Từ nhận thức đó đứng trên quan điểm duy vật biện chứng, trong bài viết này em xin đề cập tới : “ kinh tế tri thức - ảnh hởng của kinh tế tri thức tới sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
Trang 1mục lục
Trang
Lời nói đầu 2
Nội dung 3
I- Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật 3
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 3
2 Nguyên lý về sự phát triển 5
II kinh tế tri thức là gì ? 6
1 Nguồn gốc của kinh tế tri thức 6
2 Mối quan hệ giã tri thức và kinh tế 7
3 Khái niệm kinh tế tri thức 8
a) Thế nào là tri thức? 8
b) Phân biệt các loại tri thức 8
c) Tầm quan trọng của tri thức 8
4 Đặc điểm của kinh tế tri thức 9
5 Các tiêu chí của kinh tế tri thức 10
III kinh tế tri thức và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở việt nam 10
1 Kinh tế việt nam những năm đầu sau chiến tranh 10
a) Thực trạng kinh tế việt nam trong thời kỳ hiện nay 10
b) Nguyên nhân 10
2 Vai trò của nền kinh tế tri thức trong sự nghiệp phát triển đất nớc11 3 Kinh tế tri thức và sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở Việt Nam .11
4 Các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế dựa vào tri thức ở việt nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá 12
Kết luận 13
Lời cam đoan 14
Tài liệu tham khảo 15
Trang 2Lời nói đầu
Trong xã hội hiện đại, bằng những tri thức lý luận và những tri thức kinh nghiệm tích luỹ đợc trong quá trình nhận thức thế giới, con ngời đã sáng tạo ra những công cụ ngày càng tinh vi và hoàn hảo Điều đó thể hiện trớc hết ở việc nâng cao trình độ thiết bị máy móc, sự sâu sắc và tăng cờng chuyên môn hoá lao động sự tăng lên của xã hội sản xuất Chúng đánh dấu trình độ chinh phục của loài ngời với tự nhiên, là thớc đo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời
đại trong lịch sử
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dẫn tới nền kinh
tế tri thức đã tạo ra những bớc phát triển nhảy vọt trong sản xuất của nhân loại và trong quan niệm về lực lợng sản xuất xã hội đối với những nớc
đang phát triển “ con đ ờng công nghiệp hoá rút ngắn thời gian” đó sẽ tránh
đợc nguy cơ tụt hậu xa hơn vè mặt kinh tế Bởi vì khoảng cách giữa các nớc giàu nghèo chính là sự cách biệt về tri thức, năng lực sáng tạo và sử dụng tri thức Trong bối cảnh đó các nớc “đi sau” chỉ có thể phát triển khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, mới có thể rút ngắn khoảng cách với các nớc tiên tiến Từ nhận thức đó đứng trên quan
điểm duy vật biện chứng, trong bài viết này em xin đề cập tới :
“ kinh tế tri thức - ảnh hởng của kinh tế tri thức tới sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta”.
Trang 3Nội dung
I- Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật.
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
thế giới đợc tạo thành từng những sự vật, những hiện tợng, những quá trình khác nhau Giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, ảnh hởng lẫn nhau, hay chúng tồn tại độc lập, tách rời nhau Nếu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại thì nhân tố nào quy định sự liên hệ đó?
Trả lời câu hỏi thứ nhất
Những ngời theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật và hiện tợng tồn tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không
có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc lẫn nhau hoặc nếu có thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó thì lại phủ nhận khả năng chuyên hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau
Ngợc lại những ngời theo quan điểm biện chứng coi thế giới nh là một chỉnh thể thống nhất Các sự vật hiện tợng là quá trình cấu thành thế giới
đó vừa tách biệt nhau vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau
Trả lời câu hỏi thứ hai:
Những ngời theo chủ nghĩa duy tâm thì tìm cơ sở dữ của sự liên hệ tác
động qua lại giữa các sự vật và hiện tợng ở các lực lợng siêu tự nhiên hay
ở ý thức, ở cảm giác của con ngời Những ngời theo quan điểm biện chứng thì khẳng định rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tợng
mà tính thống nhất vật chất thế giới
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tợng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Có mối liên hệ bên ngoài,
có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu
Có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của thế giới Có mối liên hệ trực
Trang 4tiếp, có mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệ không biện chứng, liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên
- Cơ sở lý luận và yêu cầu của quan điểm toàn diện
Với t cách là một nguyên tắc phơng pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tợng quan điểm toàn diện đòi hỏi để có đợc nhận thức đúng
về sự vật chúng ta phải xem xét nó, một là trong mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó
Hai là trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác
- Hơn nữa quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức đợc sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mỗi liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con ngời ứng với mỗi con ngời, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định bao giờ cũng phản ánh đợc một số lợng hũ hạn những mối liên hệ
- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
- Quan điểm toàn diện đúng đắn đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất mang tính chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tợng đó
- Nó không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê la liệt những tính qui định khác nhau của sự vật hay hiện tợng, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tợng đó
- Nó vừa xa lạ với chủ nghĩa chiết trung, vừa xa lạ với thuật nguỵ biện
- Cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử cụ thể là nguyên lý của phép biện chứng duy vật về chân lý là cụ thể Nguyên lý này chỉ ra mọi sự vật hiện tợng của thế giới vật chất, tồn tại vận động phát triển bao giờ cũng diễn ra ở trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, không gian, thời gian xác
định cùng một sự vật nhng tồn tại, vận động biến đổi trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sẽ nảy sinh những thuộc tính mới vốn không có ở
sự vật, hiện tợng thậm chí có thể làm thay đổi hẳn tính chất của sự vật, hiện
Trang 5tợng muốn phản ánh đúng nh nó có để cải biến sự vật thì đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm này có những yêu cầu sau:
+ Khi nghiên cứu xem xét sự vật, hiện tonựg phải đặt nó trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể, không gian, thời gian xác định mà nó đang diễn ra Phải phân tích xem điều kiện hoàn cảnh đó, không gian, thời gian ảnh hởng
đến tính chất của sự vật nh thế nào, đến xu hớng vậnđộng của sự vật ra sao Trên cơ sở đó rút ra kết luận về sự vật
+ Phải coi nguyên tắc (quan điểm) lịch sử cụthể là một phơng pháp luận cơ bản trong việc phát hiện chân lý và vận dụng chân lý vào thực tiẽen Có nh vậy mới tránh đợc rơi vào chủ nghĩa giáo điều, máy móc
2 Nguyên lý về sự phát triển.
Pháp biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn quy luật vận
động và phát triển chung nhất của thế giới Nhờ vậy, C.Mác và P.Ăngghen
đã khắc phục đợc những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời
cổ đại cũng nh những sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học
- Phép biện chứng duy vật đợc tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý, những quy luật đợc khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực Song nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển vẫn đợc xem là những nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ và chính là đối tợng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật Bởi vì vậy Ph.Ăngghen đã định nghĩa: "Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển trong tự nhiên của xã hội loài ngời và của t duy
- Trong quan điểm duy vật biện chứng: phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát, vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
- Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngày trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn của sự vật quy định phát triển trong quan điểm biện chứng duy vật là quá trình tự thân hoá của mọi
Trang 6sự vật và hiện tợng Do vậy phát triển là một quá trình khách quan, độc lập ngoài ý thức con ngời
- Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển không chỉ thừa nhận tính khách quan của sự phát triển, nó còn khẳng định tính phổ biến của sự phát triển với nghĩa là sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực Từ tự nhiên đến xã hội và t duy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh hiện thực ấy
- Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển cung cấp cho chúng
ta phơng pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
Phép biện chứng duy vật bao hàm một nội dung hết sức phong phú, bởi vì đối tợng phản ánh của nó - thế giới vật chất vô cùng, vô tận Trong
đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là có ý nghĩa bao quát nhất Nghiên cứu hai nguyên lý này đem lại cho chúng ta quan điểm toàn diện, phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể trong hoạt động nhậ thức và thực tiễn Khi vận dụng các quan điểm này đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp Bởi vì, chính trong quá trình liên hệ tác động qua lại biện chứng mà sự vật vận động phát triển và diễn ra trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sự cụ thể
II kinh tế tri thức là gì ?
1 Nguồn gốc của kinh tế tri thức.
Từ những năm 70 trở lại đây, tiến bộ khoa học kỹ thuật dần trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là khoa học kỹ thuật cao vì nó là lực lợng sản xuất thứ nhất Năm 1986, trong cuốn “ xã hội kỹ thuật cao , ” các nhà kinh tế Anh đã nêu ra khái niệm “ kinh tế kinh tế cao”.Năm 1990 tổ chức nghiên cứu của Liên hợp quốc đã đa ra khái niệm kinh tế tri thức
“ ” để xác định tính chất loại hình của kinh tế mói này Năm
1996, tổ chức hợp tác kinh tế định nghĩa rõ ràng rằng “ kinh tế lấy tri thức làm cơ sở ” đây là lần đầu tiên hệ thống chỉ tiêu và dự đoán của loại hình kinh tế mới này đợc nêu ra Tháng 12- 1997, Tổng thống Mỹ B.clinton đã
Trang 7dùng cách nói “kinh tế tri thức” nh tổ chức nghiên cứucủa liên hợp quốc đã nêu ra trớc đây “báo cáo về sự phát triển của thế giới”của ngân hàng thế giới xuất bản năm 1998 đã đặt tên nền kinh tế đó là “ nền kinh tế tri thức của phát triển”.
Việc xác định đúng tên gọi của loại hình kinh tế mới tuy rất phức tạp, nhng nó đã giúp cho con ngời từng bớc xây dựng nên một khái niệm mới ngày càng rõ ràng, đó là “ nhân loại đang b ớc vào một thời đại kinh tế mới, lấy việc chi phối, chiếm hữu nguồn tài nguyên trí lực, và lấy việc sử dụng, phân phối, sản xuất của tri thức làm nhân tố chủ yếu ” Nói một cách ngắn ngọn là “ thời đại mà khoa học kỹ thuật là lực l ợng sản xuất thứ nhất ” Thực tế khái niệm “kinh tế tri thức” là một khái niệm mới về loại hình kinh
tế mới khác với loại hình kinh tế trớc đây Loại hình kinh tế trớc lấy công nghiệp truyền thống làm nền tảng sản xuất, còn “kinh tế tri thức” lấy công nghiệp kỹ thuật cao làm lực lợng sản xuất.nh vậy mới có thể làm cho nền kinh tế phát triển
2 Mối quan hệ giã tri thức và kinh tế
Chúng ta có thể nói, bất cứ hoạt động nào của con ngời không tách rời tri thức Muốn vậy, con ngời phải tích luỹ, quy lạp để hình thành nên một hệ thống chính là khoa học.đối tợng của nghiên cứu khoa học và kỹ thuật cũng chính là tri thức
Đồng thời việc thực hiện kỹ thuật cao làm cho nhân tố tri thức vợt xa nhân tố vật chất Ngoài ra, còn một số những thành tựu của các nhà khoa học, nh việc ứng dụng vào thực tế những thành tích phát minh kỹ thuật
Nh-ng ta cũNh-ng có thể nhảy qua Nh-nghiên cứu ứNh-ng dụNh-ng, trực tiếp ra thi trờNh-ng, thu dợc hiệu quả kinh tế nh việc khai thác phần mềm máy tính.nguyên nhân của hiện tợng này là khi tiến hành nghiên cứu cơ bản đã phát hiện thấy giá trị ứng dụng của công trình.buộc phải có cơ cấu tổ chức để liên hệ với thị trờng Vì thế, hàng loại khu công nghiệp kỹ thuật cao mới ra đời
Trang 83 Khái niệm kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên nền tảng tri thức, lấy tri thức, trí tuệ, khoa học và công nghệ làm chủ đạo; lực lợng những ngời có học vấn cao,tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, đợc đào tạo cơ bản, có hệ thống và hiện đạilà chủ thể của hoạt động kinh tế
Nền kinh tế tri thứcchủ yếu vẫn là nền kinh tế hàng hoá, vẫn tuân theo quy luật giá trị, vẫn vận động theo cơ chế thị trờng và hiện diện trong cơ chế thị trờng nhng tri thức đã trở thành nền tảng, cốt lõi quyết định sự phát triển của nó
a) Thế nào là tri thức?
Không giống t bản và lao động, tri thức cố gắng trở thành một hàng hóa công cộng nh các nhà kinh tế học đã gọi là “ không có sự kình địch ” Tri thức một khi đã đợc phát hiện và công bố thì việc chia sẻ nó cho nhiều ngời sử dụng hơn sẽ có chi phí cận biên bằng 0 Thứ hai, những ngời tạo ra tri thức thờng khó có thể ngăn cản đợc những ngời khác sử dụng chúng.các công cụ nh bảo vệ bí mật thơng mại và bằng sáng chế, bản quyền và thơng hiệu chỉ dành cho ngời tạo ra tri thức một sự bảo vệ ít ỏi nào đó mà thôi
b) Phân biệt các loại tri thức
Sẽ là hữu ích nếu phân biệt đợc các loại tri thức khác nhau, là loại tri thức về sự kiện, biết tại sao là tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và suy ngĩ của con ngời Biết ai đó là về thế giới của các quan hệ xã hội và là tri thức
về ai biết cái gì và ai có thể làm gì Biết chỗ và biết thời gian đang ngày càng quan trọng trong nền kinh tế linh hoạt và năng động
c) Tầm quan trọng của tri thức
Tri thức là sức mạnh, bởi nó là chất dinh dỡng cho sự phát triển trí tuệ
và năng lực sáng tạo trí tuệ vô tận của con ngời.Dân tộc nào sớm tự ý thức
đợc những hạn chế, những giới hạn của chính mình, biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại ở mọi thời đại, kết hợp với bản sắc truyền thống vốn
có với những tinh hoa bên ngoài mình,thì dân tộc đó sẽ phát triển trờng tồn.ngợc lại sẽ khó tránh khỏi suy tthoái và diệt vong;ta có thể nói, kinh tế
Trang 9kết tinh trong sản phẩm, trong kinh doanh và trong hoạt động kinh tế nói chung
4 Đặc điểm của kinh tế tri thức
Thứ nhất , đặc điểm lớn nhất làm khác biệt kinh tế tri thức khác với
các kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp chính là tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức Bởi tri thức là nguồn lực hàng
đầu tạo ra sự tăng trởng kinh tế
Thứ hai , sự chuyển đổi cơ cấu, các ý tởng mới là chìa khoá cho việc
tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lợng cuộc sống Các khu công nghệ hình thành và phát triển, trở thành nhân tố hàng đầu quan trọng nhất, tiêu biểu cho nền sản xuất tơng lai Cho nên, kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh vực và
thiết lập mạng thông tin đa phơng diện phủ khắp nớc Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế.Cũng chính vì vậy, nhiều ngời gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế số,nền kinh tế mạng, nền kinh tế Internet, nền kinh tế điện tử
Thứ t, nền kinh tế tri thức thúc đẩy sự dân chủ hoá Thông tin đến với
mọi ngời Mọi ngời đều có thể truy cập đợc những thông tin cần thiết Mô hình tổ chức dân chủ, rất linh hoạt trong điều hành, để dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự sáng tạo của mọi ngời
Thứ năm, hình thành xã hội học tập Giáo dục rất phát triển Mọi
ng-ời đều phải học tập, học thờng xuyên, học ở trờng và học ở trên mạng để không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo.trong nền kinh tế tri thức khoản đầu t cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ rất cao.phát triển con ngời trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.vốn con ngời thực sự là vốn quý nhất
Trang 105 Các tiêu chí của kinh tế tri thức
- Cơ cấu GDP >70% do các nghành sản xuất và dịch vụ ứng dụng
công nghệ cao
- Cơ cấu GTGT > 70% do lao động trí óc mang lại
- Cơ cấu LĐ > 70%là “ công nhân tri thức”
- Cơ cấu TB > 70% là t bản con ngời
“ Nền kinh tế tri thức sẽ hình thành và phát triển nhanh nên kinh tế và triệt để hơn công nghiệp ”
III kinh tế tri thức và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá ở việt nam
1 Kinh tế việt nam những năm đầu sau chiến tranh
a) Thực trạng kinh tế việt nam trong thời kỳ hiện nay
Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, công nghiệp thu hút 10,6% tổng
số lao động xã hội, 37% giá trị tài sản cố định, làm ra 38,4% tổng sản phẩm xã hội, 25,3% thu nhập quốc dân nguồn nguyên liệu của công nghiệp còn phụ thuộc vào nớc ngoài, đặc biệt các nghành cơ khí, hoá chất
Sản phẩm công nghiệp bình quân trên đầu ngời còn ở mức thấp so với nhiều nớc trên thế giới: “ điện 62,8kwh, than sạch 115,9kg, xi măng15,1kg ” các số liệu trên cho thấy trình độ công nghiệp hoá của nền kinh tế còn thấp Nh vậy, nền kinh tế đất nớc lâm vào tình trạng khó khăn
nh giai đoạn cuối những năm 1970 và suốt những năm 80, lúc này dấu hiệu của suy thoái và khủng hoảng kinh tế đã xuất hiện và bộc lộ rõ
b) Nguyên nhân
Thứ nhất, sau cuộc kháng chiến cứu nớc, do nhận thức cha đầy đủ khó
khăn nẩy sinh, nên Đại hội IV của Đảng đã chủ trơng đẩy mạnh công nghiệp hoá khi cha có đủ các tiền đề cần thiết.Trong kế hoạch 5 năm
1976-1980 chúng ta đã xác định những chủ trơng quá cao: “ 21 triệu tấn lơng