Theo quan niệm của Mác- Lênin Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng dân chủ là sản phẩm và là thành quả quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, là
Trang 2MỤC LỤC
1.1 Theo quan niệm của Mác- Lênin 1 1.2 Theo tư tưởng Hồ Chí Minh 1 1.3 Theo từ điển Bách khoa Việt Nam 2
3 Lịch sử sự hình thành và phát triển của dân chủ 2 3.1 Giai đoạn dân chủ nguyên thủy - nguồn gốc của dân chủ 2 3.2 Giai đoạn dân chủ chủ nô - dân chủ chính thức ra đời 4 3.3 Giai đoạn độc tài chuyên chế - dân chủ bị hạn chế 5 3.4 Giai đoạn dân chủ tư bản - một bước tiến lớn của dân chủ 6 3.5 Giai đoạn dân chủ vô sản - nền dân chủ thực sự 7
4 Các hình thức dân chủ cơ bản 9
4.3 Dân chủ bán trực tiếp 9
5 Các vấn đề cơ bản của dân chủ 9
Trang 31 Khái niệm dân chủ
1.1 Theo quan niệm của Mác- Lênin
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng dân chủ là sản phẩm và là thành quả quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội Từ đó, chủ nghĩa Mác -Lênin quan niệm dân chủ với các nội dung cơ bản gồm:
Thứ nhất, về phương diện quyền lực, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ của nhà nước
Thứ hai, về phương diện chế độ xã hội và chính trị, dân chủ là một hình thức, hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ
Thứ ba, về phương diện tổ chức và quản lý xã hội, dân chủ là một nguyên tắc, kết hợp với nguyên tắc tập trung hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ 1.2 Theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh phát triển khái niệm dân chủ theo hướng “Dân chủ trước hết là một giá trị nhân loại chung” Quan điểm này đã vừa đảm bảo tính khoa học, hiện đại, vừa kế thừa sáng tạo các quan niệm về dân chủ “Dân là chủ” nói lên chủ thể quyền lực là nhân dân, bởi dân là sức mạnh, được dân tin, dân theo, dân ủng hộ thì chính quyền mới có thể đứng vững Khía cạnh “Dân làm chủ” thể hiện nội dung cơ bản là dân phải được làm chủ vận mệnh của chính mình, làm chủ xã hội
và quyền lực của chính mình Cùng với đó, về phương diện giá trị xã hội, “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ” Dân chủ chính là mọi quyền hạn đều thuộc về nhân dân một cách toàn diện, làm chủ nhà nước, xã hội, làm chủ chính bản thân, làm chủ và sở hữu mọi năng lực sáng tạo của mình với tư cách chủ thể đích thực của xã hội
Trang 41.3 Theo từ điển Bách khoa Việt Nam
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.”
Theo định nghĩa này, dân chủ trước hết là một khái niệm chính trị chỉ một chế độ mà trong đó có sự tham gia của nhân dân vào quá trình quản lý xã hội ở các mức độ khác nhau, thừa nhận sức mạnh quyền lực của nhân dân là tiêu chí để Nhà nước đưa ra các chính sách, chủ trương, và đồng thời là thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của nhân dân trong một khuôn khổ nhất định
2 Tự do và dân chủ
Tự do và dân chủ thường được dùng thay thế nhau nhưng hai khái niệm này không đồng nghĩa Dân chủ không chỉ là một loạt ý tưởng và nguyên tắc về tự do,
mà còn bao gồm cả những thực tiễn và các tiến trình đã hình thành trong suốt quá trình lịch sử phức tạp Dân chủ chính là sự thể chế hóa tự do
Cuối cùng, người dân sống cùng chung trong một xã hội dân chủ phải phục
vụ với tư cách người bảo vệ, người là chủ, làm chủ chính quyền tự do của chính mình Trong lời nói đầu bản “Tuyên ngôn Nhân quyền” của Liên Hợp Quốc đã viết
“thừa nhận phẩm giá công có và những quyền bình đẳng bất khả xâm phạm của mọi thành viên trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.”
3 Lịch sử sự hình thành và phát triển của dân chủ
3.1 Giai đoạn dân chủ nguyên thủy - nguồn gốc của dân chủ
Dân chủ xuất hiện chính từ nhu cầu tự quản xã hội trong cộng đồng thị tộc,
bộ lạc Cuối xã hội công xã nguyên thủy đã xuất hiện hình thức manh nha là mầm mống của dân chủ Ph.Ăngghen được gọi với tên “dân chủ nguyên thủy” hay “dân
Trang 5chủ quân sự” Đây là một hình thức tự quản trong các cộng đồng thị tộc, bộ lạc khi
xã hội chưa phân chia giai cấp và nhà nước cũng chưa xuất hiện
Đặc trưng của nó là: (1) Người đứng đầu thị tộc, bộ lạc là người được toàn
bộ thành viên thị tộc bầu ra; (2) Mọi thành viên trong thị tộc có quyền lợi cũng như nghĩa vụ ngang nhau; (3) Các thành viên tham gia bàn bạc mọi công việc chung của thị tộc, bộ lạc và có thể phát biểu, tham gia quyết định bằng hình thức giơ tay hoặc vỗ tay; (4) Tại khu vực có mật độ dân cư cao và lãnh thổ rộng lớn hơn thì hình thức dân chủ được thực hiện một cách gián tiếp, tức là người đứng đầu sẽ là người được hội đồng những người đứng đầu bầu ra Họ bầu ra thủ lĩnh phục vụ chủ yếu cho mục đích quân sự và quyết định tất cả các vấn đề của thị tộc, bộ lạc Việc bầu lên hay phế truất những người đứng đầu được coi là hình thức sơ khai của dân chủ chất phác trong một xã hội chưa có giai cấp
Có thể thấy, trong xã hội nguyên thủy, phạm trù tự do, bình đẳng, dân chủ, công bằng chưa xuất hiện bởi họ cho rằng đó là những quyền vốn có đương nhiên, phản ánh tất yếu kinh tế xã hội của mọi thành viên trong xã hội lúc bấy giờ Chính
vì vậy, xã hội với chế độ thị tộc này không có quân đội và cảnh sát, không phân chia quý tộc, vua chúa, quan lại, cũng không có nhà tù nhưng mọi việc vẫn diễn ra trôi chảy Đặc biệt, tất cả mọi người dân đều bình đẳng và từ do, kể cả phụ nữ
Khi trình độ con người phát triển đạt đến độ có khả năng trừu tượng hóa thì những khái niệm phản ánh những quyền vốn có như tự do, bình đẳng, dân chủ… mới nảy sinh Đồng thời, chỉ khi con người mất đi những điều đó, thì họ mới xuất hiện nhu cầu phải đòi lại Vấn đề “dân chủ” chỉ thực sự ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp Giai cấp khiến một bộ phận thành viên xã hội bị đánh mất quyền lợi vốn
có kia, đồng thời cũng khiến xã hội xuất hiện giai cấp lao động trí óc - những người có tư duy đủ tầm đã hình thành nên khái niệm nhằm phản ánh những quyền vốn có đương nhiên của con người, trong đó có “dân chủ”
Trang 63.2 Giai đoạn dân chủ chủ nô - dân chủ chính thức ra đời
Khi có sự ra đời của chế độ tư hữu, giai cấp lúc này đã chính thức xuất hiện gồm giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Điều này làm tan rã hình thức dân chủ nguyên thủy và hình thành nên nền dân chủ nô lệ Từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, Nhà nước dân chủ đầu tiên xuất hiện tại Athena, thuộc Hy Lạp cổ đại
“Dân chủ” trong tiếng Hy Lạp là “Democratos”, được ghép từ chữ “demos” có nghĩa là “nhân dân” và “cratos” có nghĩa là “quyền lực” thành “quyền lực của nhân dân”
Giai cấp thống trị đầu tiên trong lịch sử là giai cấp chủ nô Họ hình thành nhà nước bằng cách phổ thông đầu phiếu trong công dân Hình thức nhà nước của
vị vua khai quốc của thành bang Athena - quốc vương Theseus áp dụng được xem
là hệ thống chính phủ đầu tiên Sau đó, một số nhà nước dân chủ chủ nô cũng hình thành như Nhà nước Xume cổ đại tại vùng vịnh Pecxich, nhà nước Trung Quốc và
Ấn Độ cổ đại… Tuy nhiên, nhà nước tại các quốc gia vẫn có sự khác nhau nhất định Tại Hy Lạp có hình thức cộng hòa dân chủ, nơi mà đại hội nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Tại La Mã, ngoài hình thức quân chủ chuyên chế còn tồn tại hình thức cộng hòa quý tộc Tại các quốc gia phương Đông, hình thức chính thể của nhà nước dân chủ chủ nô phổ biến là hình thức quân chủ chuyên chế Theo đó, quyền lực của vua, quốc vương, hoàng đế là vô hạn
Trong giai đoạn, pháp luật chủ nô đã được hình thành và được coi là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử Pháp luật được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ và sự mâu thuẫn giai cấp sâu sắc Một số bộ luật nổi tiếng như Bộ luật Hammurabi, luật Dracon, Bộ luật Manou, Bộ luật 12 bảng… Pháp luật chủ nô đều có đặc điểm chung là tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố, bảo vệ quan
hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, hợp pháp hóa chế độ bóc lột của chủ nô đối với nô lệ với hệ thống hình phạt và thi hành hình phạt dã man, tàn bạo như tùng xẻo, treo cổ, thiêu sống, chôn sống… Trong lịch sử, đây là kiểu pháp luật vô nhân đạo nhất Ngoài ra, pháp luật chủ nô còn ghi nhận và củng cố tình hình bất bình đẳng trong
Trang 7gia đình và xã hội; đồng thời là hệ thống pháp luật thiếu thống nhất, mang tính tản mạn, chưa rõ ràng trong một số lĩnh vực, chủ yếu được hình thành từ việc thừa nhận các phong tục tập quán, đạo đức và tín điều tôn giáo
Theo hình thức dân chủ chủ nô, người dân, ngoại trừ phụ nữ và nô lệ, đều được bầu cho ý kiến về mọi việc Họ không cho phép phụ nữ bất kể trình độ nào tham gia vào vấn đề chính sách nên có thể coi đây là nền dân chủ của công dân nam, mang tính gia trưởng Còn về nô lệ, họ không coi nô lệ là những công dân bởi quy định rằng “dân” chỉ gồm chủ nô và các công dân tự do là các tăng lữ, thương gia và một số tri thức, còn lại đa số cư dân không phải “dân” mà chính là
“nô lệ” Nô lệ chiếm một phần lớn trong toàn bộ dân số, và đóng góp lớn vào nền kinh tế của quốc gia dựa trên sức lao động của họ nhưng lại không được phép tham gia vào các vị trí công việc của nhà nước Xã hội có sự mâu thuẫn đối kháng nặng
nề giữa hai giai cấp chủ nô và nô lệ Xét về bản chất, có thể thấy hình thức dân chủ chủ nô chỉ thực hiện dân chủ cho thiểu số, là sự chuyên chế của thiểu số, cụ thể nhà nước là bộ máy chuyên chính của giai cấp chủ nô, là công cụ thiết lập, bảo vệ quyền lực cho giai cấp chủ nô đồng thời là cách thức trấn áp nô lệ và những người lao động tự do trong xã hội Khác với hình thức dân chủ nguyên thủy, hình thức này chủ yếu có bộ máy nhà nước là bộ máy quân sự và cảnh sát
3.3 Giai đoạn độc tài chuyên chế - dân chủ bị hạn chế
Sau khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, chế độ dân chủ chủ nô được thay thế bởi chế độ độc tài chuyên chế phong kiến Đây là một hình thức đứng giữa chế độ dân chủ và độc tài toàn trị Hiến pháp không tồn tại hoặc không hề có tác dụng Ở chế độ này, sự thống trị của giai cấp cầm quyền được phủ lên là sự thần bí của thế lực siêu nhiên, coi quân chủ là thánh thần ở trần thế, lời của quân chủ là ý muốn của thánh thần vì quân chủ là người duy nhất có thể gặp và trao đổi với thần thánh
Quân chủ độc tài chuyên chế phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia phong kiến phương Đông và thịnh hành tại các nước châu Âu vào thế kỉ XIX Tại Ai Cập
cổ đại, Pharaoh được coi là hình ảnh của thần Bầu trời Hình ảnh trên bia đá Bộ
Trang 8luật Hammurabi là vị vua này đang tiếp nhận ý muốn của thần thánh Thời phong kiến, tại các nước Á Đông, chế độ này mang tính thế tục hơn khi người nắm giữ quyền lực tối cao là quân chủ phải dùng tới một bộ máy quan liêu đồ sộ, phức tạp
từ trung ương tới địa phương để trị vì đất nước
Chính phủ có đặc điểm là đòi hỏi sự tuân phục tuyệt đối, không thắc mắc,
mù quáng với chính quyền Chính vì vậy, người dân ở thời kì này tuân thủ ý chí của giai cấp thống trị, coi đó là bổn phận của bản thân đối với sức mạnh của đấng tối cao Vậy nên, ý thức về dân chủ và việc đấu tranh của người dân để thực hiện quyền làm chủ không có thêm nhiều tiến triển đáng kể, và thậm chí có thể coi đây
là hình thức đi ngược lại với sự phát triển, dân chủ gần như không được đề cập đến, đối ngược với một nhà nước tôn trọng tự do, dân chủ cá nhân
3.4 Giai đoạn dân chủ tư bản - một bước tiến lớn của dân chủ
Cho đến cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV, giai cấp tư sản hình thành với những tư tưởng tiến bộ về tự do, dân chủ đã mở đường cho sự ra đời của nền dân chủ tư bản Nền dân chủ này được coi là một bước tiến lớn của nhân loại với nhiều giá trị nổi bật về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng
Chế độ dân chủ tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo, là hình thức quản lý nhà nước được thành lập sau khi thủ tiêu chế độ phong kiến Theo đó, dân chủ được thực hiện thông qua việc: (1) Ban hành hiến pháp; (2) Thực hiện nguyên tắc phổ thông đầu phiếu thành lập Nghị viện và các cơ quan đại diện: (3) Thực hiện “Tam quyền phân lập”; (4) Tuyên bố mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và quyền
tư hữu tài sản là bất khả xâm phạm Có thể thấy, dân chủ tư sản có hệ thống pháp luật khá phát triển Pháp luật ghi nhận và bảo vệ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa; bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản; mang tính dân chủ, thừa nhân quyền tự do bình đẳng về mặt pháp lý cho công dân; đặc biệt pháp luật tư sản nhân đạo hơn các kiểu pháp luật khác
Trang 9Mặc dù vậy, dân chủ tư sản vẫn được coi là chế độ dân chủ thiểu số, hình thức khi được dành riêng cho giai cấp tư sản, tức giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất
và cầm quyền thống trị về kinh tế, chính trị xã hội Trong khi đó, đa số là nhân dân lao động không được hưởng nền dân chủ này, họ thậm chí bị hạn chế trong việc thực thi các quyền dân chủ đã được tuyên bố trong hiến pháp tư sản
Dân chủ tư bản có nhiều đảng phái chính trị, trong đó các đảng lớn thay thế nhau lên nắm quyền lực nhà nước thông qua bầu cử Các nghị sĩ của các đảng không nằm chính quyền hợp thành phe đối lập, các phe đấu tranh ở quốc hội, nếu không thể thỏa hiệp với nhau thì có thể dẫn đến khủng hoảng, bầu lại tổng thống hoặc thiết lập nên 1 chính phủ khác, giải tán nghị viện và thực hiện bầu lại
Cho đến nay, dân chủ tư sản đã trải qua một quá trình dài hàng trăm năm tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của dân chủ tư sản, giai cấp tư sản vốn
là giai cấp tiến bộ ngày càng bộc lộ tính phản động, thông qua nhà nước tiến hành xâm chiếm thuộc địa, tăng cường áp bức, bóc lột giai cấp vô sản Ngày nay, giai cấp tư sản tiếp tục biến đổi theo hướng tích cực, quan tâm và chăm lo nhiều hơn cho người lao động, giúp họ cải thiện đời sống, giảm thiểu tầng lớp người nghèo khổ, tăng tầng lớp trung lưu, hình thành tầng lớp công nhân thượng lưu dễ dàng thỏa hiệp với giai cấp tư sản Có thể nói, tư sản đang tự dần hoàn thiện trở thành công cụ tổ chức, quản lý hiệu quả các mặt của đời sống kinh tế, xã hội, đảm bảo quyền tự do con người, đảm bảo dân chủ, công bằng, tiến bộ Tuy nhiên, hạn chế của nó vẫn còn tồn tại với đầy rẫy những bất công Theo báo cáo Global Wealth, 1% người giàu có nhất thế giới hiện chiếm hữu một nửa tài sản toàn cầu, gây ra sự chênh lệch giàu nghèo lớn Theo quy luật xã hội, dân chủ tư sản phải được thay thế bởi một kiểu nhà nước mới là dân chủ xã hội chủ nghĩa nhưng trong điều kiện thực
tế hiện nay, vẫn chưa có bất cứ dấu hiệu sụp đổ nào của hình thức tư sản này
3.5 Giai đoạn dân chủ vô sản - nền dân chủ thực sự
Năm 1917, cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga giành thắng lợi, nhân dân lao động nhiều quốc gia đã giành được quyền làm chủ nhà nước và xã hội,
Trang 10hình thành và thiết lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa với chế độ dân chủ vô sản nhằm mục tiêu thực hiện quyền lực của đa số nhân dân Với nền dân chủ xã hội, quyền lực thuộc về nhân dân đã xây dựng được nhà nước dân chủ thực sự Sự ra đời của nền dân chủ xã hộ chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ Quá trình phát triển của dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ thấp đến cao, kế thừa những giá trị tiến bộ của các nền dân chủ trước đó đồng thời xóa bỏ những giá trị cũ, không phù hợp, bổ sung và làm mới bằng những giá trị của nền dân chủ mới
Dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày nay đã lan rộng khắp toàn cầu và được coi là nền dân chủ cao hơn về chất so với các nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại, nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng được coi là “hình thức nhà nước cuối cùng” Dân chủ
xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mà mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ
và dân làm chủ, dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng và được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản So với dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa vẫn còn non trẻ, ra đời trong một thời gian ngắn và chủ yếu ở các nước có xuất phát điểm về kinh tế - xã hội thấp, thường xuyên bị tấn công, chiếm đóng nên còn gặp nhiều hạn chế trong một số lĩnh vực
Nhìn chung, có thể thấy ở mọi nền văn minh, nền dân chủ hình thành trong các cộng đồng dân cư như bộ lạc, thị tộc, làng xã… từ thời cổ đại, ở nhiều nơi tiếp tục cho đến ngày nay trong đó người đứng đầu cầm quyền do cộng đồng người dân lựa chọn Đó chính là hình thức tổ chức sơ khai nhất của con người trước khi nhà nước xuất hiện Đồng thời, từ thời Hy Lạp cổ đại cho đến nay, cụm từ “dân chủ”
đã nhiều lần thay đổi do có nhiều chính phủ tự xưng là dân chủ Ngày nay, “Dân chủ” nói đến hình thức một chính phủ được dân chọn, qua cả hình thức trực tiếp và gián tiếp Quyền được đi bầu từ xa xưa bắt đầu với những nhóm nhỏ như tầng lớp giàu có của dân tộc nào đó, qua thời gian được mở rộng và quy định trong nhiều
bộ luật, tuy nhiên vẫn còn gây tranh cãi trong các vấn đề liên quan đến lãnh thổ,