Sự sinh trưởng và phát triển của trẻ được thể hiện rõ qua các giai đoạn: thời kì phát triển trong tử cung, thời kì sơ sinh, thời kì nhũ nhi, thời kì rang sữa, thời kì thiếu niên, thời kì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHOA CÁC KHOA HỌC GIÁO DỤC
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: SINH LÍ HỌC TRẺ EM TUỔI MẦM NON
ĐỀ TÀI:
CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nhung Lớp: GD5-N2
Mã sinh viên: 21010878 Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Mai Văn Hưng
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
Dẫn luận ……… 3
Nội dung……….3
I Khái niệm về sự sinh trưởng và phát triển 3
1 Sự phát triển 4
2 Sự sinh trưởng 4
II Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của trẻ 4
1 Tính không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng 4
2 Các tỉ lệ cơ thể thay đổi theo lứa tuổi 5
3 Sự thay đổi không đồng đều 5
III Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của trẻ 5
1 Thời kì phát triển trong tử cung 5
2 Thời kì sơ sinh 7
3 Thời kì nhũ nhi (bú mẹ) 8
4 Thời kì răng sữa 9
5 Thời kì thiếu niên - dậy thì 10
IV Vận dụng kiến thức về phản xạ có điều kiện xây dựng một số thói quen học tập, sinh hoạt cho học sinh mầm non……… 12
Tài liệu tham khảo 15
Trang 3LỜI DẪN LUẬN
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ mà là một cơ thể đang dần lớn lên và phát triển từng ngày Quá trình lớn lên và phát triển của trẻ có tính chất toàn diện về
cả thể chất, tâm thần – vận động và qua nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm sinh lý và bệnh lý riêng
Sự sinh trưởng và phát triển của trẻ được thể hiện rõ qua các giai đoạn: thời kì phát triển trong tử cung, thời kì sơ sinh, thời kì nhũ nhi, thời kì rang sữa, thời kì thiếu niên, thời kì dậy thì Các giai đoạn này đều có những đặc điểm phát triển và dinh dưỡng khác nhau
Như chúng ta đã biết, sự ảnh hưởng của những năm đầu đời có tác động rất lớn tới sự phát triển của trẻ sau này và những gì được hình thành trong 5, 6 năm đầu sẽ khó mất đi, còn những gì chưa được hình thành trong giai đoạn này thì sau này rất khó hình thành Vì vậy chúng ta có những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của trẻ như sau: yếu tố dinh dưỡng, yếu tố sức khỏe, yếu tố giáo dục, yếu tố môi trường
Với những kiến thức về sự sinh trưởng và phát triển của trẻ mà ta có thể xây dựng một số thói quen học tập, sinh hoạt cho học sinh mầm non
Trang 4NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM VỀ SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Khái niệm về sự sinh trưởng và phát triển: Quá trình sinh trưởng và phát triển là đặc tính sinh học chung của chất sống Sự sinh trưởng và phát triển của con người được bắt đầu từ thời điểm thụ tinh của tế bào trứng cho đến lúc chết
1 Sự phát triển
- Sự phát triển là một quá trình thay đổi về mặt số lượng và chất lượng xảy ra trong cơ thể, được biểu hiện qua các chỉ số đo người như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực,
- Sự phát triển bao gồm:
+ Sự tăng trưởng
+ Sự phân hóa của các cơ quan và các mô
+ Sự thành hình (tạo hình dáng) đặc trưng cho cơ thể
Ba yếu tố này liên hệ và phụ thuộc với nhau một cách chặt chẽ dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng
2 Sự sinh trưởng
Sự sinh trưởng là quá trình tăng liên tục khối lượng của cơ thể bằng cách tăng số lượng, hoặc tăng kích thức tế bào của cơ thể, dẫn đến tăng khối lượng mô, cơ quan và toàn bộ cơ thể Kết quả là sự thay đổi về mặt kích thước
II TÍNH QUY LUẬT VỀ SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
1.Tính không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng
- Về chiều cao và cân nặng của trẻ thường không đồng đều, trẻ sơ sinh cao 50cm, cuối 1 tuổi 78 – 80cm, trẻ từ 11 – 12 tuổi bé gái thường cao hơn bé trai, 14 – 15 tuổi
bé trai thường cao hơn
- Về cân nặng: Trẻ sơ sinh nặng 3 - 3,2kg, cuối 1 tuổi nặng 9,5 – 10kg, 2 tuổi: 12kg, 3 tuổi: 14kg, 4 tuổi: 16kg, 5 tuổi: 15,7kg
Trang 5- Đến lúc trưởng thành, nhịp độ tăng trưởng lại giảm và mỗi năm chỉ tăng lên 1,2 – 2 kg về khối lượng và chiều cao tăng lên 4 – 5cm
Từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành, chiều dài cơ thể tăng lên 3,5 lần, chiều dài của thân tăng lên 3 lần, chiều dài của tay tăng lên 4 lần và chiều dài của chân tăng lên 5 lần
2 Các tỉ lệ cơ thể thay đổi theo lứa tuổi
- Trẻ sơ sinh được phân biệt với người lớn bằng chân tay ngắn, thân lớn, đầu to
- Với các lứa tuổi, độ dài của đầu nhỏ dần và độ dài xương kéo dài ra Đến tuổi dậy thì ở nam chân tay dài, thân ngắn, xương chậu hẹp hơn so với nữ
- Có thời kì khác nhau về tỉ lệ giữa chiều dài và chiều ngang của cơ thể: từ 4 – 6 tuổi, 6 -15 tuổi và 15 – người lớn
3 Sự thay đổi không đồng đều
- Sự thay đổi không đồng đều của các phần riêng biệt của cơ thể cũng như nhiều
cơ quan về cơ bản là phù hợp với sự sinh trưởng không đồng đều về chiều dài của cơ thể Nhưng một số cơ quan và một số phần của cơ thể có kiểu sinh trưởng khác
+ Một số cơ quan tăng tỉ luận với khối lượng cơ thể
+ Một số cơ quan tăng nhanh ngay trong thời kì phát triển bào thai, khối lượng của chúng chỉ tăng 3 - 4 lần
+ Có những cơ quan khối lượng của chúng hoàn toàn khống đổi sau khi sinh + Mỗi thời kì lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân
III CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
1 Thời kỳ phát triển trong tử cung
Thời kì bào thai chia làm 2 giai đoạn nhỏ: giai đoạn phát triển phôi thai và giai đoạn phát triển thai nhi
1.1 Giai đoạn phát triển phôi thai (3 tháng đầu thai kì)
- Từ tuần 1 – tuần 3 là quá trình thụ thai, trứng sau khi được tinh trùng thụ tinh sẽ trở thành hợp tử, hợp tử sẽ dần dần di chuyển để vào buồng tử cung, và trong lúc đó
nó tiến hành phân chia để tạo thành phôi dâu
- Tuần thứ 4: Sang tuần thai thứ 4 các tế bào phôi thai bắt đầu hoạt động và tạo cấu trúc ban đầu cho cơ thể thai nhi
Trang 6- Tuần thứ 5: Kích thước của thai nhi đã được tăng lên khá nhanh, thời gian này người mẹ đã có thể sử dụng những biện pháp thử thai để biết được mình có đang mang thai hay không
- Tuần thứ 6 - tuần thứ 7: Các bộ phận của thai nhi bắt đầu được hình thành tại tuần thứ 6, đuôi sớm sẽ biến mất Kích thước của thai nhi cũng dầu tăng lên: ở tuần thứ 6 là 4 – 7mm; tuần thứ 7 là 9 – 15mm
- Tuần thứ 8 – tuần thứ 9: Thai nhi bắt đầu chuyển động Hình thành hệ thần kinh
sơ khai, đặc biệt là não sẽ phát triển nhanh Hệ hô hấp và hệ sinh dục đang dần hình thành Kích thước: tuần thứ 8 là 16 – 22mm, tuần thứ 9 là 23 – 30mm
- Tuần thứ 10 – 11 – 12 - 13: Các bộ phận trên cơ thể thai nhi gần như đầy đủ, đặc biệt cuống rốn của thai nhi đã thực hiện vai trò cung cấp dưỡng chất đồng thời đào thải chất thải ra khỏi bào thai Da vẫn trong mờ, đã có đầy đủ tứ chi, có thể cử động nhẹ nhàng Thai nhi bắt đầu có phản xạ cơ bản, có cảm nhận đối với các tác động từ mẹ
1.2 Giai đoạn phát triển thai nhi (Từ tháng thứ 4 đến khi đẻ)
- Tuần thứ 14 – 15 – 16 – 17: Thai nhi tăng nhanh về cân nặng và kích thước từ thời điểm này Mỗi tuần trung bình khoảng 2gr Các tế bào của hệ thần kinh trung ương và cơ quan sinh dục cũng hình thành rõ ràng hơn Đến tuần thứ 17 kích thước của thai nhi là khoảng 13cm, nặng 140gr Thai nhi đã có thể di chuyển khớp, nghe được âm thanh từ bên ngoài, và tuyến mồ hôi bắt đầu phát triển
- Tuần thứ 18 – 19 – 20 – 21 – 22: Cơ thể thai nhi tiếp tục phát triển và hoàn thiện
Sự tăng trưởng trọng lượng khá nhanh, từ tuần thứ 18 thai nhi có trọng lượng là khoảng 190gr và dần phát triển theo từng tuần cho đến tuần thứ 22 thai nhi có trọng lượng khoảng 430gr
- Tuần thứ 23 – 24 – 25: Giai đoạn này thai nhi ngày càng hoàn thiện Lúc này xương sọ và khung xương tiếp tục phát triển Hệ thần kinh đã phát triển vượt trội hơn trước Cân nặng của thai nhi ngày một tăng, từ tuần 23 là khoảng 500gr cho đến tuần
27 là 660gr
- Tuần thứ 26 – tuần thứ 27: Từ đây thì mẹ có thể nhận thấy được các giấc ngủ ngắn của bé cũng gia tăng để hoàn thiện thị giác và não bộ Bé cũng bắt đầu hoàn thiện phổi Trong thời gian này, mẹ sẽ cảm thấy các cú đạp mạnh hơn do bé đã lớn và
Trang 7khỏe hơn Cùng với đó là các chức năng của hệ tiêu hóa, phổi, thận đã trở nên ổn định hơn
- Tuần thứ 28 – 29 – 30 – 31 – 32 – 33: Từ giờ cân nặng của thai nhi sẽ khoảng 1kg Não bộ gần như phát triển hoàn chỉnh Các mảnh xương sọ vẫn chưa được hợp nhất mà được nối với nhau bằng tổ chức sụn Từ tuần 29 đến hết tuần 33, bé tăng trung bình 200gr/tuần Thân nhiệt đã bắt đầu ổn định hơn
- Tuần thứ 34 – 35 – 36 – 37: Hệ thống thần kinh trung ương và phổi đang trưởng thành Thận của bé đã phát triển hoàn toàn, gan đã có thể xử lí một số sản phẩm thải
Từ tuần thai thứ 34 trở đi cân nặng của bé tăng trung bình khoảng 200 – 250gr mỗi tuần
- Tuần thứ 38 – 39 – 40: Trong thời gian này phổi và não của bé sẽ trưởng thành đầy đủ Ở tuần thứ 39 bé sẽ được coi là đủ tháng, bé đã phát triển thể chất hoàn toàn
Từ lúc này bé đã sẵn sàng đến với thế giới bên ngoài
2 Thời kì sơ sinh: Từ lúc cắt rốn cho đến 4 tuần lễ đầu
Cuối tháng đầu tiên sau sinh: bé có khả năng cố gắng nâng đầu lên khi được nằm sấp
2.1 Đặc điểm sinh lí
Sự thay đổi môi trường từ trong tử cung ra đến ngoài buộc trẻ phải có sự thayđổi chức năng của một số cơ quan để thích nghi với cuộc sống mới như hoạt động của bộ máy hô hấp, tuần hoàn Trong các cơ quan thì sự thích nghi của phổi là quan trọng nhất
- Ngay sau khi ra đời, trẻ bắt đầu thở bằng phổi và bắt đầu một vòng tuần hoàn mới Bộ máy tiêu hóa bắt đầu làm việc
- Cơ thể của trẻ rất yếu, chức năng của tất cả các bộ phận đều chưa hoàn chỉnh, nhất là hệ thần kinh, vì thế nên trẻ ngủ nhiều khoảng 20 tiếng/ngày
- Cân nặng: trẻ bình thường mỗi ngày tăng 15gr, trung bình mỗi tháng trẻ nặng từ 3.5 – 4.5kg Chiều cao tăng khoảng 2 cm
2.2 Đặc điểm bệnh lí
Trang 8- Vì trẻ bắt đầu thích nghi với môi trường bên ngoài nên nhiều yếu tố có thể cản trở sự thích nghi của trẻ và gây tử vong cao trong 24 giờ và tuần đầu sau khi sinh
- Các bệnh lý hay gặp:
+ Sang chấn sản khoa: gây ngạt, xuất huyết não, gãy xương,
+ Hệ thống miễn dịch còn non yếu nên trẻ dễ bị nhiễm trùng như nhiễm trùng rốn, phổi, não, nhiễm trùng huyết
+ Các bệnh vàng da tăng bilirubin tự do
3 Thời kì nhũ nhi (bú mẹ)
Từ 2 tháng đến 12 tháng tuổi
3.1 Đặc điểm sinh lí
Thời kì này tốc độ tăng trưởng nhanh, nhất là trong 3 tháng đầu
+ Cân nặng: Trung bình 6 tháng đầu trẻ nặng gấp đôi cân nặng lúc mới sinh (khỏang 5 – 6kg) đến tháng thứ 12 trẻ nặng gấp 3 (trung bình từ 9 – 10kg)
+ Chiều cao: Mỗi tháng tăng 2cm, đến tháng thứ 12 trẻ cao gấp 1.5 lần so với lúc mới sinh
+ Vòng đầu tăng 35% Tổ chức não tăng nhanh đạt tới 75% so với ngưới lớn + Chức năng của các bộ phận phát triển nhanh, nhưng vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt chức năng tiêu hóa
+ Trẻ bắt đầu mọc răng sữa
+ Cùng với sự phát triển mạnh về thể chất, trẻ bắt đầu có sự phát triển về tinh thần, trí tuệ và vận động:
Hệ thống tín hiệu thứ nhất đã hình thành, bắt đầu có hoạt động thần kinh cấp cao Cuối 1 tuổi trẻ đã bắt đầu biết nói và hiểu được nhiều điều
Chức năng điều hòa nhiệt của não trẻ chưa hoàn chỉnh, bề mặt của da tương đối lớn so với cân nặng của cơ thể
Hệ thống cơ xương phát triển nhanh, đối với trẻ khỏe mạnh, 1 tuổi đã bắt đầu đi được
3.2 Đặc điểm bệnh lí
- Sau 6 tháng trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng
Trang 9- Dễ bị tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài, nôn, chán ăn do chức năng của hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh nhất là khi trẻ không bú mẹ
- Tốc độ phát triển nhanh kèm theo hệ tiêu hóa kém dẫn đến trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, thiếu vitamin, thiếu máu
- Trung tâm điều nhiệt và da của trẻ vẫn chưa phát triển đầy đủ, các yếu tố dễ dẫn đến bị hạ thân nhiệt hoặc sốt cao co giật, màng não, phản ứng não
4 Thời kì răng sữa
Từ 1 – 6 tuổi có thể chia làm 2 thời kì nhỏ: Tuổi nhà trẻ (1 – 3 tuổi) và tuổi mẫu giáo (4 – 6 tuổi)
4.1 Đặc điểm sinh lí
- Trong thời kì này trẻ tiếp tục lớn và phát triển nhưng tốc độ lớn chậm hơn so với thời kì bú mẹ
- Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần dần hoàn thiện, đặc biệt là chức năng vận động phối hợp với động tác, cơ lực phát triển nhanh
Trẻ bắt đầu đi một mình rồi chạy, tập vẽ, viết, trẻ tự xúc ăn, rửa tay, rửa mặt Tín hiệu thứ hai là ngôn ngữ phát triển
- Hệ thần kinh tương đối phát triển Chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ
có điều kiện và trí tuệ phát triển nhanh
- Đến thời kì mẫu giáo, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo phát triển hơn Trẻ tuổi mẫu giáo đặc biệt hiếu động, tác động của môi trường tốt hay xấu đều ảnh hưởng đến trẻ vào thời điểm này
- Cân nặng: Mỗi tháng tăng từ 100 – 150gr Chiều cao: Mỗi năm tăng 5cm chiều cao, 6 tuổi trẻ cao khoảng 105cm – 115cm
- Vòng đầu bằng người lớn, tổ chức não trưởng thành bằng 100% người lớn
4.2 Đặc điểm bệnh lí
- Ở lứa tuổi này trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa, còi xương, các bệnh về thể tạng
- Trẻ hay mắc các bệnh như: cúm, ho gà, bạch hầu, thường bị bệnh lây do đời sống tập thể
Trang 10- Xuất hiện các bệnh có tính chất dị ứng như: hen phế quản, mề đay cấp, viêm cầu thận cấp
- Trẻ hoạt động nhiều nên hay bị tai nạn, chấn thương, ngộ độc, bỏng,
5 Thời kì thiếu niên – dậy thì (7 – 20 tuổi)
5.1 Thời kì thiếu niên
Thời kì này cũng chia làm 2 giai đoạn nhỏ: Giai đoạn học sinh tiểu học (7 – 12 tuổi), giai đoạn học sinh tuổi dậy thì (12 – 15 tuổi)
5.1.1 Đặc điểm sinh lí
- Trẻ vẫn tiếp tục lớn nhưng không còn nhanh
- Cấu tạo và chức phận của các bộ phận trong cơ thể đã phát triển hoàn toàn
- Tế bào vỏ não đã hoàn toàn biệt hóa, các đường dẫn truyền đã hoàn thiện, chức phận của bán cầu đại não phát triển mạnh và phức tạp hơn
- Hệ thống cơ bắp phát triển mạnh nhưng vẫn còn thon gầy
- Răng vĩnh viễn thay cho răng sữa
- Có những biểu hiện đặc biệt về sự phát triển trí tuệ, về tâm lí của từng giới 5.1.2 Đặc điểm bệnh lí
Do tiếp xúc với môi trường xung quanh nhiều nên trẻ hay mắc các bệnh về nhiễm trùng cấp Trong giai đoạn này hệ thống xương vẫn đang phát triển nên trẻ hay mắc các bệnh do tư thế sai như: vẹo cột sống, gù,
5.2 Thời kì dậy thì (tuổi học sinh Trung học phổ thông)
- Thời kì dậy thì thực ra bắt đầu từ lứa tuổi thiến niên, nhưng nó thay đổi tùy theo giới tính, tình trạng dinh dưỡng, hoàn cảnh kinh tế - xã hội
- Trong thời gian này chức năng sinh dục hoạt động mạnh, giữa bé trai và bé gái đều có sự phát triển khác nhau được biểu hiện qua các tuyến nội tiết như tuyết giáp, tuyến yên hay các cơ quan sinh dục
- Trẻ gái bắt đầu từ 13 – 14 tuổi, trẻ trai bắt đầu từ 15 – 16 tuổi
- Kết thúc dậy thì: Trẻ gái lúc 17 – 18 tuổi, trẻ trai kết thúc lúc 19 – 20 tuổi
6 Kết luận
- Sự lớn lên và phát triển của trẻ em trải qua 2 giai đoạn cơ bản bao gồm 6 thời kì Ranh giới giữa các thời kì này không rõ ràng mà thường xen kẽ nhau
Trang 11- Mỗi một lứa tuổi có đặc điểm sinh lí và bệnh lí riêng, nên áp dụng chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng đúng để trẻ có một sức khỏe tốt
- Để xác định trẻ có đủ chất dinh dưỡng hay chưa cách tốt nhất là theo dõi cân nặng, khám sức khỏe của trẻ mỗi tháng để can thiệp kịp thời, tránh hậu quả lâu dài
IV VẬN DỤNG KIẾN THỨC VỀ PHẢN XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG MỘT
SỐ THÓI QUEN HỌC TẬP, SINH HOẠT CHO HỌC SINH MẦM NON
- Xuất phát từ quan niệm về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, Paplop cho rằng: Phản xạ là những nhân tố của sự thích ứng thường xuyên hay là thăng bằng thường xuyên giữa cơ thể và môi trường hoặc có thể nói: Phản xạ là hoạt động trả lời của cơ thể đối với sự thích nghi cơ quan nhận cảm, được thực hiện qua hệ thần kinh trung ương
- Paplop phân chia hoạt động phản xạ làm hai loại: phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện Phản xạ không điều kiện là các phản xạ bẩm sinh, có sẵn và không cần đòi hỏi một điều kiện nào vẫn cứ xảy ra Còn phản có điều kiện là một liên
hệ thần kinh tạm thời, được hình thành trong đời sống của mỗi cá thể giữa một trong
số các tác nhân khác nhau của môi trường và một hoạt động xác định của cơ thể Đó
là mối liên hệ giữa một cơ quan nào đó trong cơ thể với một kích thích nào đó của môi trường mà trước đó giữa chúng không hề có mối quan hệ
- Vì vậy, phản xạ có điều kiện là phản ứng tất yếu của cơ thể đối với tác nhân kích thích từ môi trường được thực hiện trên cơ sở một phản xạ không điều kiện hoặc dựa trên những kinh nghiệm đã được tích lũy trong đời sống cá thể, với sự tham gia của
vỏ não, nhằm đảm bảo khả năng thích nghi tối ưu của cơ thể với môi trường sống
- Trẻ mầm non là trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Hoạt động phản xạ của trẻ em ở lứa tuổi này có những đặc điểm sau: Khi trẻ sinh ra các phản xạ không điều kiện rất ít (phản xạ bú, mút, chớp mắt ) nhưng dần dần não bộ của trẻ đã sẵn sàng chuẩn bị hình thành những liên hệ tạm thời và có những cơ sở của mọi nhân tố trong một phản
xạ đã hoàn toàn chín muồi Những phản xạ có điều kiện đầu tiên có thể được hình thành vào ngày thứ 5, 6 hoặc thứ 10 của đời sống dựa trên cơ sở của những phản xạ không điều kiện Những phản xạ này là những phản xạ có điều kiện tự nhiên vì có dấu hiệu kích thích của tự nhiên Ví dụ, khi nhìn thấy bầu sữa mẹ, trẻ có phản xạ tiết nước