- Hấp thu thuốc nhanh - Tránh được sự phá hủy của men chuyển hóa thuốc ở gan - pH của nước bọt là 6,5 ít ảnh hưởng đến độ bền vững của thuốc nhạy cảm với môi trường kiềm hoặc acid - Nế
Trang 1Họ và tên: Diêu Đức Long
Lớp: ĐH DƯỢC 6B
BÀI 2 CÁC ĐƯỜNG ĐƯA THUỐC VÀ CÁCH SỬ DỤNG Đường đưa
thuốc
Đặt dưới
lưỡi
Nitroglycerin
Captoril
stada
Alphachoay
Adalat
Misoprotol
Co lưỡi lên vòm miệng trên Đặt thuốc vào dưới, rồi hạ lưỡi xuống Nếu viên thuốc to, khô, khó rã thì có thể thấm nước trước, hoặc ngậm một ít nước đun sôi để nguội, đợi một lúc viên thuốc ngấm đủ nước (nhưng không
bị rã ra) thì nuốt nước đi, rồi cứ để viên thuốc
tự rã ra dưới lưỡi Nếu làm không khéo, làm
ẩm thuốc quá nhiều hay ngậm quá nhiều nước, để quá lâu, thuốc bị rã ra khi nuốt sẽ nuốt cả thuốc vào ruột nên không đạt yêu cầu
- Hấp thu thuốc nhanh
- Tránh được sự phá hủy của men chuyển hóa thuốc ở gan
- pH của nước bọt là 6,5
ít ảnh hưởng đến độ bền vững của thuốc nhạy cảm với môi trường kiềm hoặc acid
- Nếu có hiện tượng quá liều thì lập tức có thể loại trừ thuốc ngay
- Khi đặt thuốc thường gây phản xạ tiết nước bọt kèm theo phản xạ nuốt ,làm cho 1 lượng thuốc bị mất đi trôi xuống dạ dày va ruột Vì vậy khi dùng viên ngậm phải hạn chế phản xạ nuốt
- Có thể gây kích ứng niêm mạc miện
Đường uống - Dạng viên:
+ Viên nang (cứng, mềm) + Viên nén (không bao,
- Viên nang: Khi sử dụng phải uống nguyên viên thuốc, ko được tháo vỏ nhộng ra
- Viên nén: Khi uống thuốc tốt nhất là sử dụng nước sôi để nguội hoặc nước tinh khiết
- Siro, hỗn dịch: Khi sử dụng cho trẻ em cần
- An toàn, dễ sử dụng hơn so với đường tiêm
- Dạng bào chế sẵn có,
rẻ
- Sinh khả dụng rất dao động
- Thời gian xuất hiện tác dụng của thuốc uống chậm hơn so với các
Trang 2bao phim)
- Dạng lỏng (siro, potio)
- Cốm pha thành dạng lỏng khi sử dụng
có sự kiểm soát chặt chẽ của người lớn để tránh quá liều
- Cốm pha: Pha thuốc với nước, có thể pha kèm ít đường cho trẻ em dễ uống
- Nang: Amlor, eugica, Celebrex, amoxicillin 500mg, Artemisinin 250mg
- Nén: Panadol, Klamentin, paxirasol, decolgen, tiffy
- Lỏng: Bổ phế nam hà, bisolvon, Eugica, Prospan, bảo thanh
- Cốm pha hỗn dịch: Mexcold, Klamentin, Cobifen, Augmentin, cobimol
đường đưa thuốc khác
Đặt trực
tràng
Viên đạn Healit Rectan Repaherb Voltaren Efferalgan Biragan Hemaros
Rửa tay kỹ, tháo lớp vỏ thuốc, nếu có
Nếu có chỉ định sử dụng một nửa viên thuốc, hãy cắt viên thuốc theo chiều dọc bằng dao (dao lam) sạch
Mang bao đầu ngón tay hoặc găng tay dùng một lần
Bôi trơn đầu viên thuốc đạn với một chất bôi trơn tan trong nước như K-Y Jelly Nếu bạn không có chất bôi trơn này, hãy làm ẩm vùng trực tràng bằng nước mát
Nằm nghiêng sang một bên, chân dưới đặt thẳng ra và chân trên co lên về phía trước
- 50-70 % lượng dược chất sau khi hấp thu được chuyển vào hệ tuần hoàn không phải qua gan
- Thích hợp cho bệnh nhân bị tổn thương đường tiêu hoá, nôn mửa, bệnh nhân sau phẫu thuật còn hôn mê không dùng thuốc uống
- Thích hợp cho bệnh nhân quá trẻ, quá già
- Hấp thu chậm, đôi khi không hoàn toàn
- Có thể gây viêm trực tràng
- Tuổi thọ thuốc kém
- Khó bảo quản ở nhiệt
độ cao
- Khó sử dụng
Trang 3bụng của bạn
Nhấc phần mông trên để lộ vùng trực tràng
Nhét viên thuốc đạn vào, đưa phần đầu nhọn vào trước bằng ngón tay của bạn cho đến khi viên thuốc đặt qua cơ vòng của trực tràng Cơ này thường khoảng 1.2-2.5 cm ở trẻ sơ sinh
và 2.5 cm ở người lớn Nếu không đặt qua cơ vòng này, thuốc đạn có thể bật/trồi ra ngoài
Giữ chặt 2 mông với nhau trong một vài giây
Nằm yên một chỗ trong khoảng 5 phút để thuốc đạn không bị rơi ra ngoài
Bỏ những vật đã sử dụng (bao tay, vỏ thuốc) vào thùng rác kín và rửa tay kỹ
hoặc bệnh nhân tâm thần
- Thuận lợi cho các thuốc gây tác dụng phụ trên ống tiêu hoá, không bền trong pH dịch vị, nhạy cảm với enzym, có mùi vị khó chịu…
Đường tiêm Dung dịch, hỗn
dịch hay nhũ tương
- Tiêm tĩnh mạch:
+ Tiêm tĩnh mạch trực tiếp
+ Truyền tĩnh mạch quãng ngắn
+ Truyền tĩnh mạch kéo dài
- Tiêm bắp
- Tiêm dưới da
- Tiêm trong da
- Tiêm động mạch
- Các đường tiêm khác
- Hấp thu thuốc hoàn toàn, tác dụng nhanh
- Tránh được sự phân hủy thuốc do dịch vị, men tiêu hóa
- Tránh được tác động của vòng tuần hoàn đầu (những thuốc bị phân hủy bởi men gan)
- Tránh được sự hao hụt khi phải vận chuyển
- Đòi hỏi điều kiện vô trùng nghiêm ngặt và sự giúp đỡ của cán bộ chuyên môn nên bệnh nhân khó tự sử dụng
- Chi phí cao vì thêm tiền bơm, kim tiêm, giá thành đắt
- Độ an toàn thấp hơn so với các đường đưa thuốc khác, dễ gây sốc (tiêm
Trang 4 Lantus Solostar, avelox, Xenetix, Manitol, Ciprofloxacin, Paracetamol Kabi
trong ống tiêu hóa
- Tránh độc tính lên niêm mạc tiêu hóa (một
số thuốc chống ung thư
ức chế sự phát triển của niêm mạc ống tiêu hóa)
tĩnh mạch), gây đau áp
xe (tiêm bắp), dễ bị nhiễm trùng
Đường hô
hấp
Dạng phun mù (aerosol) Ventolin
- Bình xịt định liều (MDI): Được sử dụng rộng rãi vì là dụng cụ rẻ tiền và có thể cung cấp nhiều loại thuốc hen và COPD khác nhau Những khó khăn khi sử dụng MDI bao gồm sự phối hợp đồng bộ khi ấn và hít, kỹ thuật hít chậm và sâu Một vấn đề cần lưu khi
sử dụng MDI là hiệu ứng gây lạnh - ‘cold-Freon’ gây ra do thuốc tác động trực tiếp vào thành sau họng Khi gặp hiệu ứng này, bệnh nhân có phản xạ ngưng thở làm cho dòng khí hít vào không liên tục Điều này ảnh hưởng đến khả năng lắng tụ thuốc ở đường hô hấp
- Bình hít bột khô (DPI): Không bị hiệu ứng
‘cold-Freon’ và cũng không cần sự phối hợp động tác ấn và hít của bệnh nhân Tuy nhiên,
vì hạt thuốc được tách ra và thuốc được đưa
ra khỏi dụng cụ dựa vào lực hút của bệnh nhân nên có thể một số bệnh nhân không hút được thuốc hay thuốc không đúng kỹ thuâ ̣t (không thở ra trước khi hít vào, không nín thở sau khi hít vào, đặt dụng cụ sai vị trí và
-Thuận tiện, đảm bảo
vệ sinh
- Độ ổn định cao, tránh
sự phân hủy do các tác nhân hóa học, sinh học
- Chính xác: Ở dạng bình xịt định liều (có van định liều) có khả năng phân phối liều thuốc chính xác
- Hiệu quả: Tác dụng điều trị cao, thuốc đến trực tiếp niêm mạc đường thở, do vậy có tác dụng nhanh và tối
ưu
- Kỹ thuật sản xuất phức tạp
- Rủi ro khi sử dụng: Khi dùng nhầm vào đường hô hấp có thể gây nguy hiểm chết người
- Phụ thuộc hành vi: Thuốc dùng theo đường xông hít vào phổi nếu không có sự phối hợp của người hít thở theo đúng yêu cầu, liều thuốc
sẽ không được hấp thu đầy đủ
Trang 5hú t vào không đủ sức…) làm giảm chất lượng thuốc trước khi vào cơ thể bệnh nhân Đường âm
đạo Thuốc trứng Viên nén, nang
mềm Polygynax Canvey Metromicon Genbay Fluomizin
– Đưa thuốc vào trong đầu âm đạo và dùng ngón út đẩy thuốc vào sâu đến cuối chân ngón
– Vệ sinh sạch sẽ tay sau khi đặt
– Sau khi đặt thuốc khoảng 30 phút bạn không nên đi vệ sinh hay đi lại nhiều Tốt nhất nên nằm ngửa với hai chân kê gối cao
- Tránh được chuyển hóa lần đầu qua gan, tránh tác động của dịch
vị, thích hợp với bệnh nhân hôn mê, phụ nữ có thai, dễ sử dụng
- Thuận lợi đưa thuốc hướng đích tử cung
- Thuận lợi trong hấp thu các thuốc protein và peptid
- Tác dụng tại chỗ làm tăng hiệu quả điều trị các bệnh ở âm đạo như viêm âm đạo, nấm candida âm đạo
- Tốc độ và mức độ hấp thu thuốc cũng như sự
ổn định của thuốc có thể
bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh nguyệt, sự thay đổi
pH âm đạo và sự thay đổi của hormone
- Thuốc dễ bị rò rỉ khỏi
âm đạo sau khi đặt hoặc gây kích ứng niêm mạc
âm đạo
Đường ngoài
da
- Dạng lỏng
- Dạng mỡ
- Dạng kem bôi
- Dạng gel
Bôi xoa ngoài da Salonpas, Econazine, Genmysone,Dipolac, betacyclic
Tránh được tác dụng đi qua gan đầu tiên
Có thể gây dị ứng hoặc kích ứng tại chỗ