Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh gay gắt của các thành phần kinh tế, ít nhiều đã gây ra những khó khăn cũng như là thử thách cho doanh nghiệp. Vì vậy, để có thể khẳng định được mình các doanh nghiệp cần phải nắm vững được tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
TP HCM
Đề tài: Phân tích báo cáo tài chính
của Ngân hàng Thương Mại
Cổ Phần Á Châu.
Môn: Quản trị tài chính GVHD: Nguyễn Thị Hoàng Oanh Nhóm thực hiện: 13
Thứ 6 Tiết 10-12
TP Hồ Chí Minh, 17/7/2020
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Thành viên Nội dung chính % Tham gia phần chung
1 Nguyễn Thị Thùy Giang 1.2.1, 2.2.1, 2.3.1, 3.2.1, 3.3.1 100%
2 Lý Thị Kim Ngọc 1.2.2, 2.2.2, 2.3.2, 3.2.2, 3.3.2 100%
3 Nguyễn Đức Ninh 1.2.3, 2.2.3, 2.3.3, 3.2.3, 3.3.3 100%
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của việc phân tích tài chính:
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranhgay gắt của các thành phần kinh tế, ít nhiều đã gây ra những khó khăn cũng như làthử thách cho doanh nghiệp Vì vậy, để có thể khẳng định được mình các doanhnghiệp cần phải nắm vững được tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến tình hình tàichính của doanh nghiệp
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp thấy rõ được hoạt động tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, chínhxác nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin để có thể phântích, đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như là rủi ro, tiềm năngphát triển trong tương lai của doanh nghiệp để có thể đưa ra giải pháp hữu hiệu,đúng đắn nâng cao chất lượng công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Phân tích báo cáo tài chính là giải thích các báo cáo tài chính, thiết lập một hệthống thông tin nhằm làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định hợp lý về quản lýtài chính Các quyết định về đầu tư, các quyết định về đầu tư vốn, cơ cấu vốn, phânchia lợi nhuận…tất cả đều phụ thuộc vào kết quả phân tích tài chính Các yếu tốquan trọng trong phân tích, nhưng mục tiêu ra quyết định không thay đổi
2. Mục đích nghiên cứu:
Tiểu luận tập trung vào việc phân tích tình hình tài chính của công ty thôngqua các tỷ số để có thể thấy được thực trạng tại công ty, từ đó đưa ra những giảipháp, kiến nghị nhằm cải thiện hay làm cho tình hình tài chính tốt hơn
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc phân
tích tình hình tài chính đối với sự phát triển của doanh nghiệp, kết hợp giữakiến thức lý luận được tiếp thu ở nhà trường, giáo trình tham khảo, cũng như
sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh, nhóm em đã chọn NgânHàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu để thực hiện nghiên cứu cho tiểu luận
Trang 5 Phạm vi nghiên cứu: Phân tích tình hình tài chính của công ty trong giai
đoạn từ 2016-2018 Chỉ nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến báo cáo tàichính mà không đi sâu vào các hoạt động khác của doanh nghiệp
4. Công cụ phân tích tài chính:
Trong phân tích tài chính, công cụ được sử dụng nhiều nhất là các tỷ số tàichính Để thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, yếu tố đầu tiên và quan trọngnhất chúng ta cần phải có đó là các dữ liệu cơ bản về hoạt động tài chính của doanh
nghiệp, bao gồm các báo cáo tài chính như: bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, bảng báo cáo ngân lưu và bảng báo cáo vốn cổphần (cho các đối tượng là công ty cổ phần)
5. Kết cấu của tiểu luận:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích báo cáo tài chính.
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Thương mại Cổ Phần
Á Châu.
Chương 3: Tổng kết.
Trang 6Chương 1 Cơ sở lý thuyết về phân tích báo cáo tài chính
1.1 Lý thuyết chung về tài chính:
1.1.1. Các khái niệm liên quan:
a) Tài chính là gì?
Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầucủa các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lậptương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
b) Quản trị tài chính là gì?
Quản trị tài chính là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan
hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh của một doanhnghiệp hay một tổ chức Nói một cách khác, quản trị tài chính là quản trị nguồnvốn (bao gồm vốn tiền mặt, vốn, tài sản và các quan hệ tài chính phát sinh như:khoản phải thu - khoản phải trả), nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp.c) Phân tích tài chính là gì?
Phân tích tài chính là công việc quan trọng cần thiết trong mỗi doanh nghiệp.Thông qua phân tích tài chính để doanh nghiệp xác định lợi nhuận , nợ phải trả, thếmạnh và tiềm năng thu nhập trong tương lai Phân tich tài chính là một khía cạnhquan trọng của tất cả các hoạt động thương mại vì nó cung cấp những hiểu biết cóthể hành động về năng lực và tiềm năng trong tương lai của tổ chức
1.1.2. Ý nghĩa, mục đích phân tích tài chính:
Ý nghĩa của phân tích tài chính:
Thông tinh tài chính của doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâmnhư nhà quản lý tại doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng, nhà đầu tư, các cơquan quản lý chức năng Tuy nhiên mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm đến nhữngkhía cạnh khác nhau khi phân tích tài chính vì vậy phân tích tài chính cũng có ýnghĩa khác nhau đối với từng các nhân, tổ chức
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: phân tích tài chính nhằm tìm ra những giảipháp tài chính để xây dựng cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn thích hợp nhằm nângcao hiệu quả, tiềm lực tài chính cho doanh nghiệp
Trang 7Đối với chủ sở hữu: phân tích tài chính giúp đánh giá đúng đắn thành quả củacác nhà quản lý về thực trạng tài sản, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, lợi nhuận củadoanh nghiệp; sự an toàn và hiệu quả của đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
Đối với khách hàng, chủ nợ, phân tích tài chính sẽ giúp đánh giá đúng đắnkhả năng và thời hạn thanh toán của doanh nghiệp
Đối với cơ quan quản lý chức năng như cơ quan thuế, thống kê, phòng kinh tếphân tích tài chính giúp đánh giá đúng đắn thực trạng tài chính doanh nghiệp, tìnhhình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, những đóng góp hoặc tác động của doanhnghiệp đến tình hình và chính sách kinh tế-xã hội
Mục đích của phân tích tài chính:
Phân tích tình hình tài chính là giúp nhà phân phối đánh giá chính xác sứcmạnh tài chính, khả năng sinh lãi, tiềm năng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, đánhgiá những triển vọng cũng như những rũi ro trong tương lai của doanh nghiệp, để
từ đó đưa ra quyết định cho thích hợp
Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu giúp phục vụ công tácquản lý của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thựchiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn
1.1.3. Tầm quan trọng phân tích tài chính:
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính củadoanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng… Mỗi đốitượng lại quan tâm theo giác độ và mục tiêu khác nhau, nhưng thường liên quanvới nhau Do nhu cầu về thông tin tài chính của doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏiphân tích tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để từ
đó đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quan tâm Chính điều đó tạo điều kiện thuậnlợi cho phân tích tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và phát triển nhưng đồngthời cũng tạo ra sự phức tạp của phân tích tài chính
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ
hướng chủ yếu vào khă năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến
số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánhvới số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó là khoản bảohiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro
Trang 8Đối các nhà đầu tư, họ quan tâm đến lợi nhuận bình quân vốn của công ty,vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp…Từ đó ảnh hưởng tới cácquyết định tiếp tục đầu tư và công ty trong tương lai.
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâmhàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra, các nhà quảntrị doanh nghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nângcao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí… Tuy nhiên, doanh nghiệpchỉ có thể thực hiện các mục tiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán được
nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóngcửa, còn nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trảcũng buộc phải ngừng hoạt động
Phân tích tài chính đối với nhà quản lý doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhữngmục tiêu: Tạo ra chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đãqua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán vàrủi ro trong doanh nghiệp… Hướng các quyết định của Ban giám đốc theo chiềuhướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, tàitrợ, phân phối lợi nhuận…Phân tích tài chính là cơ sở cho ác dự đoán tài chính, làmột công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp
1.2 Nội dung phân tích tài chính của Ngân hàng Thương Mại Á Châu:
1.2.1. Tỷ số khả năng thanh toán:
Tỷ số thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn hạn:
Khả năng thanh toán hiện thời: Phản ánh việc công ty có thể đáp ứng
nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hay không
Khả năng thanh toán hiện thời =
Tỷ số >1 thể hiện khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trongtình trạng tốt Nếu tỷ số này quá cao thì lại là một biểu hiện không tốt doviệc tài sản ngắn hạn quá nhiều (tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồnkho ) ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty
Khả năng thanh toán nhanh: Phản ánh việc công ty có thể thanh toán
được các khoản nợ bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển thành tiền mộtcách nhanh nhất
Trang 9Khả năng thanh toán nhanh =
Chỉ số này tương tự như thanh toán hiện thời nếu chỉ số cao thể hiện khảnăng thanh toán nhanh của công ty tốt nhưng nếu quá cao sẽ là một biểuhiện không tốt khi đánh giá về khả năng sinh lời
Khả năng thanh toán bằng tiền mặt: Chỉ số thanh toán tiền mặt cho
biết bao nhiêu tiền mặt và các khoản tương đương tiền (ví dụ chứngkhoán khả mại) của doanh nghiệp để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn.Nói cách khác chỉ số thanh toán tiền mặt cho biết, cứ một đồng nợ ngắnhạn thì có bao nhiêu tiền mặt và các khoản tương đương tiền đảm bảo chitrả Công thức tính chỉ số thanh toán tiền mặt như sau:
Khả năng thanh toán bằng tiền =
Chỉ số thanh toán tiền mặt có giá trị bằng bao nhiêu là tối ưu phụ thuộcvào ngành nghề, độ lớn của doanh nghiệp cũng như thời gian đánh giá
So với các chỉ số thanh khoản khác ngắn hạn khác như chỉ số thanh toánhiện thời (current ratio), hay chỉ số thanh toán nhanh (quick ratio), chỉ sốthanh toán tiền mặt đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản Hàng tồnkho và các khoản phải thu ngắn hạn bị loại khỏi công thức tính do không
có gì bảo đảm là hai khoản này có thể chuyển nhanh chóng sang tiền đểkịp đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn
1.2.2. Tỷ số quản lý cơ cấu (quản lý nợ):
Tỷ số quản lý cơ cấu (quản lý nợ) là một tỷ số tài chính đo lường năng lực sửdụng và quản lý nợ của doanh nghiệp Doanh nghiệp nợ càng nhiều thì có nguy cơcao mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, dẫn tới xác suất phá sản và cạn kiệttài chính cao Tuy nhiên, nợ cũng là một dạng tài trợ tài chính quan trọng và tạo lợithế lá chắn thuế cho doanh nghiệp do lãi suất tiền vay được tính như một khoản chiphí hợp lệ và miễn thuế Tỷ số nợ phụ thuộc vào nhiều vào ngành nghề kinh doanh,lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động Gồm 2 loại tỷ số:
Tỷ số nợ trên tài sản (tỷ số nợ D/A): Tỷ số nợ trên tài sản đo lường
mức độ sử dụng nợ của công ty so với tổng tài sản hiện có.Tỷ số nợ trên
Trang 10tài sản cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp đượcđầu tư từ vốn vay nợ Qua đây cũng có thể đánh giá được khả năng tựchủ tài chính của doanh nghiệp.
Công thức:
Tỷ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạnlẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong thời kỳ nào đó chia cho giá trịtổng tài sản trong cùng kỳ Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kếtoán của doanh nghiệp
Tỷ số nợ trên tài sản =
Ý nghĩa:
Tỷ số này quá nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp vay ít có nghĩa là doanhnghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao hoặc doanh nghiệp chưa biếtkhai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằnghình thức đi vay Ngược lại, tỷ số này quá lớn hàm ý doanh nghiệpkhông có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh.Điều này có nghĩa mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn
Tỷ số này được đánh giá tốt hay không tốt phụ thuộc vào vị thế củangười phân tích Tổng nợ trên tử số của công thức tính bao gồm nợ ngắnhạn và nợ dài hạn phải trả Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp
vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn Cổ đông lại thích công ty
có tỷ số nợ cao vì sử dụng đòn bẩy tài chính chung làm gia tăng khảnăng sinh lợi cho cổ đông Vì vậy, việc đánh giá tỷ số nợ một cách kháchquan cần phải so sánh với tỷ số nợ bình quân của ngành
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (tỷ số nợ D/E): Tỷ số nợ vốn chủ sở hữu
cho biết tỷ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (vốn nợ và vốn chủ sở hữu) màdoanh nghiệp dùng để tài trợ cho hoạt động của mình Hai nguồn vốnnày có những đặc tính riêng và mối quan hệ của chúng được sử dụngrộng rãi để đánh giá cấu trúc tài chính và đo lường mức độ sử dụng nợcủa công ty với tổng vốn chủ sở hữu
Trang 111.2.3. Tỷ số khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời hay tỷ suất lợi nhuận là khái niệm phản ánh mối quan hệgiữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp hay là khả năng có được một khoản lợinhuận đáp ứng được mong muốn của chủ sở hữu
Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa
đủ để duy trì cân bằng tài chính, đồng thời cho chúng ta biết hiệu quả hoạt độngcủa doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Khả năng sinh lời cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách là đảmbảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư) và trả được các khoản lãi vay và đảmbảo hoàn trả khoản vay Để đánh giá được khả năng sinh lời thì phải dựa vào sốliệu của năm báo cáo (và các năm trước) để đánh giá các chỉ số sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: Là một tỷ số tài chính dùng để theodõi tình hình sinh lời của công ty Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuậnròng dành cho cổ đông và doanh thu của công ty Nó cho biết cứ mộtđồng doanh thu thuần thu về sẽ tạo ra được boa nhiêu đồng lợi nhuận sauthuế, chỉ tiêu này cho nhà quản lý thấy được hiệu quả quản lý chi phí vàdoanh thu trong kỳ
Tỷ suất này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanhthu Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỷ
số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công tykinh doanh thua lỗ
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất định được tính bằngcách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh
Trang 12thu thuần trong kỳ Đơn vị tính là % Cả lợi nhuận ròng lẫn doanh thuthuần đều có thể lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty.
Công thức tính tỷ số này như sau:
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu = LNST: Lợi nhuận sau thuế
ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản càng có hiệu quả, nhữngchứng khoán có ROA cao sẽ là những chứng khoán được ưa chuộng hơn
Và tất yếu những chứng khoán có chỉ số ROA cao cũng có giá cao hơn
Và được tính như sau:
ROA = Hoặc ROA = Nếu tỷ số này lớn hơn 0, nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càngcao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn
0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phầntrăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biếthiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
Tỷ số sinh lời trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngànhnghề kinh doanh Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sửdụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngànhhoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sỡ hửu (ROE), (Return on
Equity) cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêuđồng lợi nhuận hay nói cách khác là phản ánh năng lực sử dụng đồngvốn của doanh nghiệp để sinh lời như thế nào
Trang 13ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, giúp theo dõi xem mộtđồng vốn bỏ ra đã đẻ ra được bao nhiêu đồng lời Như vậy, ta hoàn toàn
có thể hiểu rằng tỷ lệ ROE sẽ càng cao càng tốt Nó sẽ chứng tỏ rằngcông ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông
Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộcvào quy mô và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chính xác, cần sosánh tỷ số này của công ty cần phân tích với tỷ số bình quân của toànngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành Cáchtính được xác định như sau:
ROE = ROE < 0 Doanh nghiệp bị lỗ
ROE > 0 Doanh nghiệp đang có lời
Chương 2 Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Thương Mại Á Châu
2.1 Thông tin chung của doanh nghiệp:
Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Tên giao dịch bằng tiếng anh: Asia Commercial Joint Stock Bank (ACB)Tên viết tắt: Ngân hàng Á Châu (ACB)
có giá; đầu tư vào chứng khoán và các tổ chức kinh tế; làm dịch vụ thanh toán giữacác khách hàng; kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc; thanh toán quốc tế, bao thanh toán,môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán; lưu ký, tư vấn tài chính doanh nghiệp và
Trang 14bảo lãnh phát hành; cung cấp các dịch vụ về đầu tư, quản lý nợ và khai thác tài sản,cho thuê tài chính và các dịch vụ ngân hàng khác.
• Kinh doanh ngoại tệ và vàng
• Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
Khách hàng chính: Ngân hàng của mọi nhà, là địa chỉ đầu tư hiệu quả của các
cổ đông, là ngân hàng tận tụy phục vụ khách hàng, cung cấp cho khách hàng sảnphẩm dịch vụ chất lượng hàng đầu
2.2 Tìm hiều tình hình tài chính tại Ngân hàng Thương Mại Á Châu:
2.2.1. Khả năng thanh toán của Á Châu:
Các khoản lãi phí phải
Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn
45.151.482 45.635.016 45.821.522
Trang 15Chứng khoán đầu tư sắn sàng để bán 8.007491 8.201.643 10.601.503
Trang 16nợ 265.285.276 308.315.342 355.749.080 43.020.066 16.2% 47.433.738 15.3%Tổng
Với kết quả trên cho chúng ta thấy:
Giai đoạn 2017-2018: Trong năm 2017 tỷ số nợ trên tổng tài sản của Ngân hàng là
0.933 tức cứ một đồng tài sản của công ty có đến 0.933 đồng nợ Đến năm 2018 tỷ
số này tăng lên 0.936
Giai đoạn năm 2018-2019: Tỷ số nợ trên tổng tài sản của Ngân hàng giảm từ 0.936
xuống còn 0.927
Qua đây thấy được tỷ số nợ qua các năm của Ngân hàng khá cao chứng tỏ phần lớn
tài sản của Ngân hàng chủ yếu có từ vốn nợ Có khoảng 90% tài sản được tạo ra từ
vốn nợ, đây cũng là đặc thù của ngành Ngân hàng
Trang 17Thông qua bản phân tích cho thấy:
Giai đoạn 2017-2018: Trong năm 2017 tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Ngân
hàng là 16.5 tức là cứ mỗi một đồng vốn chủ sở hữu có 16.5 đồng vốn vay nợ, sang
năm 2018 tỷ số này giảm xuống mức 14.6
Giai đoạn 2018-2019: Trong giai đoạn này tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Ngân
hàng tiếp tục giảm từ 14.6 xuống còn 12.8
Có thể dễ dàng thấy tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu khá lớn vì trong tổng nợ chiếm
86.6% đến 89.9% tiền gửi khách hàng và đây cũng là nguồn vốn lưu động chính
của Ngân hàng
2.2.3. Khả năng sinh lời của Á Châu:
Doanh thu thuần 8.457.754 10.362.920 12.112.160
Tổng tài sản đầu kì 233.680.877 284.316.123 329.333.241
Tổng tài sản cuối kì 284.316.123 329.333.241 383.514.439
Vốn chủ sỡ hữu đầu 14.062.716 16.030.847 21.017.899
Trang 18Tỷ suất lợi nhuận trên
2.3 Đánh giá tình hình tài chính tại Ngân hàng Thương Mại Á Châu:
2.3.1. Đánh giá về khả năng thanh toán:
Khả năng thanh toán hiện thời
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bao nhiêu đồng tàisản ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện thời trung bình của công ty trong ba năm
là 1,08 Hay một đồng nợ ngắn hạn trung bình được đảm bảo bằng 1,08 đồng tàisản ngắn hạn và ta có thể thấy tỷ số thanh toán hiện thời qua mỗi năm là khôngchênh lệch nhiều Tỷ số thanh toán hiện thời năm 2017 là 1.11, nghĩa là cứ mộtđồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bằng 1.11 đồng tài sản ngắn hạn Đến năm
2018, tỷ số này tăng lên 1.16, tức tăng 0.05 năm 2017, và đến năm 2019 thì giảm0.18 so với năm 2018 ( từ 1.16 còn 0.98 )
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn tương đương = 1 chứng tỏ tài sảnngắn hạn vừa đủ bù đắp các khoản nợ ngắn hạn cho Doanh Nghiệp và DoanhNghiệp có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, tuy nhiên trong thực tế, nếu chỉ tiêu
Trang 19này ở mức 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Doanh Nghiệp cũng vẫn rấtmong manh.
Khả năng thanh toán nhanh
Là chỉ tiêu đánh giá được khả năng thanh toán của công ty một cách chặt chẽhơn Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn của công ty được đảm bảo bởi baonhiêu đồng tài sản ngắn hạn khi không tính đến yếu tố hàng tồn kho Ở đây lượnghàng tồn kho bị loại trừ ra vì hàng tồn kho được coi là tài sản có tính thanh khoảnthấp hơn cả trong tài sản ngắn hạn Bởi vậy việc thanh toán sẽ được đảm bảo bằngcác khoản tiền, phải thu và các tài sản ngắn hạn khác Khả năng thanh toán nhanhcủa công ty giảm qua 3 năm, cụ thể:
Năm 2017-2018, có thể thấy rằng hệ số thanh toán nhanh giảm 0.42 lần ( từ3.24 còn 2.82 ) và đến năm 2019 tiếp tục giảm 0.57 lần Điều này là do mức độtăng của nợ ngắn hạn Nhưng nhìn chung, hệ số thanh toán nhanh của công ty vẫnkhá cao so với tiêu chuẩn ( > 1 ), điều này chứng tỏ rằng Công ty đủ khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn , rủi ro thanh toán của công ty có thể đánh giá ởmức thấp Tuy nhiên , khi hệ số hơi cao ( trung bình ba năm là 2.77 lần ) sẽ phảnánh tình hình thanh toán nợ không tốt vì tiền và các khoản tương đương tiền bị ứđọng, vòng quay vốn chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Khả năng thanh toán bằng tiền mặt
Hệ số thanh toán bằng tiền mặt cho biết Doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốnbằng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay cho một đồng nợ ngắnhạn Qua bảng số liệu 2.2.1.2 ta thấy hệ số thanh toán bằng tiền mặt có xu hướngbất ổn trong giai đoạn 2017-2019 Năm 2017 là 0.76 lần sang năm 2018 tăng thêm0.15 đồng lên thành 0.91 lần, nghĩa là 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng0.91 đồng tiền và các khoản tương đương tiền Sở dĩ hệ số thanh toán bằng tiềnmặt năm 2018 tăng là do tiền và các khỏan tương đương tiền tăng Sang đến năm
2019 , nợ ngắn hạn bắt đầu tăng mạnh trong khi đó tiền và các khoản tương đươngtiền thì tăng ít hơn khiến cho hệ số thanh toán bằng tiền mặt của công ty giảm sovới năm 2018 , chỉ còn 0.81 đồng Tuy rằng hệ số khả năng thanh toán bằng tiềnmặt trong giai đoạn 2017-2018 có nhiều bất ổn nhưng cả ba năm hệ số này đều lớnhơn 0.5 cho thấy khả năng thanh toán bằng tiền mặt của công ty đang ở mức khảquan
Trang 202.3.2. Nhận xét về quản lý cơ cấu (quản lý nợ):
Biểu đồ 2.3.2.1 Tỷ số nợ trên tài sản.
Qua phân tích trên chúng ta thấy:
Tỷ số nợ trên tài sản của Ngân hàng Á Châu năm 2018 là 0.933 đã tăng lên0.936, tức tăng 0.003 lần tương đương 0.32% so với năm 2017 Do tốc độ tăngtrưởng tài sản thấp hơn so với tăng trưởng tổng nợ Tuy nhiên không tăng quánhiều
Tỷ số nợ trên tài sản năm 2019 lại giảm từ 0.936 xuống còn 0.927 lần, tức đãgiảm 0.009 tương đương đã giảm 0.96% so với năm 2018 Nguyên nhân là cho tốc
độ tăng trưởng tài sản lúc này cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của tổng nợ
Nhìn chung trong 3 năm này Ngân hàng có xu hướng giảm dần tỷ số nợ trêntài sản Tuy nhiên do đặc thù của ngành Ngân hàng nên tỷ số tổng nợ trên tài sảnnày còn được xét qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mặc dù năm
2018 tỷ số nợ trên tài sản của Ngân hàng có tăng cao so với năm 2017 nhưng tổnglợi nhuận sau thuế lại tăng vượt trội gần gấp 2.5 lần từ 2.118.131 triệu đồng lên5.137.052 triệu đồng Chứng tỏ Ngân Hàng Á Châu hoàn toàn làm chủ được tỷ số
nợ trên tài sản và đang sử dụng rất tốt đòn bảy tài chính nên công ty hoàn toàn đủkhả năng thanh toán các khoản nợ
Năm 2019 tỷ số nợ có giảm đi nhiều và lợi nhuận vẫn tăng cao hơn so vớinăm 2018 tăng trưởng từ 5.137.052 lên 6.009.937 triệu đồng Cho thấy công ty cókết quả làm ăn hiệu quả, lợi nhuận vẫn tăng đều qua các năm
2.3.3. Đánh giá khả năng sinh lời:
Biểu đồ 2.3.2.1 Tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu.
Thông qua biểu đồ cho thấy:
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Á Châu năm 2018 đã giảm từ16.5 xuống còn 14.6 tức giảm 1.9 lần tương đương 11.52% so với năm 2017 Dotốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu tăng nhanh hơn so với tổng nợ và tăng khámạnh cụ thể là tăng 31.1%
Trang 21Năm 2019 tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu tiếp tục giảm 1.8 lần từ 14.6 xuốngcòn 12.8 tương đương 12.33% so với năm 2018 Vẫn là do vốn chủ sở hữu tăngkhông ngừng và nhanh hơn tổng nợ của Ngân hàng.
Qua biểu đồ chúng ta thấy rõ đường thẳng của tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữuliên tục đi xuống qua các năm và vốn chủ sở hữu tăng đều cho thấy Ngân hàng ÁChâu đang có xu hướng ít phụ thuộc vào hình thức đi vay Công ty cũng có kết quảhoạt động kinh doanh tốt chứng tỏ tổng nợ được sử dụng hiệu quả để giúp lợinhuận luôn tăng trong giai đoạn này
Có thể thấy nguồn vốn chủ sở hữu tăng chứng tỏ đang có nhiều doanh nghiệp
và cá nhân gửi tiền hoặc vay nợ từ Ngân hàng Đặc biệt với Ngân hàng ít phụthuộc vào nguồn vốn đi vay Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước
Tóm lại, có thể thấy:
ACB cũng là một trong các ngân hàng duy trì cấu trúc đòn bẩy lớn Ngânhàng có tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao, lên đến hơn chục lần Đặc biệt tronglĩnh vực ngân hàng và bất động sản Do nguồn vốn hạn chế ngân hàng đã huy độngthêm nguồn vốn kinh doanh từ các tổ chức cá nhân có nhu cầu gửi tiền ngân hàng
để thực hiện các dịch vụ tài chính Tuy nhiên, các khoản thu như trên phải tính vào
nợ phải trả Nên dẫn tới tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao
Chúng ta cần cẩn trọng trong việc nghiên cứu, theo dõi tình hình tài chính củangân hàng Á Châu để có kết luận chính xác về khả năng xử lý nợ
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra được bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế, từ đó cho các nhà quản lý thấy được hiệu quả của việcquản lí và doanh thu trong kì Tỷ suất sinh lời trên doanh thu của Á Châu tăng từnăm 2017 đến 2019 và để xem xét được chính xác những cái tăng giảm của ÁChâu thì ta sẽ xét một vài tiêu chí ảnh hưởng đến lượi nhuận sau thuế như sau:
Trang 22Bảng 2.3.3.1 Bảng tỉ trọng chi phí trên doanh thu
Năm 2017 – 2018: Có thể nhận thấy rằng trong năm 2018 tỉ suất sinh lời tăng
từ mức 25,04% lên đến 49,57%, điều này là do trong năm 2018 công tác quản lí
ba loại chi phí này tốt hơn so với năm 2017, cụ thể trong năm 2017 để tạo ra đượcmột đồng doanh thu cần những 0,7351 đồng chi phí từ các hoạt động; 0,3033 đồngchi phí dự phòng rủi ro tín dụng; 0,0457 đồng chi phí hoạt động dịch vụ, tuy nhiênsang năm 2018 để tạo được một đồng doanh thu chỉ cần 0,6477 đồng chi phí từ cáchoạt động; 0,09 đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng; 0,0576 đồng chi phí hoạtđộng dịch vụ
Năm 2018 – 2019: Trong tình hình Á Châu đang trên đà hồi phục có thể thấycác chi phí trong năm 2018 đều đã giảm so với 2107 ngoài trừ chi phí cho các hoạtđộng dịch vụ tuy nhiên sang đến năm 2019 thì công tác quản lí chi phí hoạt động
đã tăng lên, có thể nói trong năm 2019 là năm rực rỡ của không chỉ các ngân hàng
mà Á Châu cũng đã phá triển rất nhiều trong các mảng hoạt động dịch vụ khácnhau
Năm 2019: Được cho là năm thành công đối với ngành ngân hàng khi nhiềunhà băng báo lãi lớn, dĩ nhiên không thể không nhắc đến ACB Có thể nhận thấyrằng trong năm 2018 tỉ suất sinh lời tăng từ mức 49,57% lên 49,61% không tăngnhiều nhưng vẫn tăng, năm 2018 để tạo được một đồng doanh thu chỉ cần 0,6477đồng chi phí từ các hoạt động; 0,09 đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng; 0,0576đồng chi phí hoạt động dịch vụ Tuy nhiên, năm 2019 để tạo được một đồng doanhthu cần đến 0,6859 đồng chi phí từ các hoạt động; 0,0226 đồng chi phí dự phòngrủi ro tín dụng; 0,0671 đồng chi phí hoạt động dịch vụ
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)
Tỉ suất sinh lời trên tài sản của Á Châu trung bình trong ba năm ở mức 1,39%nghĩa là một đồng đầu tư tài sản tạo ra được 0,0139 đồng lợi nhuận sau thuế, có thểthấy hiệu quả đầu tư của Á Châu nằm ở mức trung bình Tỷ suất sinh lời trên tàisản tăng lên từ năm 2017 đến năm 2019, ngành ngân hàng mà duy trì ROA > 2%,cũng đã là khá tốt, vì đòn bẩy của ngân hàng khá cao nhìn vào đó ta có thể thấykhả năng của Á Châu khá là khả quan và để tìm hiểu nguyên nhân tăng giảm của tỷ
Trang 23suất sinh lời trên tài sản, ta có thể sử dụng công thức Dupont để xem xét ảnhhưởng.
Phương pháp phân tích Dupont như sau:
ROA = Hiệu suất sử dụng tài sản Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Hiệu suất sử dụng tài sản =
Bảng 2.3.3.2 Tác động của tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu lên
ROA qua các năm.
Qua bảng phân tích có thể thấy được tỷ suất sinh lời trên doanh thu phần lớnđều có tác động dương đến tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản cụ thể:
Năm 2017-2018: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng 24,53% dưới tác độngnhân hiệu suất sử dụng tài sản là 0,039 làm cho tỉ suất sinh lời trên tài sản tăng lên0,95% hay một đồng tài sản năm 2018 tạo ra nhiều lợi nhuận hơn năm 2017 là0,0095 đồng
Năm 2018-2019: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng, tuy nhiên mức tăngkhông nhiều chỉ đạt khoảng 4%, quá bé so với năm 2017-2018 ( Nguyên nhân tỷsuất sinh lời trên doanh thu tăng nhẹ là do công tác quản lí chi phí các hoạt độngđều tăng do Á Châu đã tập trung đầu tư vào nhiều hoạt động) tuy nhiên dưới sự tácđộng nhân của hiệu suất sử dụng tài sản 0,034 làm ROA tăng thêm 0,0001 một con
số khá nhỏ có thể coi gần bằng 0