhập mặn cũng đã ảnh hưởng lớn đến việc cấp nước sinh hoạt tại một số khu vực sử dụng nước mặt, nhất là các vùng chưa có công trình cấp nước, tập trung ở các khu vực cửa sông, ven biển, như: Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang, Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu.
Trang 32
- Chết rừng ngập mặn: Các khu vực ven biển với hệ thống rừng ngập mặn đóng vai trò là lá chắn của vùng Khi nước biển dâng cao sẽ có một số cây chết do bị ngập , khi ấy diện tích rừng ngập mặn sẽ thay đổi Khi rừng bị mất thì các loài sinh vật khác trong hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng sẽ bị đe dọa Đồng thời, mất rừng ngập mặn là mất
đi lá chắn để ngăn sóng to, bão tố, xói lở bờ biển, sạt lở các đê phòng hộ… dẫn tới gia tăng ảnh hưởng của các loại thiên tai đối với đời sống và lao động, sản xuất của dân cư ven biển
Trang 33- Ảnh hưởng tới các công trình:
BĐKH và nước biển dâng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt nặng nề trong mùa mưa tại nhiều vùng thấp ven biển gây khó khăn cho việc thoát nước; tăng xói mòn, sụp lở các con đê ven bờ biển, ven sông và hệ thống đê bao chống lũ, ngăn mặn trong khu vực; làm hư hỏng hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, các bến cảng, bến tàu thuyền, trường học, nhà máy, các khu dân cư…
- Gia tăng dịch bệnh:
Biến đổi khí hậu cũng sẽ làm gia tăng sốt xuất huyết và bệnh nhiệt đới như sốt rét vì lăng quăng sinh trưởng nhanh khi nước ấm hơn, muỗi cái tiêu hóa máu nhanh hơn và đốt thường xuyên hơn khi nhiệt độ tăng lên Ngoài ra,
không khí ấm bất thường cũng đã khiến cho loài muỗi vằn sinh sản sớm và gia tăng mật độ Đồng thời, nhiều loại bệnh khác trên người và gia súc, gia cầm sẽ bùng nổ trên diện rộng
Trang 34- Tác động tới kinh tế – xã hội:
- Biến động trong sản xuất : Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa và kinh tế vườn sẽ giảm sút; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc sẽ bù đắp lại hai sự sụt giảm trên; đầu tư trong lĩnh vực công thương nghiệp càng khó thu hút hơn.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng đã tốn kém càng tốn kém hơn.
- Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế: sẽ diễn ra sự dịch chuyển trong nội vùng và ra ngoài vùng ĐBSCL.
- Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp xáo trộn lớn.
- Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng;
- Nhiều khía cạnh về an ninh quốc phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.
Trang 35Đối với tỉnh Tiền Giang:
Tiền Giang nằm ven bờ sông Tiền thuộc hệ thống sông Cửu Long, tiếp giáp với biển Đông, có 32km
bờ biển và có hệ thống sông rạch chằng chịt, chịu tác động của chế độ bán nhật triều truyền từ biển Đông qua các cửa Tiểu, Đại, cửa Soài Rạp đi sâu vào nội đồng BĐKH làm mực nước biển dâng cao hơn, xâm nhập mặn vào đất liền càng ngày càng sâu hơn làm cho nhiều vùng đất của Tiền Giang bị ảnh hưởng mặn, gây khó khăn rất nhiều cho đời sống và sản xuất nông nghiệp là nghề chính của nhân dân trong tỉnh (trên 70% dân số tỉnh Tiền Giang sống bằng kinh tế nông
nghiệp); nhân dân sống vùng ven biển sẽ thiếu nước ngọt để sinh hoạt và trồng trọt; các công trình giao thông, thủy lợi sẽ bị hư hại nhiều
Trang 36• Mùa khô năm 2016 trên các cửa sông (sông Tiền và Vàm Cỏ) mặn xuất hiện sớm, độ mặn cao và lấn sâu vào nội đồng nhanh hơn so với trung bình nhiều năm gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sản xuất vụ Đông xuân 2015-2016 vùng ngọt hóa Gò Công của tỉnh.
• Đến ngày 25/02/2016 độ mặn 2,60g/l đã xâm nhập đến thành phố Mỹ Tho (cách cửa biển 50km); độ mặn 1,10g/l (ngày 25/02/2016) đã xâm nhập đến Đồng Tâm, huyện Châu
Thành, tỉnh Tiền Giang (cách cửa biển 55km).
Trang 37- Vụ lúa Thu Đông năm 2015: Có 1.837 ha bị thiệt hại, trong đó: 945 ha thiệt hại trên 70% và 892 ha
thiệt hại từ 30-70%.
- Vụ lúa Đông Xuân năm 2015-2016: Trong vùng ngọt hóa Gò Công, mặc dù các địa phương đã rất chủ động tổ chức bơm để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tuy nhiên tại khu vực cuối nguồn, mực nước nội đồng thấp, chất lượng nước kém, nguồn
nước bị nhiễm mặn, dồn phèn nên đã làm lúa bị thiệt hại trên 70% là 1.106 ha và
diện tích lúa bị thiệt hại đến cuối vụ trên 70% là 3.471 ha Diện tích giảm năng suất từ 20-30%
khoảng 7.000 ha
Trang 38- Xâm nhập mặn mùa khô 2015-2016 làm cho 20 ha nhãn, 80 ha mãng cầu xiêm và 40 ha sả trên địa bàn huyện Tân Phú Đông bị thiệt hại từ 30%-70%
Trang 39• BĐKH đã, đang và chắc chắn sẽ tạo ra nhiều cơn sóng to, gió lớn, bão tố, lốc xoáy gia tăng hoành hành và ảnh hưởng nặng nề đến môi trường và con người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; làm tổn hại tài sản, nhà cửa và đe dọa sinh mạng của nhân dân, nhất là những người đi biển, đi sông hoặc sinh sống trên các cồn vùng cửa sông, ven biển.
• BĐKH đã, đang và sẽ làm gia tăng xói lở đất ven biển là điều rất khó khắc phục, nhất là khi thảm rừng ngập mặn
có chức năng phòng hộ không được trồng và chăm sóc tốt hoặc bị phá đi để lấy đất làm công trình khác như xây dựng khu công nghiệp… Việc gia tăng lũ lụt làm ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất của nhân dân vùng phía Tây của tỉnh là nơi sản xuất lúa cao sản và vùng chuyên canh cây ăn quả Thêm nữa, ô nhiễm môi trường tại các vùng ngập lũ sâu và kéo dài cộng với nhiệt độ gia tăng sẽ dẫn tới nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên người, gia súc và gia cầm, mà đặc điểm ở các vùng nông thôn trong tỉnh Tiền Giang có tỷ lệ số hộ chăn nuôi rất cao với tổng
số lượng gia súc, gia cầm rất lớn.
•
Trang 401 Trồng trọt:
•BĐKH dẫn đến biến đổi đặc tính của đất làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loại cây trồng Nhiều loại cây trồng không thể thích nghi kịp với sự thay đổi của thời tiết Hiện tượng khô cằn cùng với việc mặn hóa, giảm lượng nước ngọt làm cho diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Rủi ro tăng lên do lũ lụt bất thường Các mối đe dọa từ việc tăng sâu bệnh và dịch bệnh do thay đổi trong phân bố dịch bệnh truyền bệnh
•BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài sâu bệnh, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa.