Là một trong những quốc gia đứng đầu về mức độ thành công của việc xây dựng và phát huy tốt quyền lực mềm, Hàn Quốc hướng tới 3 lĩnh vực chính là chính sách quốc gia, hệ giá trị quốc gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NIÊN LUẬN LÀN SÓNG HALLYU TRONG CHIẾN LƯỢC QUYỀN LỰC MỀM CỦA HÀN
QUỐC - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP K-POP VÀ K-DRAMAS
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thu HằngSinh viên thực hiện: Hoàng Thị Thùy Dương-19031862
Vy Kiều Diễm-19031856 Nguyễn Thị Tuyết Mai-19031904
Vũ Thị Khánh Ly-19031902
Lớp: Quốc tế họcKhóa: 2019
Hà Nội, 2021
Trang 23.1 Đánh giá vềề vai trò c a làn sóng Hallyu trong quyềền l c mềềm c a Hàn ủ ự ủ
Trang 3DANH M C T VIẾẾT TẮẾT Ụ Ừ
TỪ VIẾT
International Culture Exchange
Quỹ giao lưu văn hóa quốc tế
Hàn QuốcKOTRA Korea Trade-InvestmentPromotion Agency Cơ quan xúc tiến thương mạiHàn Quốc
1
Trang 4M ĐẦẦU Ở
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, quyền lực cứng
đã không còn phù hợp Thay vào đó, quyền lực mềm đang ngày càng khẳng địnhđược vị trí và tầm quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia, không nhữngthế, quyền lực mềm còn là công cụ để giúp nhiều quốc gia nâng cao vị thế của mìnhtrên trường quốc tế
Là một trong những quốc gia đứng đầu về mức độ thành công của việc xây
dựng và phát huy tốt quyền lực mềm, Hàn Quốc hướng tới 3 lĩnh vực chính là chính
sách quốc gia, hệ giá trị quốc gia và văn hóa quốc gia Trong đó văn hóa quốc gia
là lĩnh vực được ưu tiên hơn cả, tập trung cho các chiến lược văn hóa Một trong sốnhững thành công phải kể đến là làn sóng Hallyu Thuật ngữ “Làn sóng Hallyu” đãđược sử dụng để mô tả sự phổ biến ngày càng tăng của văn hóa đại chúng, Hallyubùng nổ trên các phương tiện truyền thông trên toàn thế giới tạo ra một hiệu ứnggợn sóng Chính phủ Hàn Quốc đã tận dụng mọi nguồn lực này và bắt đầu hỗ trợcác ngành truyền thông Hàn Quốc xuất khẩu văn hóa đại chúng Sự phát triển củaHallyu đã thành công quảng bá hình ảnh con người cũng như đất nước Hàn Quốc ravới thế giới Nhận thấy được tầm ảnh hưởng cũng như vai trò to lớn của làn sóng
Hallyu với quyền lực mềm của Hàn Quốc, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Làn
sóng Hallyu trong chiến lược quyền lực mềm của Hàn Quốc – Nghiên cứu trường hợp K-Pop và K-Dramas”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi nhắc đến quyền lực mềm, chắc hẳn đây là đề tài đã không còn xa lạ Mộtcuốn sách về quyền lực mềm được xuất bản năm 2004 là “Soft power: The mean toSuccess in World Politics” của tác giả Joseph Nye, người đã đưa ra định nghĩa vềquyền lực mềm, các nguồn lực tạo ra quyền lực mềm của Mỹ hay vai trò của quyềnlực mềm được đặt trong mối quan hệ cùng chính sách đối ngoại của nước này Bêncạnh đó, ông cũng nói lên bản chất đang dần thay đổi của loại quyền lực này cũngnhư các thức thức thi nó Trong “The Routledge Handbook of Soft Power” đượcxuất bản đầu tiên năm 2017 bởi Routledg Đây là tập đem tới bức tranh toàn cảnh
Trang 5và chi tiết về quyền lực mềm và có giá trị rất lớn trong các cuộc thảo luận về chínhsách và truyền thông Cuốn sổ tay sáng tạo này cung cấp một nguồn tài liệu chínhxác cho sinh viên và học giả đang tìm cách làm quen với các cuộc tranh luận tiêntiến và nghiên cứu trong tương lai về quyền lực mềm.
Trong hơn thập kỷ phát triển, văn hóa đại chúng Hàn Quốc dần vượt quaranh giới của quốc gia, đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia thành công trong lĩnh vựcxuất khẩu văn hóa
Về lĩnh vực K-Pop và K-Dramas, trong điều kiện khả năng, nhóm chúng em
có tìm thấy một số nghiên cứu liên quan Trong đó, nghiên cứu có tính quan trọng là
“The Korean Wave: Korean Media Go Global” của Youna Kim Trong nghiên cứunày có đề cập đến khái niệm quyền lực mềm, những biểu tượng góp phần quảng báhình ảnh văn hóa Hàn Quốc là K-pop và K-Dramas cũng như cách nhìn nhận đốivới Hallyu từ bên trong cũng như bên ngoài Hallyu White Paper 2018 và 2019 đưa
ra số liệu, báo cáo, các thành tựu đã đạt được cũng như phương hướng phát triển,ngoài ra không nhắc đến những vấn đề khác nữa
Tuy nhiên, dù ở Việt Nam hay phạm vi trên thế thế giới, lại chưa có nghiêncứu đặt trường hợp làn sóng Hallyu (bao gồm cả âm nhạc và phim ảnh Hàn) vàotrong mối quan hệ với chiến lược quyền lực mềm của một quốc gia Hầu như nhữngnghiên cứu đi trước chỉ nghiên cứu cụ thể từng khía cạnh, như nghiên cứu tập trungvào quyền lực mềm hay làn sóng Hallyu một cách riêng biệt
Do vậy, nhóm chúng em nhận thấy rằng, chưa có một nghiên cứu đưa lànsóng Hallyu vào trong mối quan hệ với quyền lực mềm dù trong phạm vi trongnước hay ngoài nước Với đề tài: “Làn sóng Hallyu trong chiến lược quyền lựcmềm của Hàn Quốc – Nghiên cứu trường hợp K-Pop và K-Dramas” nhóm chúng
em hi vọng rằng mình có thể đưa ra một cái nhìn tổng quan từ việc lồng ghép haikhái niệm Đồng thời nhóm cũng mong rằng,thông qua đề tài này có cung cấp chongười đọc một cách đầy đủ để tiếp cận và hiểu rõ hơn về làn sóng Hallyu cũng nhưtrong mối quan hệ với quyền lực mềm
3 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
3
Trang 63.1 Câu hỏi nghiên cứu
Bài luận tập trung trả lời hai câu hỏi sau:
1 Làn sóng Hallyu đóng vai trò như thế nào trong chiến lược quyền lực mềmcủa Hàn Quốc?
2 Hai trường hợp K-Pop và K-Dramas đã đóng góp như thế nào vào làn sóngHallyu?
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của bài luận này nhằm đem lại một cái nhìn tổng quan về làn sóngHallyu cũng như quyền lực mềm; tiếp đó là đi vào hai trường hợp cụ thể là K-Pop
và K-Dramas, từ đó đưa ra một số đánh giá chung về vai trò của làn sóng Hallyucũng như đưa ra một vài bài học cho Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là làn sóng Hallyu trong quyền lực mềmcủa Hàn Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: nghiên cứu những thông tin liên quan đến quyền lực mềmcủa Hàn Quốc, từ đó đi sâu vào nghiên cứu làn sóng Hallyu trong quyền lực mềmcủa quốc gia này
Phạm vi thời gian: đề tài chủ yếu nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2009đến nay
Phạm vi không gian: đề tài lấy Hàn Quốc làm trọng tâm nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề được nghiên cứu, bài luận sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau đây:
Trang 7Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và phương pháp thống kê số liệu:Đây là hai phương pháp chủ đạo được sử dụng trong bài nghiên cứu này Phân tích
và tổng hợp tài liệu nhằm khai thác được những khía cạnh khác nhau của vấn đề,liên kết những mặt, những thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được tạo thànhchỉnh thể hoàn chỉnh để tạo nên một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về chủ đềđược nghiên cứu Phương pháp thống kê số liệu được thực hiện song song vớiphương pháp phân tích và tổng hợp đã đề cập ở phía trước, nhằm đưa ra những con
số thống kê, từ đó tăng độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đây là một trong những phương phápnghiên cứu quan trọng nhất, hay được dùng, đặc biệt trong khoa học xã hội nóichung và nghiên cứu quan hệ quốc tế nói riêng Thông qua xem xét ngôn từ của cácvăn bản, phát biểu của các tổ chức cá nhân có liên quan đến sự kiện, nhóm cóthêm dữ liệu để phân tích và đánh giá các sự kiện, hiện tượng được nhắc đến
6 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục viết tắt và danh mục tài liệutham khảo, bài luận gồm có 03 chương sau:
Chương 1 Tổng quan về quyền lực mềm của làn sóng Hallyu
Ở chương 1, chương đầu tiên sẽ trình bày những khái niệm về quyền lựcmềm, làn sóng Hallyu và vai trò của quyền lực mềm trong chính sách đối ngoại cácquốc gia
Chương 2 Làn sóng Hallyu trong quyền lực mềm
Ở chương 2, bài nghiên cứu này sẽ tập trung trình bày về làn sóng Hallyutrong sức mạnh mềm của Hàn Quốc, cụ thể hơn là hai trường hợp K-Pop và K-Dramas
Chương 3 Một vài đánh giá về làn sóng Hallyu
Tại chương 3, chương này sẽ đưa ra một vài đánh giá chung về làn sóngHallyu và rút ra một vài bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
5
Trang 8Ch ng 1 T ng quan vềề quyềền l c mềềm c a làn sóng Hallyu ươ ổ ự ủ 1.1 Khái ni m vềề quyềền l c mềềm ệ ự
“Quyền lực mềm” là khái niệm do Giáo sư Joseph S Nye, JR đưa ra vào1cuối những 1980 Định nghĩa ban đầu của Joseph Nye về quyền lực mềm lần đầu2tiên được đề cập trong cuốn Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (Nhảy vọt để dẫn đầu: Sự biến đổi bản chất của quyền lực Mỹ) là “dùng khả
năng đạt được những mục đích của mình thông qua việc gây ảnh hưởng khiến ngườikhác tự nguyện làm theo những gì mình mong muốn.” Đến năm 1999, Giáo sư đưa3
ra một khái niệm cụ thể hơn: “Quyền lực mềm là kết quả lý tưởng có được thôngqua sức hấp dẫn của văn hoá và ý thức hệ chứ không phải quyền lực cưỡng chế củamột quốc gia, có thể làm cho một người khác tin phục đi theo mình, hoặc tuân theocác tiêu chuẩn hành vi hay chế độ do mình định ra để hành xử theo ý tưởng củamình Quyền lực mềm dựa vào sức thuyết phục của thông tin ở mức độ rất lớn.”
Gần đây nhất, trong cuốn Soft Power: The Means to Success in World
Politics (Quyền lực mềm: Ý niệm mới về thành công trong chính trị thế giới) phát
hành năm 2004 ông đã tiếp tục phát triển khái niệm Quyền lực mềm như sau:
“Quyền lực mềm là khả năng đạt được những gì bạn muốn thông qua sự hấp dẫnhơn là ép buộc hoặc thanh toán Nó phát sinh từ sự hấp dẫn của nền văn hóa, lýtưởng chính trị và các chính sách của quốc gia.” Khác với Quyền lực cứng dùng4chiến lược tập trung vào can thiệp quân sự, ngoại giao cưỡng bức và trừng phạt kinh
tế để gia tăng lợi ích quốc gia ví dụ như chính sách của Mỹ đối với Iran trong vấn
đề hạt nhân Đôi khi ta có thể đạt được những gì mình mong muốn mà không cầnđến “cây gậy và củ cà rốt” Một quốc gia có thể thuyết phục quốc gia khác bằng giá5trị và thành tựu chứ không chỉ buộc họ phải thay đổi bằng đe dọa quân sự haynhững chế tài về kinh tế Không chỉ là sự thuyết phục, Quyền lực mềm theo Giáo sư
1 Joseph S Nye, JR (19/01/1937) nguyên là hiệu trưởng Trường Hành chính John F Kennedy thuộc Đại học Havard Ông từng là trợ lý của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Chủ tịch Ủy ban tình báo quốc gia, là cha đẻ của
lý thuyết quyền lực mềm.
2 Tuy nhiên, các tiền đề ra đời khái niệm quyền lực mềm hay sức mạnh mềm đã có từ sớm vì nhà nghiên cứu người Mỹ E H Carr từ năm 1939 đã phân loại quyền lực quốc tế thành 3 nhóm: quyền lực quân sự, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng tức là quyền lực mềm.
3Nye Joseph, Bound to Lead: The Changing Nature of American Power, New York: Basic Books, 1990.
4 Joseph Nye(2004), Quyền lực mềm: Ý niệm mới về thành công trong chính trị thế giới, Nxb Tri thức, Hà
Nội, tr 7.
5 Một kiểu chính sách ngoại giao trong quan hệ quốc tế, thường được dùng bởi các nước lớn mạnh nhằm làm thay đổi hành vi của các nước nhỏ hơn “Cây gậy” tượng trưng cho sự đe dọa hoặc trừng phạt, “củ cà rốt” tượng trưng cho quyền lợi hay phần thưởng.
Trang 9Nye, là khả năng lôi cuốn và quyền lực hấp dẫn các đối tác mong muốn đạt đượcđiều mà bạn cũng muốn, tạo điều kiện để hợp tác hơn là cưỡng chế Quyền lực mềmkhông giống với sự ảnh hưởng vì sự ảnh hưởng cũng có thể được tạo ra bởi quyềnlực cứng của sự đe dọa hoặc các khoản thanh toán Quyền lực cứng và quyền lựcmềm có liên hệ với nhau Chúng là hai khía cạnh thể hiện năng lực giành được mụctiêu của một người bằng việc tác động lên hành vi của những người khác Quyềnlực mềm là sự bồi đắp cho những khiếm khuyết của quyền lực cứng chứ không phải
là sự phản chiếu hay mặt đối lập của quyền lực cứng Việc thu hút đó có thể manglại những kết quả chính sách mong muốn hay không phải được xem xét trong từngbối cảnh cụ thể Một quốc gia khi chịu sự suy thoái kinh tế và quân sự có thể mất đikhông chỉ về các nguồn quyền lực cứng mà còn mất một số khả năng định hìnhchương trình nghị sự quốc tế và một vài tính hấp dẫn của nó Một số quốc gia có thểthu hút các nước khác với quyền lực cứng được cho là bất bại.1
Quyền lực mềm dựa trên khả năng định hình những mong muốn của ngườikhác, xét theo cấp độ cá nhân, chúng ta đều bị hấp dẫn bởi quyền lực của sự thu hút
và sự quyến rũ Trong giới kinh doanh, một người lãnh đạo tốt chỉ biết ra lệnh thôi
là chưa đủ mà còn là dẫn dắt bằng ví dụ, làm gương và thu hút nhân viên bằng giátrị của mình để họ làm những gì bạn muốn Quyền lực của một lãnh đạo sẽ lớn hơnnếu người đó có thể làm cho những người khác chia sẻ và đóng góp vào hệ giá trịcủa mình Điều này được thực hiện dần dần, kết hợp với những thứ không nhìn thấyđược, chẳng hạn như tính cách, các giá trị, sự định hướng và một tầm nhìn đượcxem là hợp lý và có đạo đức Trong các nền dân chủ, sự cưỡng ép không phải là lựachọn hàng đầu, các nhà lãnh đạo dùng quyền lực mềm như một yếu tố chủ yếu củachính trị, với ưu thế tạo ra sự đồng thuận, huy động được vốn xã hội với chi phí ítnhất và đặc biệt là huy động được sự tham gia tự nguyện lớn nhất, các mục tiêu nhưthúc đẩy dân chủ trong một quốc gia sẽ dễ dàng đạt được hơn
Theo Giáo sư Nye: “Quyền lực mềm của bất kỳ quốc gia chủ yếu xuất phát
từ ba nguồn: văn hóa của quốc gia đó (ở những điểm hấp dẫn người khác), các giá
1 Joseph Nye (2004), Quyền lực mềm: Ý niệm mới về thành công trong chính trị thế giới, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr 34.
7
Trang 10trị chính phủ (đạt kỳ vọng trong nước và nước ngoài) và các chính sách đối ngoại(khi được cho là hợp pháp, đầy đủ thẩm quyền và hợp với đạo đức)”.2
Khi xếp theo thứ tự quan trọng, nguồn đầu tiên là văn hóa, văn hóa là tập hợpcác giá trị và tập tục tạo ra ý nghĩa cho một xã hội Ta có thể phân biệt dân tộc nàyvới dân tộc khác thông qua yếu tố văn hóa Văn hoá được chia thành hai loại hình:văn hoá hàn lâm và văn hoá đại chúng, cả hai đều có thể trở thành nguồn quyền lựcmềm có tác động khác nhau đối với từng đối tượng và phụ thuộc vào bối cảnh tiếpnhận Văn hóa hàn lâm có giáo dục, nhạc thính phòng, kịch cổ điển, điển tích,…tácđộng tới một nhóm đối tượng không lớn hầu hết thuộc tầng lớp thượng lưu nhưng
có sức ảnh hưởng mạnh đến các cấp nhà nước và việc quản lý xã hội như hoạchđịnh chính sách Bên cạnh đó, văn hoá đại chúng có phim truyền hình, điện ảnh,chương trình truyền hình, thời trang, thể thao,…tác động đến nhóm đối tượng rấtlớn gồm nhiều tầng lớp trong xã hội Những diễn viên, thần tượng, vận động viênthể thao,… trong trường hợp này chính là những chủ thể quảng bá hình ảnh, giatăng quyền lực mềm cho quốc gia Khác biệt văn hóa là một trong những nguyênnhân chính khiến các quốc gia có cách tiếp cận vấn đề và mong muốn những lợi íchkhác nhau Do đó mức độ phổ biến và được chấp nhận của văn hoá một quốc gia làmột nguồn then chốt của quyền lực mềm Khi văn hoá của một quốc gia được chấpnhận rộng rãi thì nó sẽ làm tăng khả năng đạt được các kết quả mong muốn vì đãphai bớt phần nào sự khác biệt văn hóa và các chủ thể khác sẽ tự nguyên làm theo
để đạt được lợi ích chung Một số nhà phân tích coi quyền lực mềm đơn giản làquyền lực văn hóa đại chúng Tuy nhiên, họ đã sai khi đánh đồng hành vi quyền lựcmềm với các nguồn lực văn hóa mà đôi khi nó chính là nguồn sản sinh ra quyền lựcmềm Họ nhầm lẫn giữa tài nguyên văn hóa với hành vi thu hút Ví dụ, nhà sử họcNiall Ferguson đã mô tả quyền lực mềm là “những sức mạnh phi truyền thống nhưcác sản phẩm văn hóa và thương mại” và sau đó ông bác bỏ nó với lý do “thực rathì, nó rất mềm” Điều này không đồng nghĩa với việc phủ nhận rằng văn hóa đạichúng là một nguồn lực tạo ra quyền lực mềm, nhưng như chúng ta đã phân tích ởtrên, hiệu quả của bất kỳ nguồn quyền lực nào cũng phải phụ thuộc vào bối cảnh
2 Joseph Nye (2004), Quyền lực mềm: Ý niệm mới về thành công trong chính trị thế giới, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr 38.
Trang 11Thương mại chỉ là một trong những cách truyền tải văn hóa Sự trao đổi văn hóacũng diễn ra thông qua liên hệ cá nhân, thăm hỏi và trao đổi.
Chính sách nhà nước cũng được coi là một nguồn quyền lực mềm tiềm tàngkhác Các chính sách có thể làm suy giảm hoặc gia tăng quyền lực mềm của mộtquốc gia, những chính sách đối nội hay đối ngoại nào có vẻ đạo đức giả, kiêu ngạo
và thờ ơ trước ý kiến của người khác, hoặc dựa trên cách tiếp cận thiển cận phục vụcho lợi ích của quốc gia có thể làm suy yếu quyền lực mềm Ví dụ, phong trào phânbiệt chủng tộc trong nước Mỹ những năm 1950 đã làm suy giảm quyền lực mềmcủa Mỹ ở Châu Phi, hay việc áp dụng án tử hình và luật kiểm soát súng đạn lỏng lẻo
đã làm suy yếu quyền lực mềm của Mỹ ở Châu Âu Tương tự, chính sách có tínhhợp pháp, đầy đủ thẩm quyền và hợp đạo đức ảnh hưởng lớn đến quyền lực mềm.Trong những trường hợp cụ thể, cộng đồng thường có xu hướng dễ dàng chấp nhận
và ủng hộ những quyết định đến từ một quốc gia có những chính sách hợp pháp,hợp đạo đức và đẩy đủ thẩm quyền Hàn Quốc thực hiện “Chính sách Ánh Dương”1nhằm thúc đẩy quan hệ với Triều Tiên, chính sách Ánh Dương được đánh giá làđường lối đối ngoại mềm dẻo và hiệu quả nhất của Hàn Quốc trong mục tiêu chấmdứt “chiến tranh lạnh” trên bán đảo Triều Tiên
Các giá trị chính trị của một chính phủ (đạt kỳ vọng trong nước và nướcngoài) ảnh hưởng mạnh đến sự ưa thích của các quốc gia khác Các chính phủ cóthể thuyết phục hoặc đẩy lùi người khác từ hành động của họ Cách ứng phó củaThủ tướng Đức Angela Merkel với đại dịch Covid đạt được sự tín nhiệm của côngchúng trong nước và Đức cũng được các nhà chuyên môn đánh giá là quốc gia xử lýđại dịch tốt đáng kể so với số ca nhiễm khổng lồ ghi nhận tại các nước Châu Âu Theo bảng xếp hạng Global Soft Power Index 2021 (chỉ số quyền lực mềm toàncầu) của Brand Finance , Đức đã vượt qua Mỹ, giành vị trí hàng đầu Tuy nhiên 2Giáo sư Nye cho rằng quyền lực mềm không thuộc về chính phủ xét trong cùng một
1 Chính sách Ánh Dương là một chính sách ngoại giao mà Hàn Quốc áp dụng với Triều Tiên từ năm 1998 cho đến cuộc bầu cử tổng thống Lee Myung-bak năm 2008 Từ khi được đề xuất dưới thời tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung, chính sách này đã mang lại sự hợp tác chính trị to lớn hơn cũng như một vài thời khắc lịch sử trong quan hệ liên Triều Hai cuộc họp thượng đỉnh liên Triều diễn ra tại Bình Nhưỡng (tháng 6 năm
2000 và tháng 10 năm 2007) đã đem đến một số dự án kinh tế thu hút sự chú ý của dư luận và những cuộc gặp mặt ngắn ngủi của những gia đình bị chia cắt bởi Chiến tranh Triều Tiên.
2 Chỉ số Quyền lực mềm Toàn cầu là kết quả của một nghiên cứu thực địa mang tính đột phá với hơn 75.000 người được hỏi ở 100 quốc gia Nó cho phép chúng ta thấy tổng thể cách thế giới nhìn nhận về các quốc gia quyền lực mềm hàng đầu Xem tại https://brandirectory.com/globalsoftpower/
9
Trang 12mức độ với quyền lực cứng Chẳng hạn như một số nguồn quyền lực cứng thuộc vềchính phủ như lực lượng vũ trang, tài nguyên thiên nhiên,…Trái lại, nhiều nguồnquyền lực mềm khác biệt so với chính phủ và chỉ đáp ứng được một phần trong cácmục đích, như trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, nền văn hóa đại chúng Mỹthường gây bất hòa với các chính sách chính thức của chính phủ Mỹ.1
1.2 Vai trò c a quyềền l c mềềm trong chính sách đốối ngo i c a quốốc gia ủ ự ạ ủ
Chính sách đối ngoại hay chính sách ngoại giao của một quốc gia là tập hợpcác chiến lược mà quốc gia đó sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc giakhác và các tổ chức quốc tế, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa –
xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi ích của quốc gia
đó Vai trò của chính sách đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trongthời đại toàn cầu hóa ngày nay, khi một quốc gia không thể tồn tại biệt lập và sựgiao lưu, hợp tác ngày càng được chú trọng Quyền lực mềm là một cụm từ gây2tranh cãi sôi nổi kể từ khi nó lần đầu được nhắc đến trong suốt hai thập kỷ Nhữngngười theo chủ nghĩa hoài nghi về quyền lực mềm cho rằng tính đại chúng chỉ làphù phiếm và chẳng nên dẫn dắt chính sách đối ngoại trong bất kỳ trường hợp nào.Đặc biệt là sau sự kiện 11/9, mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia đãlàm gia tăng điểm yếu của Mỹ, sự chỉ trích đối với quyền lực mềm đã lên tới đỉnhđiểm Đúng là chủ nghĩa nghĩa khủng bố phụ thuộc rất nhiều vào quyền lực mềmcho chiến thắng cuối cùng của nó, nó phụ thuộc vào khả năng thu hút sự chú ý củađám đông cũng nhiều như khả năng tiêu diệt ý chí chiến đấu của kẻ thù, tuy nhiên
nó cũng có nguồn gốc xã hội sâu xa hơn
Giáo sư Nye cho rằng, thật sai lầm khi coi nhẹ quyền lực mềm chỉ như mộtcâu hỏi về hình ảnh, những mối quan hệ công chúng và sự phổ biến không thể kéodài Ông nhấn mạnh rằng sử dụng quyền lực mềm sẽ giúp một quốc gia đạt đượcnhiều kết quả mong muốn mà không cần phải thuyết phục nhiều, nếu xem nhẹ tầmquan trọng của sức hấp dẫn đối với các nước khác thì quốc gia sẽ phải trả giá
1 Joseph Nye (2004), Quyền lực mềm: Ý niệm mới về thành công trong chính trị thế giới, Nxb Tri thức, Hà
Nội, tr 45-46
2 Nguyễn Vĩnh Hằng, N (25/01/2015) Chính sách đối ngoại (Foreign policy) Nghiên Cứu Quốc Tế Xem
tại http://nghiencuuquocte.org/2015/01/25/chinh-sach-doi-ngoai/ (Truy cập ngày 13/11/2021)
Trang 13Quyền lực mềm đóng vai trò rất lớn đối với các khía cạnh quan trọng trong chínhsách đối ngoại của các quốc gia
Để hiểu được tầm quan trọng ngày càng tăng của quyền lực mềm trong cácvấn đề đối ngoại của một quốc gia, sẽ dễ dàng hơn khi minh họa bằng một trườnghợp cụ thể: Khi “Hòa bình và Phát triển” đã trở thành chủ đề trong thế giới toàn cầuhóa ngày nay, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế ngày càng được các nước trênthế giới coi trọng Tại Trung Quốc, ngoại giao văn hóa đã phát huy vai trò ngàycàng quan trọng trong những năm gần đây, và “Viện Khổng Tử” chính là thươnghiệu nổi bật nhất trong các hoạt động tuyên truyền văn hóa ra nước ngoài của TrungQuốc Chính phủ Trung Quốc muốn nâng cao quyền lực mềm trong chiến lượcngoại giao văn hóa của mình Có thể nói việc xây dựng Viện Khổng Tử tại nướcngoài là một dự án lớn của Trung Quốc, cũng là một chiến lược ngoại giao văn hóacủa nước này trong đầu thế kỷ XXI Tính từ năm 2004 đến tháng 12 năm 2014, đã
có 475 Viện Khổng Tử, 851 lớp học Khổng Tử được thành lập tại 126 quốc gia vàkhu vực, Viện Khổng Tử đã trở thành “khuôn cửa” quan trọng cho các nước vànhân dân thế giới tìm hiểu về Trung Quốc Sự phát triển với tốc độ nhanh chóng củaViện đạt được nhiều thành tựu khiến người ta kinh ngạc, tầm ảnh hưởng của TrungQuốc trên trường quốc tế ngày càng lớn và vị thế trong cộng đồng quốc tế khôngngừng nâng cao làm cho cả thế giới mong muốn tìm hiểu văn hóa Trung Quốc, cũngnhư mở rộng tầm ảnh hưởng của Hán ngữ.1
1.3 T ng quan vềề Quyềền l c mềềm c a làn sóng Hallyu ổ ự ủ
1.3.1 Lịch sử hình thành
Mặc dù, trên thực tế một thời gian đã trôi qua kể từ khi cụm từ “Quyền lựcmềm” được giới thiệu như một nguyên tắc của nghiên cứu khoa học, nó vẫn là mộtkhái niệm mơ hồ và đa nghĩa, thường được đưa vào hoạt động khoa học xã hội vàchính trị nhằm cố gắng giải thích sự phức tạp của thế giới đương đại
Sự năng động của các luồng văn hóa trong khu vực Đông Á đã cho thấy mộtthực tế là quyền lực mềm đã thu hút sự chú ý không chỉ của các nhà khoa học và
1Đỗ, T V (2015) VIỆN KHỔNG TỬ VÀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRUNG QUỐC: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
BÊN TIẾP NHẬN xem tại http://repository.ulis.vnu.edu.vn/handle/ULIS_123456789/583 (Truy cập 12/12/2021)
11
Trang 14còn có các chính phủ và các tổ chức xuyên quốc gia Không phải ngẫu nhiên màHàn Quốc đã nắm bắt được cơ hội ngoại giao và nâng tầm vị thế của văn hóa đạichúng lên thành một ngành kinh tế, lan tỏa K-Pop và K-Dramas trước tiên ở trongkhu vực (liên Châu Á) sau đó lan rộng ra toàn cầu Trong cuộc cạnh tranh tầm khuvực và thế giới này để chinh phục lượng khán giả lớn hơn, chính phủ Hàn Quốc đãđóng vai trò hết sức tích cực kể từ những năm 1980 Ngay sau khi chế dộ độc tàisụp đổ vào năm 1987, thị trường truyền hình đã được tự do hóa ở Hàn Quốc Cuộcchiến “phim truyền hình” trong nội bộ ba đài truyền hình lớn của Hàn Quốc (MBN,SBS, và KBS) kết hợp với áp lực đến từ truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh đãkhiến chính phủ Hàn phải thành lập Cục Công nghiệp Văn hóa đầu tiên trong BộVăn hóa và Thể thao vào năm 1994 để tiến hành các chiến lược văn hóa nhằm xuấtkhẩu các sản phẩm văn hóa đại chúng ở cấp độ quốc tế Đến năm 2009, Hàn Quốc
đã tiến thêm một bước và thành lập “Hội đồng Tổng thống về Thương hiệu Quốcgia” với mục đích nâng cao vị thế và sự uy tín của Hàn Quốc trong cộng đồng Quốc
tế bằng cách thực hiện chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia một cách có hệthống và toàn diện
Chiến lược của chính phủ Hàn Quốc gồm hai phần cấu thành: một mặt, sựlan tỏa của làn sóng Hallyu cho thấy các giá trị văn hóa mang tính đa chiều, nókhông phải là vấn đề mà khán giả hay công chúng biết về ngôn ngữ nào mà còn baohàm sự lưu chuyển của các chủ đề tường thuật chung về con người, sự tương tác sảnxuất và tiêu dùng qua biên giới quốc gia, hay chất lượng của các sản phẩm văn hóa.Điều này đã giải thích tại sao gặp bất lợi ban đầu về ngôn ngữ nhưng làn sóngHallyu vẫn thành công như vậy, sử dụng văn hóa đa dạng của Hàn Quốc làm lợi thếcủa nó Có thể cho rằng, kinh nghiệm lịch sử về thuộc địa hóa và giao lưu văn hóacủa Hàn Quốc với các nước khác là thế mạnh của văn hóa Hàn Quốc, đã tiếp nhậnvăn hóa nước ngoài trong một thời gian dài, họ đã có được kinh nghiệm về việc chắtlọc văn hóa du nhập thành của riêng mình, có thể được đánh giá là một yếu tố giúpcác sản phẩm văn hóa của Hàn Quốc thu hút khán giả trong khu vực và quốc tế Cácsản phẩm nổi tiếng của Hàn Quốc đồng thời được coi là đặc biệt (thuộc về Đông Á)
và thông dụng (thể hiện các giá trị mà người ta có thể nhận thấy trên toàn thế giới)
và như vậy chúng là biểu hiện của “chủ nghĩa tôn vinh” đặc trưng cho các sản phẩm
Trang 15truyền thông hiện đại Giáo sư Shin Gi-Wook đã nhấn mạnh rằng nghịch lý của toàncầu hóa có hai khuynh hướng rõ ràng là trái ngược nhau ở Hàn Quốc: cách tiếp cậntoàn cầu hóa theo chủ nghĩa dân tộc và đề cao bản sắc dân tộc/ bản sắc dân tộc nhưmột phản ứng đối với toàn cầu hóa Như ông đã nhấn mạnh, mặc dù Hàn Quốc đangtoàn cầu hóa (về kinh tế, xã hội và văn hóa) nhưng phản ứng của người Hàn đối vớitoàn cầu hóa được hình thành bởi tư tưởng chủ nghĩa dân tộc, nền tảng của sự pháttriển của quốc gia họ Hơn nữa, sự tồn tại của chủ nghĩa dân tộc trong quá trình toàncầu hóa của Hàn Quốc vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với việc sử dụng văn hóa HànQuốc (văn hóa hàn lâm và văn hóa đại chúng) như một phương tiện để đạt đượcmục tiêu toàn cầu hóa kiểu Hàn Riêng về mặt này, làn sóng Hallyu ngày càng đượccoi là một giải pháp thay thế cho toàn cầu hóa văn hóa do Mỹ và phương Tây thốngtrị, một kiểu toàn cầu hóa mới bao gồm trong các sản phẩm văn hóa của nó cả yếu
tố phương Tây và phương Đông Mặt khác, trong quá khứ gần đây, đặc biệt là trongthời kỳ thuộc địa, chiến tranh Triều Tiên và quá trình chuyển từ chế độ độc tài sangnền dân chủ sau đó Hàn Quốc đã nhận thấy quyền lực mềm trong lĩnh vực văn hóanhư một phương tiện để vượt qua sự lưỡng nan văn hóa (cultural marginality) của
họ.1
1.3.2 Khái quát về làn sóng Hallyu
Ở khu vực Đông Bắc Á, vào những năm 60 thế kỷ 20, Hàn Quốc bị coi làmột quốc gia lạc hậu, so với Nhật Bản và Trung Quốc thì Hàn Quốc kém xa về mặtkinh tế và quân sự Nhưng hiện tại, quốc gia này không chỉ là một trong những trụcột kinh tế Châu Á, Hàn Quốc còn là một trong mười quốc gia “xuất khẩu” văn hóahàng đầu thế giới Chính phủ Hàn Quốc từ lâu đã hiểu rõ và nhấn mạnh sự tập trungvào quyền lực mềm Để thực thi quyền lực mềm, Hàn Quốc chú trọng phát triển vănhóa quốc gia (thay đổi chính sách kiểm duyệt văn hóa, chính phủ cũng đòi hỏi cấpthiết là trong sự thay đổi đó phải có ý nghĩa tích cực, ưu tiên cho những giá trị vănhóa quốc gia,…), chính sách ngoại giao (ngoại giao công chúng, ngoại giao văn
hóa), tích cực chủ động tham gia vào các liên minh cân bằng, tổ chức quốc tế
1 Kim Young Mi & Marinescu Valentina (2015), Mapping South Korea’s soft power: Sources, actors, tools,
and impact, Romanian Journal of Sociological Studies, vol 2015, no 1, pp 1-10
13
Trang 16Park Gil-sung (2013), giáo sư của Đại học Hàn Quốc và là chủ tịch của Hiệphội Nghiên cứu Hallyu thế giới (World Association for Hallyu Studies), đã có cuộctrò chuyện với phóng viên nhật báo The Korea Herald tại văn phòng của ông ởSeoul: “Trước khi có Hallyu, mọi người biết tới Hàn Quốc qua Chiến tranh TriềuTiên, nghèo đói và đất nước nhiều công nhân ngành thâm dụng lao động Nhưngsau Hallyu, mọi người bắt đầu nhận được nhiều thông tin mới - Hàn Quốc hiện làmột đất nước năng động với văn hóa đại chúng, ẩm thực và hơn thế nữa, với nhữngsản phẩm tuyệt vời Việc ngày càng có nhiều người học ngôn ngữ, bản chất của mộtnền văn hóa, vì mục đích hiểu biết chứ không phải vì mục đích kinh doanh, là điềurất đáng khích lệ”1
Thuật ngữ Hallyu (韩流), còn gọi là Hàn lưu hay làn sóng Hallyu, lần đầuđược nhắc tới trên Nhật báo Thanh niên Bắc Kinh (北京青年报) vào tháng 11 năm
1999 khi miêu tả một bộ phận giới trẻ của quốc gia này bày tỏ sự yêu thích của
mình với các sản phẩm âm nhạc đến từ Hàn Quốc Tại Hàn Quốc, Hallyu đã trởthành một từ thông dụng sau sự thành công của buổi biểu diễn đầu tiên của nhómnhạc H.O.T ở Trung Quốc vào tháng 2 năm 2002
Một số định nghĩa về làn sóng Hallyu là “sự ưa thích nhiệt tình đối với vănhóa đại chúng Hàn Quốc” hay như Joseph Nye đã định nghĩa làn sóng Hallyu là “sựphát triển ngày càng đại chúng của mọi thứ có nguồn gốc từ Hàn Quốc, từ thờitrang, phim ảnh đến âm nhạc và ẩm thực.”2
Sự yêu thích của công chúng đối với văn hóa Hàn Quốc do làn sóng Hallyutạo ra tự nhiên đã dẫn đến việc tiêu thụ hàng loạt các sản phẩm và ý tưởng liên quanđến Hàn Quốc, từ đó dẫn đến việc hình thành những hình ảnh, nhận thức và quanđiểm cụ thể về Hàn Quốc của người dân ở các quốc gia có làn sóng Hallyu tồn tại
Vì lý do đó, làn sóng Hallyu có thể trở thành một nguồn lực mềm rất quan trọng, cókhả năng phát triển quyền lực mềm của Hàn Quốc Vai trò và sức mạnh của văn3
1 Bae Ji-sook (2013, February 12) ‘Hallyu could be a stepping stone for peace.’ The Korea Herald Retrieved December 8, 2021, from http://www.koreaherald.com/view.php?
ud=20130212001036&ACE_SEARCH=1
2 Joseph Nye (2009), "South Korea's Growing Soft Power", Harvard University, xem t iạ
https://www.belfercenter.org/publication/south-koreas-growing-soft-power (truy c p ngày 29/11/2021)ậ
3 Geun, L (2009) A soft power approach to the “Korean wave” The review of Korean studies, 12(2), pp.
123-137.
Trang 17hóa Hàn Quốc trong phát triển quyền lực mềm đã nhen nhóm xuất hiện từ rất sớm.Cựu Tổng thống Chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân Quốc - Kim Gu đã từng viếttrong tập tự truyện “Backbeom Ilji” xuất bản lần đầu vào năm 1947 của mình: “Tôimuốn quốc gia chúng ta trở thành quốc gia đẹp nhất trên thế giới Ý tôi không phải
là quốc gia hùng mạnh nhất Bởi vì tôi đã cảm nhận được nỗi đau khi bị xâm lượcbởi một quốc gia khác, tôi không muốn đất nước mình đi xâm lược Sự giàu có củachúng ta làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên phong phú là đủ, sức mạnh củachúng ta đủ để ngăn chặn các cuộc ngoại xâm là đủ Điều duy nhất tôi mong muốn
có được vô hạn là sức mạnh của một nền văn hóa cao quý Đó là vì sức mạnh củavăn hóa không những khiến chúng ta hạnh phúc mà còn lan tỏa sự hạnh phúc chonhiều người khác.”1
Khi văn hóa đại chúng của Hàn Quốc lan rộng ra toàn cầu, thu hút đông đảo
sự chú ý của công chúng nhiều quốc gia “Làn sóng Hallyu” thông qua âm nhạc đạichúng và các bộ phim truyền hình đã lan rộng và dần trở thành trào lưu ở khu vựcchâu Á nói riêng và thế giới nói chung, nó đã chứng minh tiềm năng của Làn sóngHallyu như một tập hợp các nguồn quyền lực mềm có thể có tác động đáng kể vàphức tạp đến ngoại giao văn hóa cũng như thương mại, du lịch và lợi ích quốc giatrong nhiều bối cảnh khác nhau
1.3.3 Vai trò của làn sóng Hallyu trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc
Làn sóng Hallyu thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách đốingoại của Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt là ngoại giao công chúng (ngoại giao nhândân); ngoại giao văn hóa Trang web của Bộ Ngoại giao Hàn Quốc (MOFA) chorằng “Hallyu (làn sóng Hallyu) đóng vai trò là một yếu tố quan trọng trong chínhsách ngoại giao công chúng của Hàn Quốc” Ngoại giao công chúng của Hàn Quốcbao gồm việc thúc đẩy quan hệ ngoại giao bằng cách chia sẻ lịch sử, truyền thống,văn hóa, nghệ thuật, các giá trị, chính sách và tầm nhìn của đất nước chúng ta thôngqua giao tiếp trực tiếp với công dân nước ngoài Nâng cao quan hệ ngoại giao và
1 Trích nguyên văn: “I want our nation to be the most beautiful in the world By this, I do not mean the most powerful nation Because I have felt the pain of being invaded by another nation, I do not want my nation to invade others It is sufficient that our wealth makes our lives abundant; it is sufficient that our strength is able
to prevent foreign invasions The only thing that I desire in infinite quantity is the power of a noble culture This is because the power of culture both makes ourselves happy and gives happiness to others.”
15
Trang 18hình ảnh quốc gia bằng cách giành được sự tin cậy của cộng đồng quốc tế và tăngảnh hưởng toàn cầu của Hàn Quốc.1
Khi Tổng thống Lee Myung-bak nhậm chức vào năm 2008, ông đã đưa rakhẩu hiệu “Ngoại giao toàn cầu” Điều này cho thấy điểm thú vị về cách Hàn Quốcđánh giá cao ngành công nghiệp văn hóa của mình Hơn nữa, để thực hiện khẩuhiệu này, chính phủ của Tổng thống Lee đã thành lập “Hội đồng tổng thống về xâydựng thương hiệu quốc gia” có nhiệm vụ thực hiện 10 điểm, một trong những điểmchính là “áp dụng chương trình làn sóng Hallyu” Trong thời kỳ này, việc làn sóngHallyu đã tiên phong trong thành công từ những năm 1990 ở Trung Quốc, bắt đầuđược nhà nước áp dụng như một phần chính sách của chính phủ Lee, nhằm duy trì
sự phổ biến đã đạt được của làn sóng Hallyu Điều này dựa trên kết quả tích cực docác sản phẩm văn hóa có thể giúp đất nước đạt được sự thịnh vượng trong lĩnh vựckinh tế và cải thiện hình ảnh quốc gia Chính sách của Lee Myung-bak đối với lànsóng Hallyu vẫn được chính phủ Hàn Quốc tiếp tục cho đến nay 2
Có thể nói, việc lựa chọn lĩnh vực văn hóa đại chúng gắn với ca nhạc, phimtruyền hình,…làm mũi nhọn trong ngành công nghiệp xuất khẩu văn hóa đã tạo nên
“làn sóng Hallyu” lan tỏa ra toàn cầu, được công chúng các nước đón nhận Lànsóng Hallyu đã tạo cơ hội cho chính phủ Hàn Quốc tận dụng lợi thế của chính sáchvăn hóa và ngoại giao công chúng mới nổi để thúc đẩy lợi thế văn hóa Hàn Quốctrong một thế giới toàn cầu hóa Thành công đó đã đem lại cho Hàn Quốc nhiều lợiích đáng kể, nâng cao đời sống tinh thần của người dân, đưa nền văn hóa gắn vớimột ngành công nghiệp giải trí và trở thành một trong những trụ cột kinh tế của HànQuốc, gia tăng quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc với các nước Làn sóng Hallyu cótác động tích cực và tiềm năng thúc đẩy ngoại giao văn hóa của Hàn Quốc Ảnhhưởng cũng như sức lan tỏa của ngành công nghiệp này cũng tạo ra nhiều hiệu ứngtích cực đối với các lĩnh vực khác của Hàn Quốc như phát triển giá trị thương hiệu,gia tăng bản sắc quốc gia,…
1 Xem tại https://www.mofa.go.kr/eng/wpge/m_22841/contents.do
2 Trisni, S., Nasir, P E., & Isnarti, R (2019) South Korean Government’s Role in Public Diplomacy: A Case Study of the Korean Wave Boom Andalas Journal of International Studies (AJIS) 8, (1), pp 31-42.
Trang 19Ch ng 2 Làn sóng Hallyu trong quyềền l c mềềm c a Hàn Quốốc ươ ự ủ 2.1 Tr ườ ng h p K-Pop ợ
2.1.1 Khái quát chung về K-Pop
K-Pop (Korean popular music) còn được gọi là nhạc pop Hàn Quốc, là mộtthể loại âm nhạc bắt nguồn từ Hàn Quốc như một phần của văn hóa đại chúng HànQuốc Nó bị ảnh hưởng bởi các phong cách và thể loại từ khắp nơi trên thế giới,chẳng hạn như pop, experimental, rock, jazz, phúc âm, hip hop, R&B, reggae,EDM, dân gian, đồng quê và cổ điển dựa trên nguồn gốc âm nhạc truyền thống HànQuốc Văn hóa "thần tượng" K-pop hiện đại được hình thành vào khoảng nhữngnăm 1990 Tuy nhiên, sự xuất hiện của K-Pop đã nhen nhóm từ những năm 1950.Không giống như các thể loại âm nhạc khác, sự khởi đầu của K-Pop hiện nay
có thể được xác định vào ngày 11 tháng 4 năm 1992, khi nhóm Seo Taiji and Boyslần đầu biểu diễn trong một cuộc thi tìm kiếm tài năng trên truyền hình trực tiếp.Chỉ trong vài ngày, bài hát I Know đã leo lên vị trí đầu bảng xếp hạng và phá kỷ lụcgiữ vững vị trí đó trong 17 tuần Việc họ thử nghiệm các phong cách và thể loại âmnhạc khác nhau và tích hợp các yếu tố âm nhạc nước ngoài đã giúp định hình lại vàhiện đại hóa nền âm nhạc đương đại của Hàn Quốc Đây là động lực dẫn đến sựhình thành của tất cả các nhóm nhạc trong ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc,các công ty giải trí lần lượt được ra đời như SM Entertainment được thành lập vào
năm 1995, JYP Entertainment vào năm 1997 và YG Entertainment vào năm 1998
Thu t ng “K-Pop” tr nên ph biêến vào nh ng năm 2000 Trậ ữ ở ổ ữ ước đó, chúng ta đã biêết K-Pop có nghĩa là âm nh c đ i chúng Hàn Quốếc K-Pop trongạ ạ
tiêếng Hàn là 대 중 음 악 Thu t ng này có nghĩa đen là nh c pop Tuy nhiên,ậ ữ ạ
thu t ng này có th h i trang tr ng ho c mang tính văn h c nên nhiêều ngậ ữ ể ơ ọ ặ ọ ười
tr s d ng ẻ ử ụ 가요(ga yo) vì nó có nghĩa là bài hát Nhóm nhạc đầu tiên tồn tại ở
K-Pop là H.O.T., ra mắt vào năm 1996 Đây được coi là nhóm khởi đầu cho nền vănhóa nhạc pop Hàn Quốc Sau một thời gian sa sút trong giai đoạn đầu, với sự xuấthiện của BoA và TVXQ vào năm 2003, bắt đầu một thế hệ thần tượng K-Pop mới,phá vỡ thể loại âm nhạc này vào thị trường Nhật Bản và tiếp tục phổ biến K-Pop raquốc tế ngày nay
17
Trang 20Ngôi sao K-Pop là những nhóm nhạc và nghệ sĩ được thành lập bởi các công
ty giải trí khác nhau, tạo ra âm nhạc K-Pop hấp dẫn và hướng đến khán giả trẻ tuổi.Các nhóm nhạc được thành lập từ một nhóm những người đặc biệt tài năng ở mộttrong những lĩnh vực sau: hát, đọc rap và nhảy Những thần tượng này thường gianhập công ty giải trí ở tuổi thiếu niên và sau đó học trải qua quá trình rèn luyệnnghiêm ngặt trong nhiều năm về các lĩnh vực như hát, rap, nhảy và ngoại ngữ Nếu
họ đủ may mắn và tài năng, họ sẽ được chọn vào một nhóm nhạc thần tượng vàđược ra mắt công chúng Sau đó, các nhóm nhạc K-Pop cho ra định kỳ các đĩa đơn
và album Hàng tuần, họ sẽ đến nhiều chương trình âm nhạc để biểu diễn và quảng
bá đĩa đơn chính của mình, trong khoảng thời gian từ một tháng đến hai tháng Mặc
dù bài hát quan trọng nhưng sự chăm chút và chú ý đặc biệt luôn được các thànhviên trong nhóm dành cho cách tạo dáng, vũ đạo đồng bộ và MV chất lượng cao.Hầu hết các nhóm nhạc K-Pop có một rapper, nhóm trưởng, center, visualđược chỉ định Các cụm từ tiếng Anh được trộn vào với lời bài hát tiếng Hàn, điềunày được cho là bắt nguồn bởi các thần tượng người Mỹ gốc Hàn, những ngườimuốn thể hiện sự trôi chảy tiếng Anh trong âm nhạc của mình Vũ đạo K-Pop chủyếu dựa vào các động tác khó, đồng bộ, với việc các thành viên đổi vị trí nhiều lầncho nhau Nó được gọi là 자리바꿈 (jaribaggum), hoặc “thay đổi đội hình” Cácđộng tác cũng được lặp đi lặp lại và mang yếu tố gây nghiện, phù hợp với conceptcủa từng bài hát Thuật ngữ cho điều này là 포인트안무 (pointeu anmu), việc lặp đilặp lại các động tác đã làm cho một số điệu nhảy và bài hát trở nên đặc biệt lantruyền rộng rãi “Gangnam Style” của Psy, “Sorry Sorry” của Super Junior, “BeMine” của INFINITE, “Abracadabra” của Brown Eyed Girls và “DDU DU DDUDU” của Blackpink đều có vũ đạo nổi bật khiến mỗi bài hát trở nên vô cùng thu hút
và dễ lan tỏa Ngoài ra, trang phục bắt mắt của nhóm hoặc nghệ sĩ được sử dụngtrong các buổi biểu diễn và video âm nhạc cũng quan trọng không kém
K-Pop hiện là một trong những khía cạnh chính của làn sóng Hallyu và mộtngành công nghiệp hái ra tiền cho thị trường Hàn Quốc
2.1.2 Vai trò của K-Pop trong làn sóng Hallyu
2.1.2.1 Sự phát triển của K-Pop
Trang 21Khi nhắc đến Hallyu không thể bỏ qua K-Pop, ngành công nghiệp âm nhạchàng đầu của xứ sở Kim chi có độ phủ sóng rộng khắp thế giới Có thể nói, trong sốcác nội dung của làn sóng văn hóa Hàn Quốc Hallyu, K-Pop là phần được biết đếnrộng rãi nhất trên toàn thế giới, được coi là hạt nhân của làn sóng Hallyu.
Vào giữa những năm 2000, các nhóm nhạc thần tượng như TVXQ, Kara, BigBang, Girls ’Generation và 2NE1 đã trở nên nổi tiếng bùng nổ ở châu Á bao gồmTrung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Singapore, do đó đã kích thích sự quan tâmtrên toàn cầu đối với K-pop Năm 2009 là thời khắc đánh dấu những bước ngoặt1.lớn trong nền âm nhạc Hàn Quốc, sự ảnh hưởng của nhạc pop Hàn Quốc bùng nổkhắp Châu á và lan tỏa đến các quốc gia trên thế giới, nhóm nhạc nữ Wonder Girlstrở thành ca sĩ Hàn Quốc đầu tiên xuất hiện trên Billboard Hot 100 với phiên bảntiếng Anh của “Nobody” Nhắc về những bản hit thời điểm đó, có thể kể tới những2cái tên đi theo năm tháng như “Gee” (SNSD), “Sorry Sorry” (Super Junior), “IDon’t Care” (2NE1), “Heartbreaker” (G-Dragon), “Time To Love” (T-ARA), “RingDing Dong” (SHINee),…
Năm 2012, khi “Gangnam Style” của Psy duy trì vị trí thứ 2 trên BillboardHot 100 trong bảy tuần liên tiếp và cuối cùng đạt ba tỷ lượt xem trên YouTube, cơnsốt K-pop bắt đầu lan rộng khắp thế giới Làn sóng Hallyu của Hàn Quốc đã trở 3nên cực kỳ phổ biến thông qua tương tác trên mạng xã hội Khi nghệ sĩ K-Pop nổitiếng Psy tung ra "Gangnam Style", Hallyu đã bắt đầu lan rộng sang các nướcphương Tây Bài hát và điệu nhảy cưỡi ngựa của Psy nổi tiếng đến mức ảnh hưởngcủa nó đã lan rộng khắp thế giới ngay sau khi được phát hành Bài hát đã đứng đầubảng xếp hạng và đến hơn 30 quốc gia trên toàn cầu như Úc, Canada, nhiều nước ởChâu Âu, đạt vị trí số 1 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn chính thức của Anh và chiếm vịtrí thứ 2 trên Billboard’s Hot 100 tại Mỹ Đến năm 2017, MV này đạt hơn 3 tỷ lượtxem. 4
1 Hallyu (Korean Wave), Culture and the Arts, Korean Cultute Centre, xem tại korea/culture-and-arts/hallyu-korean-wave/ (truy cập 23/11/2020)
https://kccuk.org.uk/en/about-2Wonder Girls Enters Billboard Hot 100, The Korea Times, xem tại
http://www.koreatimes.co.kr/www/news/special/2009/10/178_54025.html (truy cập 23/11/2020)
3 Hallyu (Korean Wave), Culture and the Arts, Korean Cultute Centre, xem tại korea/culture-and-arts/hallyu-korean-wave/ (truy cập 23/11/2020)
https://kccuk.org.uk/en/about-4 Tamar Herman (2017), Psy Thanks Fans for ‘Gangnam Style’ Reaching 3 Billion Views on YouTube,
Billboard, Music News, xem tại billion-views-8046953/ (truy cập ngày 25/11/2021)
https://www.billboard.com/music/music-news/psy-gangnam-style-youtube-3-19
Trang 22Trong năm 2018, K-pop đã có sự tăng trưởng đáng kể và trở thành một
"người chơi quyền lực", đánh dấu mức tăng trưởng doanh thu 17,9% Tính đến năm
2019, K-pop được xếp ở vị trí số 6 trong số 10 thị trường âm nhạc hàng đầu trêntoàn thế giới theo “Global Music Report 2019” của Liên đoàn Công nghiệp Ghi âmQuốc tế, với BTS và Blackpink được coi là nghệ sĩ dẫn đầu thị trường này Vào1năm 2020, K-pop đã trải qua một năm kỷ lục khi tăng trưởng 44,8% tốc độ tăng -
trưởng nhanh nhất trong số các thị trường âm nhạc lớn trên thế giới Kết quả trênđược phản ánh trong “Báo cáo âm nhạc toàn cầu 2020” (Global Music Report) củaLiên đoàn công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) công bố ngày 23/3 (theo giờ địa2phương), khảo sát về thị trường âm nhạc trực tuyến và đĩa âm bản trên thế giới.3Liên đoàn công nghiệp ghi âm quốc tế đánh giá năm ngoái thị trường âm nhạc HànQuốc tăng trưởng tốt là nhờ K-Pop đã phá vỡ nhiều kỷ lục, vươn lên là thị trường
âm nhạc lớn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất năm 2020 Thị trường âm nhạc HànQuốc lớn thứ 6 trên thế giới sau Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức và Pháp Sự tăng trưởngnhanh của ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc được cho là nhờ sức mạnh củacộng đồng người hâm mộ quốc tế đối với K-pop nói chung, nhóm nhạc BTS nóiriêng và lượng bán đĩa tăng nhanh Năm ngoái, doanh số bán đĩa trên thế giới giảm4,7% so với một năm trước Tuy nhiên, doanh số bán đĩa của các nghệ sĩ K-pop lạităng, đi ngược lại xu hướng này BTS đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 2004vào năm 2019 và giành được giải thưởng Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu năm thứ baliên tiếp tại Lễ trao giải âm nhạc Billboard Điều này đã thu hút sự chú ý từ thế 5giới, dẫn đến sự công nhận của toàn cầu đối với K-pop như một thể loại Sau khiđứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 vào tháng 2 năm 2020, “Map of the Soul: 7”
đã duy trì thứ hạng cao trong 23 tuần liên tiếp BTS đã đạt được nhiều danh hiệu
“Kỷ lục Guinness Thế giới”, bao gồm cả danh hiệu dành cho nhiều người xem nhất
1Kelley, C (2019, April 28) K-Pop Is More Global Than Ever, Helping South Korea’s Music Market Grow
Into A “Power Player.” Forbes Retrieved December 14, 2021, from https://www.forbes.com/sites/caitlinkelley/2019/04/03/kpop-global-bts-blackpink-grow/?sh=12de6fce24e2
2 Hàng năm, IFPI khảo sát quy mô ngành thu âm (record music) bao gồm lượt nghe trực tuyến, lượt tải về và lượng đĩa bán ra, không bao gồm chương trình biểu diễn trực tiếp (live music).
3 Global music report 2020, International Federation of the Phonographic Industry, xem tại
https://www.ifpi.org/wp-content/uploads/2020/03/GMR2021_STATE_OF_THE_INDUSTRY.pdf (truy cập ngày 14/12/2021)
4 Thị trường âm nhạc Hàn Quốc năm 2020 tăng trưởng gần 45% (26/03/2021) KBS WORLD xem tại https://world.kbs.co.kr/service/news_view.htm?lang=v&Seq_Code=49447 (Truy cập 14/12/2021)
5 Hugh Mclntyre (2020), BTS Ended 2019 As The Fourth-Most-Successful Group On The Billboard 200,
Forbes, xem tại successful-group-on-the-billboard-200/?sh=bdbb05ace238 (truy cập 26/11/2020)