Nói Khổng Tử là người sáng tác ra Kinh thi, đúng hay sai?... Khổng Tử san định sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn Kinh thi thành tập, sau đó Kinh thi trở thành 1 trong Ngũ kinh Thi, Thư, Lễ,
Trang 1Kinh thi 詩詩
GV: Nguyễn Thanh Phong Giới thiệu về
Trang 3Yêu cầu 1:
Trang 4Thần sáng
thế Thần cải tạo tự nhiên và xây
dựng cuộc sống
Thần đấu tranh vì tình yêu
Phục Hi Thần Nông Hoàng Đế
Suy Vưu Khoa Phụ
Ngưu Lang Chức Nữ Phục Hi Thần Nông
Hoàng Đế
Nghiêu Thuấn
Trang 5Yêu cầu 2
Trang 61 Nói Khổng Tử là người sáng tác ra Kinh thi, đúng hay
sai?
Trang 7 Sai.
Kinh thi là bộ tổng tập thơ ca vô danh, sáng tác trong
khoảng thời gian 500 năm, từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu, gồm hàng ngàn bài thơ.
Nguồn gốc các bài thơ trong Kinh thi khá phức tạp, gồm
cả ca dao, dân ca và nhã nhạc triều đình, với các tác giả thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đương thời
Khổng Tử san định (sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn) Kinh thi thành tập, sau đó Kinh thi trở thành 1 trong Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu).
Trang 10Khổng Tử nói về Kinh thi:
Không học Thi thì không biết nói (Bất học Thi, vi
dĩ ngôn).
Thi, có thể giúp hưng phấn, có thể giúp xem xét,
có thể giúp hợp quần, có thể giúp biết oán giận
Gần có thể thờ cha, xa thờ vua, giúp biết được
nhiều tên của chim muông, cây cỏ (Thi, khả dĩ
hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức vu điểu thú thảo mộc chi danh).
Trang 112 Nội dung tình yêu đôi lứa trong Kinh thi có gì đặc
biệt?
Lời lẽ hồn nhiên, thẳng thắn, chất phác, mạnh
dạn, tình cảm chân thành, đủ mọi cung bậc, nam
nữ bình đẳng trong tình yêu.
Lên tiếng oán trách, phản đối luân lý, lễ giáo,
luật lệ khắc nghiệt thời cổ đại.
Bị Khổng Tử và giới Nho học cắt xén, phê phán như những tác phẩm dâm bôn, tiêu cực.
Trang 123 Lập bảng so sánh 3 phần Phong – Nhã – Tụng trong Kinh thi về các
mặt: đối tượng sáng tác, phạm vi lưu truyền, nội dung, nghệ thuật.
Phong (Quốc phong) Nhã (Tiểu nhã, đại nhã) Tụng
Cung đình, gia đình hào môn vọng tộc, dân gian
3 nước: Chu,
Lỗ, Thương
Nội dung Kể về cuộc sống của
người nghèo khổ bị áp bức bóc lột và bọn lãnh chúa tham lam.
Tình yêu đôi lứa trong sáng, son sắc, thủy chung.
Nổi cực khổ, chia lìa do chiến tranh.
Triều hội, yến tiệc nơi cung đình, nghi thức giao tiếp chủ khách
Tán tụng công đức, ca ngợi thần linh
Nghệ thuật
Trang 13 Kết cấu xướng họa: đối đáp nam nữ.
Tiết tấu, vần điệu.
Trang 15詩詩 Kiêm gia Lau lách
Tố hồi tùng chi, Đạo trở thả trường,
Tố du tùng chi, Uyển tại thuỷ trung ương
Kiêm gia thê thê Bạch lộ vị hy.
Sở vị y nhân, Tại thuỷ chi my.
Tố hồi tùng chi, Đạo trở thả tê,
Tố du tùng chi, Uyển tại thuỷ trung trì
Kiêm gia thể thể Bạch lộ vị dĩ.
Sở vị y nhân, Tại thuỷ chi dĩ (sĩ, thuỷ).
Tố hồi tùng chi, Đạo trở thả vĩ (hữu),
Tố du tùng chi,
Lau lách xanh tươi và rậm rạp, Móc làm sương phủ khắp mọi nơi.
Người mà đang nói hiện thời,
Ở vùng nước biếc cách vời một phương.
Ví ngược dòng tìm đường theo mãi, Đườn càng thêm trở ngại xa xôi.
Thuận dòng theo đến tận nơi, Giữa vùng nước biếc, thấy người ở trong Lau lách vẫn rườm rà tươi tắn,
Móc chưa khô, rợp trắng phủ dầy Người mình đang thốt lời đây,
Ở bên bờ nước chốn này đó thôi.
Ví ngược dòng mà noi theo mãi, Đường dốc cao trở ngại vô cùng.
Tiến theo mà cứ thuận dòng, Thấy nơi cồn nọ giữa vùng nước xanh Lau lách xanh tươi vừa để cắt,
Móc trắng thì chưa dứt còn rơi.
Người mình đang thốt mấy lời,
Ở bên bờ nước ắt nơi đấy mà.
Ví ngược dòng tiến xa theo mãi, Đường rẽ sang mặt lại trở ngăn.
Thuận dòng, nếu cứ theo lần,
Trang 31Danh mục video
Ngâm xướng quan thư
Hoạt hình quan thư
Múa hát dâng trà
Múa đào yêu