Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ TIẾN
QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2022
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ TIẾN
QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 9 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS ĐOÀN XUÂN THỦY
2 TS TRẦN HOA PHƯỢNG
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫnđầy đủ theo quy định
Tác giả
Bùi Thị Tiến
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 81.1 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả nước ngoài 81.2 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong nước 161.3 Khái quát kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận án và khoảng trống nghiên cứu 28
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ
LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ 322.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ 322.2 Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệlợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ 452.3 Kinh nghiệm thực tiễn về hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ và bài học cho thành phố Hà Nội 61
Chương 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 713.1 Khái quát chung về phát triển nông nghiệp hữu cơ ở thành phố
Hà Nội 713.2 Thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ ở thành phố Hà Nội 813.3 Đánh giá chung về quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ ở thành phố Hà Nội 101
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HÀI HÒA QUAN HỆ LỢI ÍCH
TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 1124.1 Xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ và quan điểm hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 1124.2 Giải pháp hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp
hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, tầm nhìn đếnnăm 2030 118
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNH : Công nghiệp hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations - Tổ
chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp QuốcFDI : Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GlobalGAP : Global Good Agricultural Practice - là bộ tiêu chuẩn về thực
hành nông nghiệp tốt toàn cầuHACCP : Hazard Analysis and Critical Control Point - Hệ thống phân
tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạnHĐND : Hội đồng nhân dân
KH&CN : Khoa học và công nghệ
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NNHC : Nông nghiệp hữu cơ
NTM : Nông thôn mới
NXB : Nhà xuất bản
PGS : Participatory Guarantee System - Giám sát và bảo đảm chất
lượng sản phẩm hữu cơ theo hệ thống đảm bảo cùng tham giaSRI : System of Rice Intensification - Hệ thống canh tác lúa cải tiếnUBND : Ủy ban nhân dân
VietGAP : Vietnamese Good Agricultural Practices - Bộ tiêu chí gồm
tiêu chuẩn/quy phạm quy định về thực hành sản xuất nôngnghiệp tốt của Việt Nam
WTO : World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Bảng 3.1: Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành
phố Hà Nội 78Bảng 3.2: Nhu cầu tiêu thụ hàng nông sản của Hà Nội 79Bảng 3.3: Nhu cầu tiêu thụ hàng nông sản hữu cơ của Hà Nội đến năm 2030 79Bảng 3.4: Tỷ lệ quan tâm của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng nông sản
hữu cơ 93Bảng 3.5: Tỷ lệ mức độ chấp nhận trả giá khi mua hàng nông sản hữu cơ cao
hơn so với hàng nông sản thường 95Bảng 4.1: Xu hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ thế giới giai đoạn 2011-2018
112 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ xung đột và hài hòa xung đột giữa các chủ thể phát triểnNNHC 99 Hình 3.1: Một số chứng nhận hữu cơ tiêu biểu 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là xu hướng tất yếu của thế giớinói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt khi nền nông nghiệp đã hoàn thànhmục tiêu an ninh lương thực, thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của con người về sốlượng hàng nông sản Do đó, mục tiêu tiếp theo của ngành nông nghiệp là tạo
ra những sản phẩm có chất lượng và giá trị cao hơn Tuy nhiên, trong nhiềunăm qua, phương thức hóa học hóa nền nông nghiệp nhằm thâm canh tăng vụdường như đã đến điểm giới hạn; lạm dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thựcvật đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng; chất lượng hàng nôngsản suy giảm, không an toàn và không được kiểm soát chặt chẽ ảnh hưởngtiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, gây bức xúc trong xã hội, làm giảm tínhcạnh tranh của nông sản trên thị trường quốc tế,… Vì vậy, nền nông nghiệphiện đại hướng đến phát triển nông nghiệp hữu cơ để khắc phục những hạnchế đó Sản xuất nông nghiệp hữu cơ có vai trò nâng cao chất lượng hàngnông sản, đem đến cho người tiêu dùng những mặt hàng an toàn vệ sinh thựcphẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe, đảm bảo dinh dưỡng, không gây bệnh tậthay các tác dụng phụ Mặt khác, phát triển nông nghiệp hữu cơ chính là đápứng yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành nông nghiệp, hạn chế tìnhtrạng đói nghèo trên thế giới và đưa ngành nông nghiệp hướng tới mục tiêuphát triển xanh, bền vững, thân thiện, bảo vệ môi trường và thích ứng với biếnđổi khí hậu Năm 2019, theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn (NN&PTNT), Việt Nam là quốc gia đứng thứ 7 Châu Á và thứ 3 trongkhối ASEAN về quy mô sản xuất NNHC với 76.666ha [16]
Hà Nội - Thủ đô của Việt Nam, có tiềm năng to lớn về tự nhiên, kinh tế
- xã hội, nguồn nhân lực và đặc biệt là thị trường rộng lớn với nhu cầu củangười tiêu dùng về hàng nông sản chất lượng cao ngày càng gia tăng Chínhquyền thành phố Hà Nội xác định phát triển NNHC là hướng đi bền vững cho
Trang 8ngành nông nghiệp của Thành phố Trên thực tế, phát triển NNHC ở Hà Nội đãđạt được một số kết quả tích cực như: xây dựng được một số mô hình sản xuấtNNHC với quy mô vừa và nhỏ nằm rải rác ở các huyện, Ba Vì, Sóc Sơn, LongBiên, Thạch Thất,…; bước đầu đã hình thành môi trường mới để nông dântham gia như mô hình nhóm nông dân tự quản, mô hình HTX kiểu mới mà lợiích các thành viên HTX và mọi quyết định đều phải có sự thông qua của tất cảcác thành viên, từ đó, vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển NNHCđược tăng lên đáng kể, có thể phát huy được mọi năng lực, khả năng tiếp cậnvới vốn tín dụng, khoa học kỹ thuật, gắn với thị trường và “sáu nhà” (nhànông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà băng, nhà báo và nhà nước) Bêncạnh đó, đã bước đầu có sự kết hợp giữa kiểm tra chéo và có sự kiểm soát chặtchẽ của nhiều bên, trong đó có cả người tiêu dùng, người kinh doanh, cơ quanquản lý nhà nước về chu trình sản xuất và chất lượng sản phẩm NNHC… HàNội cũng khuyến khích, đẩy mạnh liên kết, hợp tác dựa trên hài hòa quan hệlợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường,
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, NNHC trên địabàn Hà Nội vẫn còn một số hạn chế như: quy mô sản xuất NNHC chưa pháttriển tương xứng với nhu cầu và tiềm năng của Thành phố; chất lượng các sảnphẩm NNHC chưa đồng đều; hiệu quả của các mô hình sản xuất NNHC chưacao; một số mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị nông nghiệp đã hìnhthành nhưng chưa ổn định, bền vững; NNHC chưa trở thành lĩnh vực thu hútđầu tư cả từ phía người nông dân trực tiếp sản xuất và doanh nghiệp trong vàngoài nước Đặc biệt, chưa nhận thức rõ và giải quyết thỏa đáng quan hệ lợiích giữa các chủ thể trong sản xuất NNHC, làm cho các chủ thể trực tiếp thamgia sản xuất NNHC chưa tích cực tham gia vào quá trình này Sự xung đột vềlợi ích giữa các chủ thể không chỉ tác động xấu đến bản thân các chủ thể trongphát triển NNHC mà còn tác động xấu đến nền sản xuất nông nghiệp hữu cơtrên địa bàn Thành phố, làm gia tăng các hạn chế cố hữu của nền NNHC,đồng thời, có thể gây bất ổn về môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội, vừa
Trang 9tác động xấu đến môi trường đầu tư cũng như thu hút các doanh nghiệp đầu tưvào NNHC vừa gây khó khăn cho cơ quan quản lý Nhà nước, gián tiếp ảnhhưởng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp nói riêng và mục tiêu kinh tế - xãhội nói chung trên địa bàn, đồng thời ảnh hưởng xấu và lây lan đến các chủthể tham gia NNHC ở các tỉnh, thành phố lân cận Thực tế này đòi hỏi cónhững nghiên cứu, tổng kết lý giải khoa học, để từ đó có những giải pháp thíchhợp, khả thi để góp phần giải quyết các xung đột và xây dựng mối quan hệ hàihòa các lợi ích giữa các chủ thể tham gia phát triển NNHC Từ đó, góp phầnthúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp của thành phố Hà Nội theo hướng hiệnđại, hiệu quả và phát triển bền vững nói chung và phát triển NNHC trên địa bàn
Thành phố nói riêng Chính vì vậy, Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận án tiến sĩ Kinh tế, ngành Kinh tế chính trị.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ lý luận về quan hệ lợi ích trong phát triểnNNHC, phân tích và đánh giá thực trạng giải quyết quan hệ lợi ích trong pháttriển NNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, chỉ ranhững kết quả đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Từ đó, đềxuất phương hướng, quan điểm và giải pháp hài hòa quan hệ lợi ích để thúcđẩy phát triển NNHC ở Thành phố Hà Nội trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận án là:
Một là, làm rõ lý luận về quan hệ lợi ích trong phát triển NNHC Khảo
cứu kinh nghiệm về giải quyết quan hệ lợi ích trong phát triển NNHC của một
số nước và địa phương trong nước để rút ra bài học cho Thành phố Hà Nội
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển
NNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, chỉ ra đượcnhững thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở đưa ra quan
Trang 10điểm, phương hướng và giải pháp để hài hòa các quan hệ lợi ích trong pháttriển NNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Ba là, đề xuất quan điểm, giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm
hài hòa quan hệ lợi ích thúc đẩy phát triển NNHC trên địa bàn Thành phố HàNội đến năm 2030
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong phát triểnNNHC dưới góc độ kinh tế chính trị và đặt trong điều kiện vận hành của nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
3.2 Phạm vi của luận án
- Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu về quan hệ lợi ích giữa
nhà nước với các chủ thể trong phát triển NNHC (bao gồm: chủ thể tham giasản xuất nông nghiệp hữu cơ (hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã, doanhnghiệp); chủ thể tham gia chế biến sản phẩm; chủ thể tham gia phân phối sảnphẩm; nhà khoa học, nhà tư vấn; ngân hàng và mối quan hệ lợi ích với ngườitiêu dùng) luận án cũng xác định rõ nội dung của quan hệ lợi ích giữa các chủthể trong chuỗi giá trị nông nghiệp hữu cơ nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích từ đótạo động lực cho phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nộitới năm 2030
- Về không gian: Luận án tập trung vào các huyện trọng điểm có mô hình
NNHC phát triển mạnh trên địa bàn Thành phố Hà Nội như: Ba Vì, Sóc Sơn,Long Biên
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp
hữu cơ giai đoạn 2016 - 2020 và đề xuất giải pháp đến năm 2030
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cách tiếp cận
- Về lý luận: Luận án nghiên cứu lý luận dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương
Trang 11chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế, đồng thời, kế thừa những lýthuyết kinh tế tiêu biểu về quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
- Về thực tiễn: Luận án dựa vào thực tiễn quan hệ lợi ích trong phát triển nông
nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh, thành phố để phân tích thực trạng của quan hệlợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ làm cơ sở đề xuất giải pháp
- Kế thừa một số kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp chung, phổ biến trong nghiên cứukhoa học kinh tế chính trị như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học;phương pháp logic kết hợp với lịch sử; phương pháp hệ thống; phương phápphân tích và tổng hợp; phương pháp thu thập thông tin; phương pháp thu thậptài liệu thông qua các kênh thông tin chính thức của địa phương; phương phápkhảo sát; phương pháp dự báo và các kiến nghị, đề xuất Cụ thể như sau:
- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong chương 1: phương pháp logic,phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích và tổng hợp Trong đó:phương pháp hệ thống và logic được sử dụng để sắp xếp, phân loại các côngtrình nghiên cứu đã được công bố theo từng nội dung mà luận án tiếp cậnnhằm đảm bảo tính logic và khoa học; phương pháp phân tích, tổng hợp được
sử dụng để phân tích làm rõ các vấn đề nghiên cứu đã được các nhà khoa họcnghiên cứu làm rõ, đồng thời chỉ ra một số vấn đề chưa được làm rõ cần tiếptục nghiên cứu Đó là căn cứ lựa chọn hướng nghiên cứu của luận án
- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong chương 2: phương pháp hệ thốnghóa, phương pháp logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháptrừu tượng hóa khoa học, cụ thể: Phương pháp hệ thống hóa, phương phápphân tích, phương pháp logic lịch sử được tác giả áp dụng để hệ thống, kháiquát và phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về lợi ích, lợi ích kinh tế, nôngnghiệp hữu cơ, chuỗi giá trị nông nghiệp … đã được các nhà khoa học phântích, nêu ra trong các công trình nghiên cứu đã được công bố;
Trang 12phương pháp phân tích, phương pháp trừu tượng hóa khoa học được tác giả
áp dụng để xây dựng các khái niệm có liên quan trực tiếp tới đối tượng nghiêncứu của luận án, chỉ ra nội dung, các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ lợi íchtrong phát triển NNHC Từ đó làm cơ sở đánh giá thực trạng quan hệ lợi íchtrong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong chương 3: phương pháp thu thậpthông tin; phương pháp khảo sát; phương pháp thống kê; phương pháp phântích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp mô hình hóa Trong đó:phương pháp khảo sát được sử dụng để lấy số liệu sơ cấp cho đề tài Đốitượng khảo sát là các chủ thể tham gia phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địabàn thành phố Hà Nội, cách thức khảo sát là xác định mẫu điều tra theophương pháp chọn mẫu trong đó tập trung vào nhóm đối tượng trực tiếp sảnxuất hàng nông sản hữu cơ, quy mô mẫu khảo sát gồm 100 phiếu điều tra;phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê số liệu về các mô hình nôngnghiệp hữu cơ của thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian nghiên cứu làm
cơ sở đánh giá thực trạng; phương pháp phân tích, phương pháp trừu tượnghóa khoa học được sử dụng để phân tích số liệu đã được hệ thống nhằm tìm rakhuynh hướng giải quyết các quan hệ lợi ích trong sản xuất NNHC; phươngpháp tổng hợp, trừu tượng hóa khoa học được sử dụng để chỉ ra những kếtquả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của quan hệ lợi ích trong phát triểnNNHC trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong chương 4: trong chương này, tácgiả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp dự báo; phươngpháp phân tích; phương pháp đề xuất, kiến nghị, cụ thể như: phương pháp dựbáo được tác giả sử dụng để đưa ra những dự báo về xu hướng phát triểnNNHC và nhu cầu về các sản phẩm NNHC trên phạm vi thế giới và trongphạm vi Việt Nam Từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với phát triểnNNHC; phương pháp phân tích, đề xuất được sử dụng để đưa ra các
Trang 13giải pháp nhằm hài hòa quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong sản xuất NNHCnhằm tạo động lực thúc đẩy sản xuất NNHC phát triển đáp ứng yêu cầu mớicủa cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế; phương pháp kiếnnghị được tác giả sử dụng để đưa ra những kiến nghị đối với các cơ quan hữuquan trong việc ban hành các chính sách, tạo lập cơ chế góp phần hài hòaquan hệ lợi ích giữa các chủ thể nhằm thúc đẩy NNHC phát triển.
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Làm rõ hơn khái niệm quan hệ lợi ích trong phát triển NNHC, xây dựngkhung phân tích về nội dung mối quan hệ giữa các chủ thể và tiêu chí đánhgiá mối quan hệ lợi ích trong phát triển NNHC
- Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển NNHC trên địabàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, chỉ ra được những thành tựu,hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế
- Trên cơ sở những hạn chế, luận án dự báo xu thế phát triển NNHC, đề xuấtmột số quan điểm, giải pháp hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển NNHCtrên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2030
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, hình vẽ, bảng biểu minh họa và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ lợi ích trong phát
triển nông nghiệp hữu cơ
Chương 3: Thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu
cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hài hòa quan hệ lợi ích trong phát
triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến 2030
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU CỦA CÁC TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI
1.1.1 lý thuyết và nghiên cứu về phát triển nông nghiệp hữu cơ
- Nadia Scialabba, Caroline Hattam (2002), Organic Agriculture, Environment
and Food Security (Tạm dịch: Nông nghiệp hữu cơ, môi trường và an ninh lương thực) [73] Trong tác phẩm này tác giả đã xem xét nhiều khía cạnh của
NNHC, đặc biệt tác giả đã nghiên cứu sự đóng góp của NNHC cho sức khỏecon người, tạo lập môi trường sinh thái, nghiên cứu những tác động của NNHCtới thị trường quốc tế và sự ổn định an ninh lương thực của mỗi quốc gia.Thông qua việc phân tích kinh nghiệm thực tế trên thế giới, tác giả đã chỉ rakhuynh hướng và triển vọng cho việc áp dụng rộng rãi hơn trong thực tế.Những vấn đề đặt ra trong tác phẩm này đại diện cho nhiều nền kinh tế đã ápdụng thành công các mô hình canh tác nông nghiệp theo hướng hữu cơ
- William Lockeretz (2007), Organic Farming: An International History (Tạm
dịch: Nông nghiệp hữu cơ: Lịch sử hình thành và phát triển) [78] Thông qua
việc phân tích sự thâm nhập của công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp đầunhững năm 1920 và sự phản đối của một số chủ thể trong sản xuất nôngnghiệp về việc sử dụng các sản phẩm hóa học cho sản xuất nông nghiệp, tácgiả khẳng định: sản xuất NNHC hữu cơ vừa đáp ứng yêu cầu mới của cáchmạng công nghiệp, vừa hướng tới tương lai trên cơ sở hệ giá trị sinh thái bắtnguồn từ truyền thống
- William Lockeretz (2007), Organic Farming: The Ecological System (Tạm
dịch: Canh tác hữu cơ: Hệ thống sinh thái) [79] Cuốn sách khẳng định sinh
thái là nền tảng để duy trì hệ thống thực phẩm bền vững và đa dạng sinh học.Đồng thời tác giả đề cập đến hệ thống vật nuôi, cây trồng như: thức ăn
Trang 15thô, hạt ngũ cốc, hạt cung cấp dầu thực vật và cây trồng đặc sản; ngoài ra tácgiả còn đề cập tới mối quan hệ giữa canh tác hữu cơ với nhu cầu dinh dưỡngcủa đất; và thảm thực vật và quản lý dịch bệnh Tác phẩm còn đề cập đếnnhững nghiên cứu về mối quan hệ giữa thực phẩm hữu cơ và an ninh lươngthực và trình bày kết quả cuộc khảo sát về tương lai của canh tác hữu cơ đểchỉ ra tương lai của ngành nông nghiệp và khu vực nông thôn.
UNEP-UNCTAD (2010), Organic Agriculture: Opportunities for
Promoting Trade, Protecting the Environment and Reducing Poverty (Tạm
dịch: NNHC: cơ hội để thúc đẩy thương mại, bảo vệ môi trường và giảmnghèo), Switzerland [76] Các nhà nghiên cứu đã làm rõ thực tế sản xuất nôngnghiệp tại Kenya, Tanzania, Uganda bao gồm sản xuất nông nghiệp truyềnthống và canh tác hữu cơ Đồng thời các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những cơhội lớn về thị trường tiêu thụ, tiềm năng canh tác nông nghiệp xanh của cácquốc gia Đông Phi và những quốc gia đang phát triển khác trên thế giới nhằmthúc đẩy các cơ hội sản xuất và kinh doanh NNHC Đồng thời đưa ra nhữngkhuyến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách trong khu vực nhà nước,các chủ thể sản xuất tư nhân chuyển đổi cách thức sản xuất truyền thống, sangsản xuất nông nghiệp xanh với những định hướng rất chi tiết như: xây dựngchính sách chung cho phát triển nông nghiệp xanh, hình thành tiêu chuẩn vàcác quy định sản xuất nông nghiệp xanh, chính sách phát triển thị trường tiêuthụ nội địa và hỗ trợ xúc tiến hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài các sản phẩmnông nghiệp xanh, định hướng phát triển sản phẩm nông nghiệp xanh và cácchính sách hỗ trợ khác
FAO (2012), Trends and impacts of foreign investment in developing
country agriculture - Evidence from case studied, (Tạm dịch: Xu hướng và
tác động của đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp các nước đang phát triển Bằng chứng từ nghiên cứu điển hình) [68] Với nghiên cứu này, FAO ước tínhrằng các khoản đầu tư ròng lên tới hơn 80 tỷ USD một năm là cần thiết để sản
Trang 16-xuất lương thực theo kịp nhu cầu tăng lên về dân số khi thu nhập tăng và dân
số thế giới vượt quá 9 tỷ người vào năm 2050 Hiện nay, các nhà đầu tư đangmuốn tận dụng xu hướng quốc tế hóa về giá lương thực để tích cực tìm kiếm
cơ hội đầu tư vào các nước đang phát triển nơi có nguồn tài nguyên thiênnhiên dồi dào nhưng chưa được khai thác hết tiềm năng Tuy nhiên, thị phầncủa các nước này trên thị trường nông nghiệp và thực phẩm thế giới còn rấtkhiêm tốn - dưới 5% tổng FDI Phần lớn các khoản đầu tư này là cho chế biến
và phân phối, do đó không tạo ra được sự phát triển cho ngành nông nghiệp
và chưa tương xứng với tiềm năng Trên cơ sở đó, các chuyên gia nhận định,mặc dù không có giải pháp tối ưu nhất cho các khoản đầu tư “win - win”,nhưng nếu các dự án đầu tư nước ngoài nếu kết hợp tốt thế mạnh của nhà đầu
tư (vốn, quản lý và tiếp thị chuyên môn và công nghệ) với nông dân và địabàn (lao động, đất đai…) sẽ có tỷ lệ thành công cao hơn; ngược lại nếu đầu tưtheo hướng thu mua đất quy mô lớn thường ít mang lại lợi ích tích cực chonông nghiệp và nông thôn, trường hợp này chủ yếu chỉ là mang lại việc làmcho nông dân với những mô hình cần nhiều lao động
Asian Development Bank (2015), Organic Agriculture and Post-2015
Development Goals: Building on the Comparative Advantage of Poor Farmers (Tạm dịch: Nông nghiệp hữu cơ và các mục tiêu phát triển sau năm
2015: Xây dựng trên lợi thế so sánh của những người nông dân nghèo) [63].Đây là công trình nghiên cứu đánh giá khá toàn diện về NNHC của Ngânhàng phát triển châu Á, trong đó bao gồm các chủ đề so sánh và đánh giá vềnăng suất tương đương với các phương thức canh tác thông thường trongNNHC đã cải thiện đáng kể thu nhập và tạo điều kiện tốt hơn cho nông dânthông qua canh tác sạch, không có hóa chất, giảm thiểu và thích ứng với biếnđổi khí hậu, xây dựng hệ thống sản xuất lương thực bền vững Kết quả thựcnghiệm được tổng hợp cho thấy những đóng góp quan trọng của NNHC đốivới việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc
Trang 17(MDGs) và dự kiến sẽ tiếp tục sau năm 2015 Điều này mang lại cho nôngnghiệp sự phát triển toàn diện cho cộng đồng nông thôn, đặc biệt là nông dân
ở các nước đang phát triển
Rafi Grosglik (2015), “Post-national Organic: Globalization and the
Field of Organic Food in Israel” (Tạm dịch: Bài viết về quốc gia hữu cơ:
Toàn cầu hóa và thực phẩm hữu cơ ở Israel) [75] Tác giả chỉ rõ vào nhữngnăm 1980, những người đi đầu trong nghiên cứu phát triển ngành nông nghiệpcủa Israel đã bắt đầu có những hoạt động đầu tiên nghiên cứu về NNHC và đãnhận thấy sản xuất NNHC đã hạn chế những tác động tiêu cực của sản xuấtnông nghiệp truyền thống đến môi trường, đặc biệt là tài nguyên nước và đất.Tác giả đã giới thiệu về một mô hình sản xuất nông nghiệp tiết kiệm tàinguyên, an toàn với con người và bảo vệ môi trường Theo đó, thị trườngNNHC của Israel đã được định hình theo hai cách đối lập: trước tiên xuấtkhẩu rộng rãi các sản phẩm hữu cơ và sự xuất hiện của các siêu thị thực phẩmhữu cơ tại các thị trường cao cấp; thứ hai, chính sách hỗ trợ của nhà nướcđược tăng cường để phát triển nền nông nghiệp hỗ trợ cộng đồng
Beria Leimona, Sacha Amaruzaman, Bustanul Arifin, Fitria Yasmin,Fadhil Hasan, Herdhata Agusta, Peter Sprang, Steven Jaffee and Jaime Frias
(2015), Indonesia‟s „Green Agriculture‟ Strategies and Policies: Closing
the Gap between Aspirations and Application (Tạm dịch: Các chiến lược và
chính sách “Nông nghiệp xanh” của Indonesia: Rút ngắn khoảng cách giữanhững khát vọng và ứng dụng), Published by the World Agroforestry Centre[66] Nghiên cứu của nhóm các tác giả này đã phân tích về tình trạng sản xuấtnông nghiệp xanh ở Indonesia và nêu bật các chính sách, chiến lược, các công
cụ được áp dụng phổ biến và tình hình sản xuất nông nghiệp xanh tạiIndonesia Nhóm tác giả đã xem xét bốn khía cạnh trong việc thiết lập và thựchiện chính sách nông nghiệp xanh gồm: (1) những thách thức đối với nôngnghiệp thương mại; (2) khát vọng nông nghiệp xanh; (3) ứng dụng nôngnghiệp xanh;
Trang 18(4) năng lực nông nghiệp xanh và tiến triển để đáp ứng mục tiêu nông nghiệpxanh Từ việc đánh giá năm sản phẩm nông nghiệp Indonesia gồm bốn sảnphẩm nông nghiệp định hướng xuất khẩu như: cacao, cà phê, dầu cọ, cao su
và gạo - sản phẩm lương thực hàng đầu của đất nước, các tác giả đã đưa ranhững khuyến nghị chính sách đối với Chính phủ trong việc thực hiện mụctiêu sản xuất nông nghiệp xanh
A N Sarkar (2015), Organic farming, sustainable agriculture and green
marketing for fostering green economy (Tạm dịch: Nông nghiệp hữu cơ, nông
nghiệp bền vững và marketing xanh để thúc đẩy nền kinh tế xanh) [61] Tácgiả đã làm rõ sự phát triển của NNHC từ một phong trào nhỏ bé, phi tổ chức
đã trở thành mô hình sản xuất lý tưởng và ngày càng phổ biến trên thế giới.Theo tác giả, hiện nay chúng ta có thể tìm thấy sản phẩm hữu cơ ở hầu hết cáccửa hàng thực phẩm và đó là ngành phát triển nhanh nhất trong lĩnh vực kinhdoanh thực phẩm Các doanh nghiệp lớn trong ngành chế biến thực phẩm vàkinh doanh bán lẻ như: General Mills, Wal-Mart … đều có tham vọng thâmnhập vào thị trường thực phẩm hữu cơ Thông qua bài viết, tác giả đã phântích các lĩnh vực NNHC và nông nghiệp phát triển khác, bao gồm: sự pháttriển và lợi ích của canh tác hữu cơ đối với nông nghiệp truyền thống; sự liênkết NNHC với chuỗi cung ứng thực phẩm xanh và chuỗi giá trị thực phẩm; sựbền vững lâu dài và chất lượng môi trường, dán nhãn sinh thái và tiếp thị xanhcho các sản phẩm NNHC, triển vọng trong tương lai Từ đó, tác giả đưa ranhững khuyến nghị về các chính sách, về đầu tư cho sản xuất NNHC, đăng kýquy trình sản xuất NNHC đối với người sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ
và xây dựng chuỗi giá trị nông sản hữu cơ
John P Reganold & Jonathan M Wachter (2016), Organic agriculture
in the twenty-first century (Tạm dịch: Nông nghiệp hữu cơ trong thế kỷ XXI)
[71] Các tác giả cho rằng: có rất nhiều ý kiến khác nhau về lợi ích củaNNHC, trong đó một số nhà nghiên cứu coi sự phát triển NNHC là một cách
Trang 19tiếp cận không hiệu quả đối với an ninh lương thực và là nguyên nhân làmsuy giảm diện tích canh tác trong tương lai Việc áp dụng sản xuất NNHC ởquy mô quá lớn có thể đe dọa đến các khu rừng, vùng đất ngập nước và đồng
cỏ thế giới Tuy nhiên, bằng biện pháp thống kê, các tác giả đã chỉ rõ số lượngtrang trại hữu cơ, diện tích đất canh tác, số tiền tài trợ nghiên cứu dành chocanh tác hữu cơ và quy mô thị trường cho thực phẩm hữu cơ đã tăng lên đềuđặn; doanh số bán thực phẩm hữu cơ và đồ uống đang tăng nhanh, tăng gầngấp năm lần từ năm 1999 đến 2013 lên 72 tỷ USD; con số này dự kiến vàonăm 2018 sẽ tăng gấp đôi Đồng thời các tác giả cũng chỉ ra các báo cáo quốc
tế gần đây hầu hết đều công nhận NNHC là một hệ thống canh tác đổi mới,cân bằng nhiều mục tiêu bền vững và sẽ có tầm quan trọng ngày càng tăngtrong an ninh hệ sinh thái và thực phẩm toàn cầu Từ đó các tác giả cho rằngnên xem xét hiệu suất của các hệ thống canh tác hữu cơ trong bối cảnh cầnnâng cao tính bền vững trong phát triển nông nghiệp và các thách thức toàncầu về biến đổi khí hậu, môi trường và xem xét một số rào cản đối với việc ápdụng các hệ thống canh tác hữu cơ và các chính sách cần thiết để vượt quachúng
Aziz Nurbekov, Uygun Aksoy, Hafiz Muminjanov and Alisher
Shukurov (2018), Organic Agriculture in Uzbekistan: Status, practices and
prospects (Tạm dịch: NNHC ở Uzbekistan: Hiện trạng, thực tiễn và triển
vọng) [64] Tác giả đã phân tích để làm rõ nông nghiệp đóng vai trò chínhtrong nền kinh tế Uzbekistan, với diện tích khoảng 4,5 triệu ha là đất trồngtrọt, thu hút 44% dân số, tốc độ tăng trưởng hàng năm là 1,7%, đóng góp 18%vào GDP và cung cấp việc làm cho khoảng 15 triệu người Tác giả cũng chỉ
rõ thị trường các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ nội địa của Uzbekistan đang ởgiai đoạn sơ khai Việc thiếu Luật hữu cơ và các tiêu chuẩn sản xuất NNHC,cũng như thiếu các chính sách hỗ trợ đã cản trở sự phát triển của nông nghiệpnói chung trong đó có sự phát triển của NNHC Chính phủ Uzbekistan đã banhành chính sách phát triển NNHC, thúc đẩy các hệ thống sản xuất bền vững
Trang 20thân thiện với môi trường để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh
tế Phát triển NNHC (OA) và thúc đẩy thực hành nông nghiệp tốt (GAP) đượccông nhận là con đường đầy hứa hẹn để cải thiện khả năng cạnh tranh của cácsản phẩm trong nước và phát triển tiềm năng xuất khẩu
Helga Willer and Julia Lernoud (2019), The World of Organic
Agriculture Statistics and Emerging Trends 2019 (Tạm dịch: Thế giới nông
nghiệp hữu cơ - Thống kê và Xu hướng mới nổi, 2019) [69] Báo cáo đã đánhgiá về kết quả và chỉ ra những xu hướng phát triển NNHC toàn cầu đến năm
2019 để cho thấy sự tăng trưởng liên tục trong sản xuất hữu cơ và bán hànghữu cơ Thống kê cho thấy hiện nay trên thế giới có tổng cộng 69,8 triệu hađất sản xuất NNHC, trong đó Australia có diện tích đất NNHC lớn nhất (35,6triệu ha), tiếp theo là Argentina (3,4 triệu ha) và Trung Quốc (3 triệu ha).Châu Âu cũng đang cho thấy một xu hướng tích cực, với 14,6 triệu ha đấthiện đang được dành riêng cho hữu cơ Thị trường toàn cầu cho thực phẩmhữu cơ đạt 97 tỷ USD trong năm 2017 (khoảng 90 tỷ euro), trong đó Mỹ là thịtrường hàng đầu với 40 tỷ euro giá trị, tiếp theo là Đức (10 tỷ euro), Pháp (7,9
tỷ euro) và Trung Quốc (7,6 tỷ euro) Bên cạnh đó, báo cáo cũng cung cấpthông tin về thị trường thực phẩm hữu cơ toàn cầu, thông tin về các tiêu chuẩn
và quy định, chính sách hữu cơ và các xu hướng hiện tại và mới nổi trongNNHC ở các nước Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Điều đó cho thấy sự đónggóp của NNHC vào các mục tiêu Phát triển Bền vững và NNHC là xu hướngcủa sản xuất nông nghiệp trong tương lai
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về lợi ích, quan hệ lợi ích trong
phát triển nền kinh tế nói chung và trong phát triển kinh tế nông nghiệp hữu cơ nói riêng
B.B.Radaev (1971), Lợi ích kinh tế trong chủ nghĩa xã hội [65] Trong
tác phẩm này, tác giả đã phân tích khá rõ bản chất của lợi ích kinh tế, nhậndiện hệ thống lợi ích kinh tế đặc thù của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa và đi
Trang 21sâu phân tích vai trò của lợi ích kinh tế như một động lực phát triển xã hộitrong điều kiện chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) Ông cũngkhẳng định mối quan hệ biện chứng của lợi ích kinh tế với lợi ích tinh thần,lợi ích kinh tế riêng và lợi ích chung của xã hội, từ đó tác giả chỉ ra rằng nếuđiều tiết hợp lý hệ thống các mối quan hệ lợi ích kinh tế này sẽ tạo động lựcphát triển của xã hội.
Laprinmenco (1978), Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Mác
-Lênin [72] Trong tác phẩm này, tác giả đã đưa ra quan niệm về lợi ích mang
tính triết học “là mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hộicủa chủ thể” Về bản chất của lợi ích, tác giả cho rằng nghiên cứu quá trình tựkhẳng định bản thân trong đời sống xã hội sẽ hiểu được bản chất và nội dunglợi ích khách quan của chủ thể, bởi vì hoạt động tự khẳng định bản thân trong
xã hội là nhân tố quan trọng nhất của những hoạt động có mục đích của conngười và nội dung của lợi ích kinh tế chính là phương thức tự khẳng định xãhội của nó, thể hiện trước hết ở phương thức thỏa mãn những nhu cầu vật chấtcủa chủ thể Tác giả cũng phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích để soisáng quá trình hình thành quan hệ lợi ích trong xã hội Tác giả cho rằng: lợiích kinh tế là một hiện tượng có thực, là biểu hiện của các mối quan hệ kinh tếkhách quan Tính khách quan của lợi ích thể hiện ở chỗ, nó xuất hiện bênngoài chủ thể, không phụ thuộc vào nhận thức của chủ thể, lợi ích cũng mangtính lịch sử cụ thể và tính giai cấp
Claire Kremen, Albie Miles (2012), Ecosystem Services in Biologically
Diversified versus Conventional Farming Systems: Benefits, Externalities, and Trade-Offs (Tạm dịch: Các dịch vụ hệ sinh thái trong các hệ thống canh tác đa
dạng sinh học so với các hệ thống canh tác thông thường: Lợi ích, Ngoại tác và
Sự đánh đổi) [67] Các tác giả đã nghiên cứu, so sánh các hệ thống canh tác đadạng sinh học với các hệ thống canh tác thông thường khi sử dụng hệ thống cáctiêu chí về quản lý và hệ sinh thái như: đa dạng sinh học; chất lượng đất; quản
Trang 22lý dinh dưỡng; Sức chứa nước; kiểm soát cỏ dại, bệnh tật và sâu bệnh; dịch vụthụ phấn; cô lập carbon; hiệu quả năng lượng và giảm tiềm năng nóng lên; khảnăng chống chịu và chống chịu với biến đổi khí hậu; và năng suất cây trồng.Kết quả cho thấy, so với các hệ thống canh tác thông thường, các hệ thốngcanh tác đa dạng hỗ trợ đa dạng sinh học, chất lượng đất, cô lập carbon và khảnăng giữ nước trong đất bề mặt, hiệu quả sử dụng năng lượng và khả năngchống chịu với biến đổi khí hậu Thông qua phân tích và so sánh các tác giả đãchỉ rõ việc ứng dụng đa dạng sinh học mang lại nhiều lợi ích hơn cho ngườinông dân, sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn, kiểm soát tốt hơn cỏdại, bệnh tật và sâu bệnh, năng suất có giảm không đáng kể so với canh tácthông thường nhưng lại tạo ra ít tác hại về môi trường và xã hội hơn.
1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG NƯỚC
1.2.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp
hữu cơ
Nguyễn Văn Mấn, Trịnh Văn Thịnh (2002), Nông nghiệp bền vững - cơ
sở và ứng dụng [30] Nhóm tác giả khẳng định xây dựng nền nông nghiệp bền
vững là mục tiêu và xu hướng của mỗi quốc gia cũng như của toàn cầu hiệnnay Mục đích của phát triển nông nghiệp bền vững trước hết là kiến tạo mộtnền nông nghiệp bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khảnăng thỏa mãn những nhu cầu của con người đồng thời không làm đất đai bịthoái hóa, bạc màu, không gây ô nhiễm môi trường và có khả năng thích ứngtốt với biến đổi khí hậu Không những thế, nông nghiệp bền vững còn hướngtới đảm bảo công bằng xã hội, giữ được các truyền thống sản xuất có ý nghĩavăn hóa của dân tộc Bằng việc phân tích và lập luận, các tác giả đã đưa rakhái niệm về nông nghiệp bền vững, theo đó “nông nghiệp bền vững là hệthống trong đó con người tồn tại và sử dụng những nguồn năng lượng khôngđộc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên phongphú của thiên nhiên mà không liên tục phá hoại những nguồn tài nguyên đó
Trang 23Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tựnhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái” Ngoài
ra, tác giả còn đưa ra những nguyên lý của nông nghiệp bền vững
Trần Thị Lan Hương (2008), “Cách mạng xanh Châu Phi và những
vấn đề đ t ra trong phát triển nông nghiệp ở Châu Phi” [24] Trong bài viết
này, tác giả đã đề cấp tới hai giai đoạn của Cách mạng Xanh trong nôngnghiệp được thực hiện tại châu Phi Giai đoạn đầu được thực hiện từ nhữngnăm 1960 đến 2005 và mang lại những tác động tích cực cho các nước châuPhi Giai đoạn hai được thực hiện từ tháng 9/2006 tới nay, thông qua QuỹRockerfeller và Bill & Melinda Gates phát động Liên minh vì cuộc Cách mạngXanh ở châu Phi (AGRA) với 2 chương trình trọng điểm là chương trình pháttriển hạt giống cho châu Phi (PASS) và chương trình cải tạo độ màu mỡ đất đai
ở châu Phi (Chương trình hợp tác quản lý độ phì nhiêu của đất - ISFM) nhằmtăng sản lượng cây trồng, quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên đất nông nghiệp,tạo thêm độ phì nhiêu cho đất đai và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai cho sảnxuất nông nghiệp trước thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu
Vũ Văn Nâm (2009), “Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”
[31] Tác giả đã trình bày vai trò của phát triển nông nghiệp bền vững, đặcbiệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vànâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân nông thôn, đồng thời nêu nhữngkinh nghiệm xây dựng và phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững củamột số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triểnnông nghiệp bền vững ở Việt Nam Bên cạnh đó, chỉ ra những mặt đã đạtđược, những mặt còn hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó
Từ đó, đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển nền nôngnghiệp bền vững ở Việt Nam trong những năm tiếp theo
Nguyễn Quốc Hùng (2011), An ninh lương thực và phát triển nền nông
nghiệp hữu cơ ở Việt Nam [22] Thông qua bài viết, tác giả phân tích vai trò
Trang 24quan trọng của an ninh lương thực, khẳng định những tiến bộ nổi bật trongsản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa gạo, đồng thời chỉ ra những tháchthức đối với an ninh lương thực của nước ta trong điều kiện mới Trên cơ sở
đó, tác giả cho rằng cần tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phụcnhững hạn chế, chú ý phát triển NNHC nhằm đảm bảo an ninh lương thực vàgiữ vững thế cạnh tranh trong tương lai của ngành nông nghiệp Việt Nam
Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường (2011), “Hướng
tới nền kinh tế xanh, lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo”
(tài liệu dịch từ báo cáo của UNEP) [57] Báo cáo của UNEP nêu rõ: Để đạtđược mục tiêu chính sách kinh tế xanh và bảo vệ môi trường cần phải chuyểnđổi phương thức phát triển kinh tế, hướng tới phát triển “nền kinh tế xanh” Xét
về dài hạn đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển chung của hệthống kinh tế toàn cầu Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia phát triển sau, do vậy
để rút ngắn khoảng cách phát triển và tiếp cận với một nền kinh tế hiện đại, vănminh và phát triển bền vững cần hướng tới một “Nền kinh tế xanh” Để tìmđược mô hình phát triển và cơ cấu ngành nghề phù hợp với “Nền kinh tế xanh”trong điều kiện hiện nay của Việt Nam cần phải một mặt tiếp tục nghiên cứu,hoàn thiện Mặt khác cần học tập cách thức tiến hành của các quốc gia đã thựchiện trước đó đạt được kết quả tốt để từ đó có lộ trình và bước đi phù hợp
Nguyễn Thế Đặng (2012), Giáo trình nông nghiệp hữu cơ [10] Trong
cuốn sách này, tác giả và các cộng sự đã chỉ rõ hình thức sản xuất NNHC mặc
dù mới xuất hiện, nhưng đến nay đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu tìmhiểu và đã có những nghiên cứu và tổng kết đưa ra cả ở phạm vi trong nước
và quốc tế Từ những kết quả nghiên cứu đó, một chuyên ngành khoa học mới
đã ra đời, đó là nghiên cứu về NNHC và đã được đưa vào để giảng dạy trongcác trường đại học chuyên ngành nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam.Thông qua giáo trình, tác giả và các cộng sự cung cấp cho người đọc những
Trang 25kiến thức cơ bản nhất về NNHC và kỹ thuật trồng trọt trong NNHC để tiếpcận và thực hiện việc chuyển giao cho sản xuất.
Phạm Bảo Dương (2013), Phát triển sản xuất rau hữu cơ một hướng đi
mới của nông nghiệp Việt Nam [7] Trong công trình nghiên cứu của mình,
tác giả trình bày cơ sở lý luận về sản xuất rau hữu cơ: khái niệm và các yếu tốảnh hưởng đến phát triển rau hữu cơ để từ đó đi đến khẳng định sản xuất hữu
cơ bền vững có vai trò tạo sản lượng chất lượng cao và bền vững, cải thiện vàbảo vệ môi trường ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu những kinh nghiệm trênthế giới về sản xuất hữu cơ, những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nàytại, các nước châu Âu, Mỹ La tinh để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
về sản xuất hữu cơ nói chung, sản xuất rau hữu cơ nói riêng là mô hình sảnxuất hữu cơ đem lại hiệu quả kinh tế và ngày càng được nhiều nước trên thếgiới hướng tới Tác giả cũng đưa ra khuyến nghị về việc Nhà nước cần sớmcông nhận các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ về mặt pháp lý thông qua hệthống các văn bản quy phạm pháp luật và trong các chính sách phát triển, xâydựng hệ thống tiêu chuẩn thống nhất trên phạm vi cả nước phù hợp với tiêuchuẩn quốc tế và cấp giấy chứng nhận cho các sản phẩm nông nghiệp hữu cơnhằm tạo điều kiện phát triển bền vững nông nghiệp; thực hiện quy hoạch cácvùng sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ nói chung và rau hữu cơ nóiriêng để từ đó có chính sách đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ cho sản xuất rauhữu cơ; tăng cường công tác khuyến nông và hỗ trợ kỹ thuật cho người nôngdân tiếp cận với các phương pháp sản xuất rau hữu cơ tiên tiến trên thế giới;hoàn thiện các loại hình tổ chức sản xuất rau hữu cơ
Trần Ngọc Ngoạn (2013), “Tác động kinh tế - xã hội và môi trường của
sự phát triển nông nghiệp xanh” [35] Đây là công trình đề tài nghiên cứu
khoa học của nhóm các tác giả do tiến sĩ Trần Ngọc Ngoạn là chủ nhiệm đềtài Trong đề tài nghiên cứu này, nhóm tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận
về phát triển nông nghiệp xanh và bước đầu làm rõ cách tiếp cận trong đánh
Trang 26giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của phát triển nông nghiệp xanh.Các tác giả cũng nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc pháttriển nông nghiệp xanh đã đạt được những kết quả tích cực để rút ra bài họckinh nghiệm cho phát triển nông nghiệp xanh của Việt Nam Trên cơ sở đánhgiá kết quả của phát triển nông nghiệp nước ta và những tác động về kinh tế -
xã hội và môi trường, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số quan điểm và giảipháp nhằm phát triển nông nghiệp xanh ở nước ta hiện nay, đưa ra những đềxuất để xây dựng các chỉ số giám sát tăng trưởng xanh
Nguyễn Hùng Cường, Lê Thái Bạt, Bùi Sĩ Nam, Nguyễn Ngọc Tân
(2013), “Tiếp cận kinh tế xanh trong phát triển kinh tế - xã hội và tăng
trưởng xanh trong quy hoạch vùng nông nghiệp chè an toàn ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020” [5] Đây là bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc
gia Tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng xanh Trong bài viết này, các tácgiả đã nêu bật tính cấp thiết của phát triển “kinh tế xanh”, “tăng trưởng xanh”đối với nền kinh tế nước ta nói chung và đối với tỉnh Thái Nguyên nói riêng.Đối với Thái Nguyên, các tác giả đi sâu vào nghiên cứu tăng trưởng xanhtrong quy hoạch vùng nông nghiệp chè an toàn của Tỉnh và cho rằng đây làmột nhiệm vụ cấp bách của ngành nông nghiệp nói chung và ngành sản xuấtchè của tỉnh nói riêng Việc áp dụng các quy trình sản xuất tiến bộ như:Global GAP, VietGAP, GMP, HACCP trong quá trình sản xuất kinh doanhmặt hàng chè an toàn, sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững, giảm thiểu
ô nhiễm môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhất là tài nguyên đất
Nguyễn Trọng Hoài (2014), “Phát triển nông nghiệp theo hướng tăng
trưởng xanh: Tiếp cận hành vi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Đồng bằng sông Cửu Long” [19] Tác giả đã nghiên cứu hành vi của nông dân tại hai tỉnh
An Giang và Bến Tre khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nhận thức về ảnhhưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới vấn đề môi trường sống, các chính sáchcủa chính quyền địa phương tác động tới hành vi của người nông dân khi sử
Trang 27dụng thuốc bảo vệ thực vật Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt lớngiữa định hướng và thực tế sản xuất nông nghiệp hướng đến tăng trưởngxanh Chính quyền các địa phương đã nhận thức tầm quan trọng của tăngtrưởng xanh trong nông nghiệp và ban hành những chính sách hỗ trợ nhưtruyền thông giáo dục và các biện pháp hỗ trợ trực tiếp nhằm thúc đẩy, điềuchỉnh hành vi của người nông dân trong quá trình sản xuất và chế biến nôngsản hướng đến tăng trưởng xanh Tuy nhiên, người nông dân vẫn gia tănglượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất do thói quen, tư duy và trình độnhận thức của người nông dân; do đó quản lý dịch hại tổng hợp - IPM chưathực sự phổ biến và chưa phát triển đồng bộ Vì vậy, tình hình suy giảm chấtlượng môi trường tại Đồng bằng sông Cửu Long đang có chiều hướng giatăng, người nông dân đang trực tiếp đối mặt với những hậu quả tiêu cực từviệc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy cách và mục tiêu tăngtrưởng xanh trong nông nghiệp ngày càng xa vời.
Ngô Thị Lan Hương (2016), Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát
triển kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững từ năm 2001 đến năm 2013 [23] Cuốn sách khẳng định vai trò của nông nghiệp là nền tảng có
tính chiến lược trong thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninhlương thực quốc gia Những năm gần đây, chương trình phát triển nôngnghiệp, nông thôn đã được Đảng bộ Thành phố chú trọng, định hướng pháttriển nông nghiệp bền vững đã được khởi động, khuyến khích phát triển nhằmxây dựng một nền nông nghiệp mới, tạo bộ mặt nông thôn mới Tác giả đãphân tích, đánh giá những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển nôngnghiệp theo hướng bền vững của Đảng bộ Thành phố Hà Nội và bước đầu đúckết một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo phát triển nông nghiệp theohướng bền vững của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, đó là: Phải nhận thức sâusắc, đầy đủ hơn vị trí, vai trò của nông nghiệp bền vững trong bối cảnh mới;coi trọng công tác chỉ đạo chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng
Trang 28sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu nhằm tăng cường hơn nữa chấtlượng sản xuất nông nghiệp; công tác chỉ đạo bảo đảm an toàn thực phẩmphải được đặt lên hàng đầu; coi trọng việc gắn kết chặt chẽ vấn đề tăng trưởngkinh tế nông nghiệp với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái.
Khuất Đăng Long (2016), “Về phát triển nông nghiệp xanh, lợi ích,
nhận thức và lựa chọn” [28] Tác giả bài báo dựa trên những tài liệu đã công
bố để chứng minh lợi ích của nông nghiệp xanh cũng như các mối liên hệgiữa phát triển thực tiễn nông nghiệp xanh với những vấn đề kinh tế, sinhthái, môi trường và dân sinh Thông qua việc phân tích tác giả khẳng địnhnông nghiệp xanh chỉ thành công khi nó không chỉ đảm bảo được an ninhlương thực, mà còn tạo ra được một hệ sinh thái lành mạnh và hài hòa vớithiên nhiên Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị về chính sách pháttriển thực hành nông nghiệp xanh của Chính phủ, cụ thể như: không trợ giá chonhững hạng mục gây ô nhiễm môi trường, làm tăng lượng khí thải; Áp đặtthuế thích hợp cho việc sử dụng thuốc hóa học trừ cỏ, trừ sâu và các nhiên liệuhóa thạch khác; Thiết lập hình phạt do việc chất thải khí và chất thải ô nhiễmnước trong thực hành canh tác nông nghiệp độc hại; Ưu tiên thu mua hàng hóaqua việc “sản xuất xanh”; Tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, cung cấp thôngtin và trợ giúp kỹ thuật, dịch vụ kiểm tra hàng hóa, bảo tồn đa dạng sinh học,phòng chống lũ lụt và khô hạn, bể chứa khí và carbon thải trong nhà kính;
Nguyễn Đăng Nghĩa, Nguyễn Thị Hồng Minh, Phạm Phương Thảo
(2016), Xu hướng phát triển nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp sạch tại
Việt Nam [34] Trong báo cáo này nhóm tác giả đã khái quát về sản xuất
NNHC trên thế giới và tại Việt Nam được thể hiện qua mô hình phân tíchSWOT, đồng thời dự báo tốc độ phát triển NNHC tại Việt Nam trong thờigian tới NNHC là một phương pháp sản xuất mà quản lý trang trại và môitrường trong trang trại như một hệ thống đơn lẻ, được sử dụng dựa trên kiếnthức khoa học và truyền thống để làm tăng sức mạnh cho hệ sinh thái nông
Trang 29nghiệp Trong đó các trang trại hữu cơ chú trọng vào việc sử dụng các nguồntài nguyên thiên nhiên trong vùng và việc quản lý hệ sinh thái hơn là nhữngđầu tư từ bên ngoài như phân hóa học và các hoá chất nông nghiệp Nhóm tácgiả đã tiến hành phân tích xu hướng phát triển NNHC trên cơ sở số liệu sángchế quốc tế với các nội dung như: Tình hình nộp đơn đăng ký sáng chế theothời gian, theo quốc gia, theo bảng phân loại sáng chế quốc tế IPC để chứngminh cho xu hướng phát triển mạnh mẽ của NNHC trong thời gian gần đây.
Huỳnh Trường Vĩnh (2018), “Hậu Giang: Ứng dụng công nghệ cao
trong sản xuất nông nghiệp” [60] Tác giả đã chỉ ra sơ lược những kết quả đã
đạt được trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tác giả cũng chỉ ra một
số hạn chế như: hệ thống cơ chế chính sách cho nông nghiệp công nghệ caochưa được ban hành đầy đủ và chưa có hướng dẫn cụ thể; nguồn nhân lực cótay nghề và trình độ chuyên môn cao còn thiếu; Trình độ dân trí ở một số nơitrong tỉnh còn thấp, do đó việc đưa các tiến bộ KH&CN tới nông thôn, vùngsâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn; số đơn vị đủ điều kiện ứng dụng, chuyểngiao các thành tựu KH&CN trong tỉnh còn ít, lại chưa được trang bị đầy đủ về
cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu thực tế nên hiệu quả hoạt độngchưa cao
Phạm S (2019), “Nông nghiệp hữu cơ: xu hướng tất yếu tham gia
chuỗi nông sản toàn cầu” [36] Cuốn sách đã hệ thống lại lịch sử phát triển
của nền NNHC trên thế giới, đưa ra một số quy định và chứng nhận NNHCphổ biến nhất Bên cạnh đó, cuốn sách cũng phân tích thực trạng phát triểnNNHC ở Việt Nam nói chung, đi sâu vào NNHC ở Lâm Đồng nói riêng.Trong đó, hạn chế lớn nhất chính là diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơcòn quá thấp, chỉ chiếm chưa đến 5% diện tích canh tác của cả ngành nôngnghiệp Trên cơ sở đó, cuốn sách đề xuất một số giải pháp phát triển NNHC ởViệt Nam
1.2.2 Những công trình nghiên cứu về lợi ích, quan hệ lợi ích trong
phát triển nền kinh tế nói chung và trong phát triển kinh tế nông nghiệp hữu cơ nói riêng
Trang 30Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn, Lê Xuân Tùng, Nguyễn
Duy Bảy (1982), Bàn về các lợi ích kinh tế [49] Các tác giả tập trung phân
tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế để từ đó đưa ra các kháiniệm lợi ích kinh tế, lợi ích kinh tế của xã hội, đồng thời khẳng định tínhkhách quan của lợi ích kinh tế, chỉ rõ vai trò của lợi ích kinh tế đối với hoạtđộng vật chất của con người Trên cơ sở phân tích lý luận, các tác giả đưa ranhững quan điểm mang tính phương pháp để hướng tới giải quyết hài hòa lợiích kinh tế giữa cá nhân, tập thể và xã hội
Chu Văn Cấp (1984), Lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam) [2] Tác giả đã phân tích về các lợi ích kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên CNXH Theo tác giả, trong thời kỳ quá độ lên CNXH
do tồn tại nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế đan xen lẫnnhau Vì vậy mỗi thành phần kinh tế sẽ theo đuổi một lợi ích riêng Trên cơ
sở phân tích, tác giả đã đưa ra nhiều hình thức để kết hợp các lợi ích kinh tếtrong thời kỳ quá độ, đông thời khẳng định, chỉ có sự kết hợp hài hòa các lợiích kinh tế mới tạo được động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Hoàng Văn Luận (2000), Lợi ích động lực của sự phát triển bền vững [29] Tác giả đã nghiên cứu, khảo sát nhu cầu và những hoạt động của con
người nhằm thỏa mãn nhu cầu làm cơ sở để nghiên cứu về vấn đề lợi ích.Theo tác giả, lợi ích là một khái niệm mang tính lịch sử - xã hội dùng để chỉphần giá trị của nhu cầu được thỏa mãn thông qua trao đổi hoạt động với cácchủ thể nhu cầu khác trong những điều kiện lịch sử nhất định Hoạt động đểthỏa mãn nhu cầu của con người gồm có: Hoạt động tạo ra của cải vật chất cụthể và hoạt động trao đổi các của cải vật chất để đáp ứng tốt nhất và đầy đủnhất nhu cầu của mình Lợi ích không những chỉ xuất hiện trong mối quan hệgiữa các chủ thể có cùng nhu cầu giống nhau và có chung đối tượng thỏa mãnnhu cầu Đây là nội dung cơ bản nhất để tiến hành khảo sát về lợi ích Tác giả
Trang 31cũng đưa ra nhóm giải pháp để giải quyết hài hòa lợi ích, để lợi ích thực sự làđộng lực của sự phát triển bền vững.
Đặng Quang Định (2010), Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp
công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [11] Tác giả luận án đã làm rõ thực chất và những nhân tố
cơ bản tác động đến của sự thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân,nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Namhiện nay Từ việc phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề nảy sinh trong quátrình thực hiện sự thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân
và tầng lớp trí thức từ cơ sở kinh tế và sự bất cập của hệ thống chính sáchkinh tế - xã hội và trình độ nhận thức của các giai cấp, tầng lớp tác giả đã chỉ
rõ một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường sự thống nhất lợiích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điềukiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Ngô Tuấn Nghĩa (2011), Bảo đảm quan hệ lợi ích hài hòa về sở hữu trí
tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam [33] Nội dung cuốn sách
phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của quan hệ lợi ích trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực và thếgiới về cùng lĩnh vực Tác giả phân tích biểu hiện của quan hệ lợi ích trên lĩnhvực sở hữu trí tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam kể từ khichuyển đổi cơ chế kinh tế và thực hiện mở cửa hội nhập (1986 đến nay).Trong đó chỉ ra những mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong quan hệ lợi ích trênlĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện nay, tìm hiểu nguyên nhân củachúng nhằm tạo tiền đề cho việc đưa ra những giải pháp tương ứng Tác giả
đã đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích
về sở hữu trí tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Đặng Quang Định (2012), Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã
hội [12] Tác giả trình bày các quan niệm về lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích
nhóm sự hình thành và vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội Quan
Trang 32điểm của Đảng trong việc giải quyết vấn đề lợi ích tạo động lực cho sự pháttriển kinh tế - xã hội, trong quan hệ với các nước trên thế giới.
Trần Thị Lan (2012), Quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông
dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội [26] Theo
tác giả, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, phản ánh phần giátrị để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, được quy định bởi các quan hệ kinh tếnhất định và được hiện thực hóa bằng các khoản thu nhập cũng như quyền sửdụng các nguồn lực, yếu tố vật chất cần thiết để duy trì hoạt động và khôngngừng tái tạo ra thu nhập bảo đảm cho chủ thể kinh tế tồn tại, hoạt động vàphát triển Tác giả cũng đã luận giải các vấn đề lý luận về lợi ích kinh tế, phântích, đánh giá thực trạng giải quyết các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa cácchủ thể kinh tế, nảy sinh trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khucông nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội Tác giả cũng đã đề ra các giải pháp
cơ bản giải quyết các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, nảysinh trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu
đô thị mới ở Hà Nội trong tình hình hiện nay
Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình
đô thị hóa ở nước ta hiện nay [15] Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về quá trình
đô thị hóa cùng với đó là hiện tượng thu hẹp diện tích đất để sản xuất nôngnghiệp dẫn đến việc người nông dân không còn hoặc còn rất ít đất để canhtác Khi bị mất đất, người nông dân gặp nhiều khó khăn trong việc tìm nghề
để mưu sinh vì họ đã quen với sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó, do trình độvăn hóa còn thấp và sự thay đổi cách sống, lề thói, phong tục tập quán, kéotheo nhiều hệ lụy không đáng có Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng giảiquyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa, tác giả cho người đọcthấy được những kết quả, thành tựu về giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế, đồngthời cũng thấy được những hạn chế, khó khăn trong việc giải quyết quan hệlợi ích kinh tế phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội Tác giả cũng đưa
Trang 33ra một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích kinh tếgiữa các chủ thể trong quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh ở Hà Nội.
Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam (2013), Hội thảo quốc
gia Nông nghiệp hữu cơ - Thực trạng và định hướng phát triển [58] Trong
cuốn Kỷ yếu này, các nhà khoa học tập trung luận giải sự cần thiết phải pháttriển nền NNHC để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác, cácnhà khoa học cũng đi sâu vào thực trạng phát triển NNHC ở Việt Nam tronggiai đoạn hiện tại Đồng thời cũng chỉ ra mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước
và các chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh NNHC, chưa thực sự được quantâm đúng mức, còn phát triển tự phát, quy mô nhỏ Do đó, các mối quan hệgiữa các chủ thể tham gia vào sản xuất kinh doanh nông nghiệp hữu cơ vẫncòn lỏng lẻo
Nguyễn Thị Minh Loan (2017), Lợi ích kinh tế của người lao động
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội [27] Tác giả đã chỉ ra cơ cấu lợi ích kinh tế bao gồm: Lợi ích kinh tế trực
tiếp (Tiền công, tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi xã hội, bảo hiểm); Lợi íchkinh tế gián tiếp (Điều kiện môi trường làm việc; đào tạo nâng cao tay nghề;đảm bảo đời sống tinh thần) Tác giả cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng,đánh giá thực trạng của việc thực hiện lợi ích kinh tế của người lao độngtrong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố HàNội giai đoạn 2000-2014 Tác giả cũng đã đề xuất các nhóm giải pháp cơbản nhằm thực hiện tốt lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó tập trung 3 nhóm giải pháp, trong
đó nhấn mạnh vào giải pháp tăng cường sự kết hợp giữa các cơ quan chứcnăng trong giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế của người lao động và giải phápnâng cao ý thức chấp hành luật pháp Việt Nam của các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài
Trang 34Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (2017), Kỷ yếu diễn đàn quốc
gia: Phát triển Nông nghiệp hữu cơ lần thứ nhất, Chủ đề: Giải pháp phát triển
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam [17] Cuốn kỷ yếu đã vẽ ra một bức tranh tổng
quan về nền nông nghiệp hữu cơ thế giới Việt Nam Trong đó, có đề cập đếnnhững lợi ích tương quan khi phát triển diện tích sản xuất NNHC với doanhthu; đề cập đến nhu cầu và niềm tin của người tiêu dùng đối với hàng nôngsản hữu cơ Bên cạnh đó, cuốn kỷ yếu cũng chỉ ra nút thắt trong sản xuấtNNHC ở Việt Nam chính là quy mô diện tích và chưa có hành lang pháp lýchính thức cho NNHC phát triển, cần nâng cao hơn nữa vai trò của Nhà nướctrong phát triển nông nghiệp hữu cơ
Trần Hoàng Hiểu (2019), Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và
doanh nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long [18].
Tác giả đã bàn đến những vấn đề chung về lợi ích và quan hệ lợi ích nói chung,phân tích quan hệ lợi ích về kinh tế ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Từ đó,tác giả đưa ra một giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa nôngdân và doanh nghiệp tương đối tốt là nâng cao hiệu quả kinh tế cho các bêntham gia liên kết trong cánh đồng lớn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trương Đình Chiến, Doãn Hoàng Minh, Nguyễn Đình Toàn,…(2020),
Hội thảo Khoa học quốc gia về thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội [3].
Cuốn kỷ yếu bàn đến những hạn chế của thành phố Hà Nội trong phát triểnNNHC Trong đó, tập trung phân tích những hạn chế của doanh nghiệp và hộnông dân và những khó khăn trong chính sách phát triển Qua đó, bàn đếnmối quan hệ lợi ích ba nhà: nhà nông - nhà doanh nghiệp và nhà nước và nhấnmạnh cần phải có sự liên kết giữa ba nhà để thúc đẩy NNHC phát triển
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Trang 351.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề
tài luận án
Một là, các công trình nghiên cứu về cơ bản đã xây dựng được hệ thống
khái niệm, phạm trù như: lợi ích kinh tế, vai trò của lợi ích kinh tế đối với sảnxuất, tính khách quan của lợi ích kinh tế; nông nghiệp hữu cơ, vai trò, đặcđiểm, nội dung của nông nghiệp hữu cơ đối với nước ta trong điều kiện tái cơcấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triểnbền vững đáp ứng những yêu cầu mới của biến đổi khí hậu và hội nhập kinh
tế quốc tế
Hai là, nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu đánh giá thực trạng của
sản xuất NNHC để từ đó chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong phát triểnnông nghiệp hữu cơ trên phạm vi của một tỉnh, thành phố hoặc phạm vi cảnước Đồng thời các nghiên cứu cũng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọngcủa hệ thống cơ chế chính sách đối với giải quyết các quan hệ lợi ích nóichung và quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ nói riêng
Ba là, một số công trình nghiên cứu đã khái quát các mô hình phát triển
nông nghiệp hữu cơ của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến như Israel,Nhật Bản, Mỹ, châu Âu và các địa phương trong phạm vi cả nước đã cónhững kết quả tích cực trong phát triển nông nghiệp hữu cơ để từ đó chỉ ranhững thành công, thất bại và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nóichung và các địa phương nói riêng
Bốn là, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài phần lớn
là các báo cáo đánh giá về thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệphữu cơ của các tổ chức như UNEP, OECD ở các khu vực châu Phi, châu Á
và một số nước trên thế giới Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khác dựatrên các mô hình tăng trưởng kinh tế và các lý thuyết kinh tế hiện đại để đánhgiá về một nền kinh tế cụ thể của một quốc gia trong phát triển nông nghiệp
Trang 36theo hướng nông nghiệp hữu cơ Từ đó đưa ra các khuyến nghị về cơ chế,chính sách của chính phủ cho phát triển nông nghiệp Xanh, nông nghiệp hữu
cơ Đây là những khuyến nghị có giá trị thực tiễn cao có thể tham khảo choviệc phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Như vậy, qua các nghiên cứu cho thấy, vấn đề quan hệ lợi ích trongphát triển nông nghiệp hữu cơ để hướng tới phát triển nền nông nghiệp hiệnđại, hiệu quả, bền vững thích ứng tốt với biến đổi khí hậu và quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là khoảng trống chưa được nghiên cứu luậngiải cả về mặt lý luận và thực tiễn Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứunào về quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành
phố Hà Nội Vì vậy, đề tài: “Quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp
hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội” mà nghiên cứu sinh lựa chọn là hoàn
toàn và không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố
cả trong nước và quốc tế
1.3.2 Những khoảng trống nghiên cứu đặt ra
Từ những vấn đề đã được nghiên cứu, luận giải thì việc nghiên cứu vềquan hệ lợi ích trong sản xuất NNHC góp phần lấp đầy một số “khoảngtrống” mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa đề đến hoặc đề cập đếnchưa thật cụ thể và có hệ thống Cụ thể như sau:
- Luận giải rõ hơn sự cần thiết của vấn đề quan hệ lợi ích trong pháttriển NNHC trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Làm rõ hơn các vấn đề lý luận về quan hệ lợi ích trong phát triển NNHC trênđịa bàn thành phố Hà Nội như: khái niệm về quan hệ lợi ích trong phát triểnnông nghiệp hữu cơ; đặc điểm của quan hệ lợi ích trong phát triển nôngnghiệp hữu cơ; vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích trongphát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn của địa phương cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương
Trang 37- Làm rõ hơn những bài học kinh nghiệm của các địa phương trong và ngoàinước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng với thành phố Hà Nộitrong việc giải quyết các quan hệ lợi ích cho phát triển nông nghiệp hữu cơ
mà thành phố Hà Nội có thể học tập
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết quan hệ lợi ích trong phát triểnNNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, chỉ ra đượcnhững thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của quan hệ lợi ích trongphát triển NNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội
- Dự báo về xu hướng vận động và những cơ hội, thách thức về pháttriển NNHC thời gian tới Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm, phương hướng,giải pháp và kiến nghị đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triểnNNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2030
Trang 382.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp hữu cơ và phát triển nông nghiệp hữu cơ
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NNHC
Theo nghĩa chung nhất, NNHC là hệ thống sản xuất dựa vào các quátrình sinh thái, như tái chế chất thải, phân hữu cơ (như phân chuồng, phânxanh) và sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc tự nhiên, sửdụng các loài thiên địch (các loài động vật săn mồi) thay cho các đầu vào tổnghợp như phân hóa học và thuốc trừ sâu
Tác giả Phạm S quan niệm:
Nông nghiệp hữu cơ là quá trình sản xuất tuân thủ tuyệt đối an toànsinh học; không sử dụng hóa chất trong suốt quá trình sản xuất;không sử dụng giống biến đổi gen; quá trình canh tác có thể sửdụng kỹ thuật truyền thống đến kỹ thuật hiện đại; môi trường sinhthái bền vững nhằm đảm bảo sự công bằng của các bên tham gia;thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế [36, tr.255]
Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm Codex của FAO/WHO (2012) đưa rakhái niệm:
Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống quản lý sản xuất toàn diệnnhằm thúc đẩy và tăng cường gìn giữ sự bền vững của hệ sinh tháinông nghiệp, bao gồm đa dạng sinh học, chu trình sinh học và hoạtđộng sinh học của đất Nó nhấn mạnh việc sử dụng các thực tiễnquản lý thay vì sử dụng các đầu vào phi nông nghiệp, có tính đến
Trang 39các điều kiện của địa phương Điều này được thực hiện bằng cách
sử dụng, nếu có thể, các phương pháp nông học, sinh học và cơ học,ngược lại với việc sử dụng các yếu tố đầu vào tổng hợp, để hoànthành bất kỳ chức năng cụ thể nào trong hệ thống [70]
Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (InternationalFederation of Organic Agriculture Movements - IFOAM) cho rằng:
Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất để duy trì sức khỏecủa đất, hệ sinh thái và con người Nó dựa vào quá trình sinh thái,
đa dạng sinh học và chu kỳ thích nghi với điều kiện địa phương chứkhông phải sử dụng các yếu tố đầu vào với các hiệu ứng bất lợi.NNHC kết hợp truyền thống, sự đổi mới và khoa học để có lợi chomôi trường và thúc đẩy mối quan hệ công bằng và một cuộc sốngchất lượng cho tất cả các bên tham gia [69]
Tại Điều 3, Nghị định 109/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2018 vềnông nghiệp hữu cơ, đưa ra khái niệm:
Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống sản xuất bảo vệ tài nguyên đất, hệsinh thái và sức khỏe con người, dựa vào các chu trình sinh thái, đadạng sinh học thích ứng với điều kiện tự nhiên, không sử dụng cácyếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái; là sự kết hợp
kỹ thuật truyền thống và tiến bộ khoa học để làm lợi cho môitrường chung, tạo mối quan hệ công bằng và cuộc sống cân bằngcho mọi đối tượng trong hệ sinh thái [4]
Từ những khái niệm của các tổ chức trong nước và quốc tế, có thể rút
ra nội hàm của khái niệm nông nghiệp hữu cơ là:
Một là, nông nghiệp hữu cơ là một mô hình sản xuất hướng tới mục
tiêu sản xuất nông nghiệp gắn với bảo vệ các nguồn tài nguyên đất, nước, hệsinh thái (động vật, thực vật) và bảo vệ sức khỏe con người
Trang 40Hai là, việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ dựa vào các chu trình sinh thái
và đa dạng sinh học thích ứng với điều kiện tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng,nguồn nước) không sử dụng các yếu tố gây tác động tiêu cực tới môi trường
Ba là, sản xuất nông nghiệp hữu cơ dựa trên sự kết hợp giữa kỹ thuật
canh tác truyền thống với công nghệ sản xuất hiện đại để tạo ra các sản phẩm
Bốn là, sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ tạo ra sự cân bằng cho mọi đối
tượng trong hệ sinh thái có điều kiện phát triển
Từ nội hàm các khái niệm đã nêu trên, nghiên cứu sinh đưa ra khái
niệm phát triển nông nghiệp hữu cơ như sau: Phát triển nông nghiệp hữu cơ
là quá trình thay đổi cả về lượng và chất trong sản xuất nông nghiệp nhằm tận dụng tối đa các chu kỳ sinh thái, đa dạng sinh học thích ứng với điều kiện
tự nhiên của cây trồng, vật nuôi, không sử dụng hóa chất và giống biến đổi gen cũng như các yếu tố tác động tiêu cực tới môi trường để đảm bảo công bằng cho các chủ thể tham gia và bảo vệ môi trường sinh thái.
2.1.1.2 Khái niệm quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ
* Khái niệm lợi ích
Lợi ích là một phạm trù được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới trong cáccông trình nghiên cứu, có nhiều loại lợi ích khác nhau như: lợi ích vật chất,lợi ích tinh thần, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa có thể chỉ ra một số quanniệm của các nhà nghiên cứu về lợi ích như sau:
Theo A.S.Aizikovich: “Lợi ích là nhu cầu được thúc đẩy bởi xã hội”[62, tr.176];
Claire Kremen, Albie Miles cho rằng: “Lợi ích là sự phản ánh chủ quancủa những nhu cầu tồn tại khách quan” [67, tr.93];
Tác giả Đoàn Xuân Thủy cho rằng: “lợi ích là sự ngầm định kháchquan một chủ thể nào đó nhận một hay nhiều giá trị có hạn nào đó trong mộtcộng đồng người để thỏa mãn các ước muốn của mình trong những điều kiện
xã hội nhất định” [46, tr.38]