Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân
Trang 1LÒ DUY CHI
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC TRONG TRI THỨC
SỬ DỤNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI H`MÔNG
TẠI HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2021
Trang 2LÒ DUY CHI
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC TRONG TRI THỨC
SỬ DỤNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI H`MÔNG
TẠI HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 8620201
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Đỗ Hoàng Chung
2 TS Nguyễn Tiến Dũng
CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Thái Nguyên - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Lò Duy Chi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Hoàng Chung và TS Nguyễn Tiến Dũng -
Giảng viên Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập và thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo Khoa Lâm Nghiệp, tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Học viên
Lò Duy Chi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 15
1.2.1 Vị trí địa lý 15
1.2.2 Địa hình địa thế 15
1.2.3 Khí hậu- thuỷ văn 16
1.2.4 Địa chất, thổ nhưỡng 16
1.2.5 Tài nguyên rừng 17
1.2.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội 17
PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 19
2.2 Thời gian nghiên cứu: 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản 20
Trang 62.4.2 Phương pháp chuyên gia 20
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 26
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp 27
PHẦN 3 QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc H`Mông tại khu vực nghiên cứu 28
3.2 Tri thức địa phương trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc 35
3.2.1 Tri thức địa phương trong việc khai thác các loài cây thuốc 35
3.2.2 Tri thức địa phương trong việc sử dụng các loài cây thuốc 42
3.3 Các loài thực vật dùng để làm thuốc và các bài thuốc quan trọng cần được bảo tồn, nhân rộng 44
3.3.1 Các loài thực vật dùng để làm thuốc cần được bảo tồn và nhân rộng 45
3.3.2 Các bài thuốc cần được lưu giữ và bảo tồn 50
3.4 Đa dạng các loài cây có giá trị được cộng đồng dân tộc H`Mông sử dụng làm thuốc 53
3.5 Đề xuất các giải pháp 58
PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
4.1 Kết luận 61
4.2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Danh sách loài thực vật được cộng đồng người H`Mông khai thác và sử dụng 28 Bảng 3.2 Tri thức địa phương về khai thác các loài cây thuốc 35 Bảng 3.3 Các bài thuốc của cộng đồng người H`Mông 43 Bảng 3.4 Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại huyện Phong Thổ
tỉnh Lai Châu 45 Bảng 3.5 Các bài thuốc quan trọng của cộng đồng dân tộc H`Mông cần được lưu
giữ và bảo tồn 51 Bảng 3.6 Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu biểu
được cộng đồng dân tộc H`Mông sử dụng làm thuốc 54
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng 21
Hình 2.2 Hình dạng ô tiêu chuẩn 23
Biểu đồ 3.4.1 Thể hiện mức độ hữu ích của loài đối với người dân đại phương 47
Biểu đồ 3.4.2 Thể hiện mức độ để xâm nhập khai thác 48
Biểu đồ 3.4.3 Thể hiện tính chuyên biệt về nơi sống của loài 49
Biểu đồ 3.4.4 Thể hiện mức độ tác động đến sự sống của loài 50
Biểu đồ 3.4.5 Thể hiện tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh 52
Trang 9MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường Sơn Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một
ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt
là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao Trong đó có 3.948 loài được dùng làm thuốc (viện dược liệu, 2007) chiếm khoảng 37% số loài đã biết Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2002 –
Trang 102005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài) Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa dạng
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh tật cần thuốc chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày Với các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn thuốc Tây Y không phục
vụ đến kịp thời Các bài thuốc Nam lại là nguồn nguyên liệu sẵn có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc an toàn và có hiệu quả Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng bào dân tộc thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là “sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng , kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến
sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đối với các cộng đồng dân tộc H`Mông, huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc xuất
phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đa dạng cây thuốc
trong tri thức sử dụng của cộng đồng người H`Mông tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu" được thực hiện nhằm tìm ra giải pháp để bảo tồn và phát triển các loài
thuốc có giá trị và kinh nghiệm sử dụng các bài thuốc của cộng đồng dân tộc
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Phát hiện được từ cộng đồng người H`Mông các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống
- Lựa chọn được các bài thuốc, cây thuốc hay quan trọng để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân
Trang 11- Tổng hợp được tri thức sử dụng, một số bài thuốc gia truyền và những kinh nghiệm chữa bệnh của đồng bào dân tộc H`Mông từ các loài cây hoặc các bộ phận của cây sử dụng an toàn và có hiệu quả
- Tổng hợp được tri thức trong việc trồng, khai thác và chế biến cây thuốc của các cộng đồng người H`Mông ở khu vực nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật Lâm sản ngoài
gỗ để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn tri thức địa phương
Trang 12PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm Sản Ngoài Gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng
cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương
mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã
đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác
giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp
sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây
thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại
cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”, “Giang
Tô trung dược danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần
Hồng Hạnh,1996)
Năm 1968 một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc đã xuất
bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” cuốn sách đã đề cấp
tới cây Thảo quả với nội dung sau:
- Phân loại cây Thảo quả: gồm tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost Lemaire), tên họ Zingiberceae
- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá hoa, quả
- Vùng phân bố ở Trung Quốc
- Đặc điểm sinh thái: Khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật gây trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh
- Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản
- Công dụng: Làm thuốc trị các bệnh về đường ruột
Trang 13Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và có hệ
thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 2000-5000
USD/ Kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này
Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng
(Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện
Vệ sinh dịch tể công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh
màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội dung đề
cấp là: Tên khoa học, một số dặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công
dụng và thành phần hóa học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua,
N Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây
thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân
loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo
vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn
theo Phan Văn Tháng, 2002)
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay
có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
Trang 14phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo
Nguyễn Văn Tập, 2006)
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên
Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả
A.l.Ermakov, V.V Arasimovich… đã nghiên cứu thành công công trình “Phương
pháp nghiên cứu hóa sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử
dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko
đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế)
trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G Kovalena đã công bố rộng
rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa
không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây
thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh
với liều lượng đã được định sẵn (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005)
Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho
tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc
(Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát Đặc biệt là nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồng bào nhân dân sống gần đó mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu chữa tại chỗ là rất cần thiết và cấp bách nhất
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn
Trang 15Lâm, Hưng Yên) Gần đây nhiều loài thuốc ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà, Ác Ti sô, Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã Đề, Sả, Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ , vv…
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây
thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Gs Đỗ Tất Lợi (1999) trong cuốn “Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc; Sách “Cây thuốc Việt
cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc
nhập nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn
nguyên liệu thô (Viện Dược Liệu, 2002)
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ,
củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể Do khai thác bừa bãi
để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài
thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam (Viện
Dược Liệu, 2002)
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng
Trang 16nhiệt đới núi cao Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài
Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng
30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến
từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến
lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, …Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian
trồng, thu hoạch của Sa nhân (Lê Trần Đức, 1997)
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng
để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám
trắng, Mây nếp, …(Nguyễn Ngọc Bình, 2000)
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyên Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộccho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc H`Mông ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức độ tác động của người đân địa
phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồng tài nguyên cây thuốc (Phạm Thanh
Huyền, 2000)
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ 1994 -2002, Viện dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú
Trang 17Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích trong đó có mô hình
Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình trồng Ba kích ở đồi
và đất nương rẫy cũ Bước đầu các mô hình này đã đem lại những hiệu quả đáng kể
(Nguyễn Chiều, 2006)
Ở nước ta số loài cây thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không ngừng tăng lên:
- Năm 1952 toàn Đông Dương có 1.350 loài
- Năm 1986 Việt Nam đã biết có 1.863 loài
- Năm 1996 Việt Nam đã biết có 3.200 loài
- Năm 2000 Việt Nam đã biết có 3.800 loài
(Lã Đình Mỡi, 2003)
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và
phát triển cây thuốc (Trần Khắc Bảo, 2003)
Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại vườn quốc gia Hoàng Liên, Ninh Khắc Bản đã thống kê được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một số loại cây triển vọng để đưa vào phát triển như: Thảo quả, Thiên niên kiện, Xuyên khung,
… (Ninh Khắc Bản, 2003)
Theo Ninh Khắc Bản khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tại Hương Sơn –
Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể sử dụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài cây được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương bồ, Ngũ gia bì,
Sa nhân,… (Ninh Khắc Bản, 2003)
Trang 18Nguyễn Văn Thành khi nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng-Phốk vùng lõi vườn Quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăc Lắc đã chỉ ra các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển, nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc
theo nhóm bệnh (Nguyễn Văn Thành, 2004)
Trong 2 năm 2004-2005 Lê Qúy Công đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải
pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển (Ngô Quý Công, 2005)
Theo Nguyễn Văn Tập, để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc
ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng (Nguyễn Văn Tâp, 2005)
Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cộng sự đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thời gian trong cộng
Trang 19đồng thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này
(Nguyễn Tập, 2005)
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm - Hoàng Bồ - Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong
đó có 8 loài được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam
(Nguyễn Văn Tập, 2006)
Năm 2006, Lê Thị Diên và cộng sự nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc Nam dưới tán rừng tự nhiên trong bối cảnh nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên dang bị khai thác cạn kiệt cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện, nhằm sử dụng nguồn tài nguyên này trong tương lai Kỹ thuật tạo cây con và gây trồng các loài cây Bách bệnh, Bình vôi, Bồng bồng, lá Khôi, Vằng đắng, đã được người dân tại thôn Hà An áp dụng rộng rãi Các cây thuốc Nam được gây trồng có tỷ lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng Công trình nghiên cứu này nhằm cung cấp kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc Nam được người dân sử dụng nhiều dựa trên kinh nghiệm của họ kết hợp với những thử nghiệm từ đề tài để phát
triển cây thuốc Nam tại thôn Hà An (Lê Thị Diên, 2006)
Cho đến nay Lâm sản ngoài gỗ vẫn là nguồn dược liệu chủ yếu và là nguồn thu nhập của người dân ở những vùng rừng mưa thường xanh ở miền Bắc và miền Trung, điển hình là ở Đông Bắc, Bắc Bộ và Tây Nguyên Nhiều dược liệu quý dùng trong nước và xuất khẩu đều có nguồn gốc từ Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn… như Sâm Ngọc Linh, Hoàng Đằng (để sản xuất Becberin) ở Tây Nguyên rất nổi tiếng Ngày nay nhiều hộ gia đình đã trồng các loài cây dược liệu trong vườn nhà với nguồn giống lấy từ rừng, như trồng quế đã thành phổ biến ở các tỉnh Đông Bắc, Bắc Bộ và Trà Bồng, Trà My (Quảng Nam); Ba kích , Hà thủ ô, Hòe…trồng rất phổ biến ở nhiều nơi Dược liệu đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của
Trang 20nhiều vùng, người dân thu hái dược liệu chỉ để sử dụng một phần rất nhỏ còn lại đem bán ra ngoài thị trường và từ đó xuất khẩu sang các nước khác Những người sống ở gần biên giới phía Bắc thường bán các dược liệu thu hái được qua biên giới bằng con đường trực tiếp hoặc thông qua người buôn Nhiều loại dược liệu có nguồn gốc từ Việt Nam xuất khẩu sang các nước khác, qua chế biến và quay trở
lại Việt Nam với thương hiệu nước ngoài trong tỉnh (Theo Cẩm nang Lâm nghiệp,
Phần Lâm sản ngoài gỗ, 2006)
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng
vầ tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây
thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta,
Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây
chủ yếu là cộng đồng dân tộcvà Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm
có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần
được ưu tiên và bảo tồn (Đỗ Hoàng Sơn, 2008)
Từ nhều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập được 500 loài cây thuốc đem
về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Thanh Trì (Hà Nội), Vườn Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và Vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn – Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện sống như điều kiện sống của chúng và lý lich thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa-quả… được ghi lại để đánh giá
khả năng bảo tồn (Lê Văn Giỏi, 2006)
Danh sách một số loài cây dược liệu có giá trị cao trên thị trường được người dân bán tại chợ Sapa do tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Viện Đông y thống kê như sau: Bạch chỉ, Bạch thược, Bạch truật, Cam thảo, Đại táo, Đẳng sâm, Đỗ trọng, Đương
Trang 21quy, Hà thủ ô dổ, Hà thủ ô trắng, Liên nhục, Hoài sơn, Hoàng kỳ, Huyền sâm, Mạch ngôn, Ngũ gia bì chân chim, Ngũ gia bì gai, Ngu tất, Sâm nam, Thổ phục linh, Thục địa Trong số dược liệu này chỉ có một số rất nhỏ có nguồn gốc Trung Hoa như: Đương
quy, Đại táo, số còn lại là sản phẩm có nguồn gốc từ rừng của miền Nam (Dẫn theo
Nguyễn Thị Thoa, 2006)
Thuần hóa Lâm sản ngoài gỗ thành công rõ rệt nhất là với những loài cây dược liệu Trong vòng 50 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có hơn 30 loài cây thuốc vốn c tự nhiên ở rừng đã được thuần hóa đưa vào trồng ở các quy mô khác nhau, trong số đó có 4 loài là Ích mẫu, Củ cọc, Kim tiền thảo, Nhân trần đã được trồng tương đối ổn định; 10 loài đang được nghiên cứu thuần hóa, đó là những loài quý hiếm như: Ba kích, Cốt khí củ, Đẳng sâm, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì gai, Sâm ngọc linh, Sâm vũ điệp, Sì to, Tam thất hoang và Tục đoạn Vấn đề khó khăn là thiếu nguồn giống, quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng cũng là những khâu quan trọng
cần được nghiên cứu (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006)
Khi nghiên cứu kiến thức bản địa trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã San Thành- Thị xã Lai Châu, Lê Sỹ Trung và công sự đã thống kê được
51 loài cây thuốc dang được khai thác và sử dụng Xác định các loài cây thuốc được đưa vào bảo tồn và phát triển Thực trạng quản lý, bảo vệ, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương và đề xuất một số giải pháp chủ
yếu cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển
Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây Chè đắng mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất: saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, calotennoid và axit hữu cơ Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ lâu
đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006) Trong nghiên cứu “Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới” Phạm Minh Toại và
cộng sự đã chỉ ra: với mức độ mất rừng như hiện nay thì hệ thực vật và động vật giàu có ở vùng nhiệt đới, bao gồm cả các loài dược thảo đã biết hoặc ở dạng tiềm năng sẽ bị hủy diệt và các kiến thức bản địa liên quan ít có cơ hội tồn tại Việc mất
Trang 22rừng nhiệt đới rỗ ràng đang đe dọa sự an toàn của loài người thông qua các tác động cùng tăng lẫn nhau như: trượt lở đất, lũ lụt và hoang mạc hóa, xói mòn đất và sự lây nhiễm một số bệnh tật tuy nhiên sự tuyệt chủng của những loài dược thảo và sự mất
đi của những thầy thuốc nam giỏi ở địa phương (thầy lang) còn là một nguy cơ lớn hơn nhiều đối với sức khỏa con người ở cả các nước đang phát triển và các nước
phát triển (Phạm Minh Toại, 2005)
Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:
- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa kịp khai thác
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng
phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng (Coscinium
fenestratum) ; Các loài Bình vôi (Stephania Spp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đắng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ tái
sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một số loài thuộc nhóm này như
Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào
Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc
tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao
(Nguyễn Văn Tập, 2005)
Trang 23Nước ta lại là một nước nhiệt đới có nhiều rừng, tập trung nhiều thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vì vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến
sử dụng tài nguyên cây thuốc bản địa là một việc rất cần thiết hiện nay
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý
Phong Thổ là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía bắc của tỉnh Lai Châu, giáp ranh với các lãnh thổ liền kề:
- Phía Bắc tiếp giáp huyện Kim Bình tỉnh Vân Nam, Trung Quốc;
- Phía Đông, Đông Nam tiếp giáp tỉnh Lào Cai;
- Phía Nam tiếp giáp với huyện Tam Đường;
- Phía Tây và Tây Nam tiếp giáp huyện Sìn Hồ
Phong Thổ có vị trí địa lý thuận lợi do có đường biên giới dài 98,95 km trải dài, có cửa khẩu quốc tế Ma Lù Thàng và có tuyến đường quốc lộ 12, 4D, quốc lộ 100 đi qua, tạo thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa với các địa phương lân cận trong nước và với Trung Quốc.
1.2.2 Địa hình địa thế
Địa hình núi cao là phổ biến, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, xen
kẽ là những thung lũng hẹp, chia thành các vùng sau:
- Địa hình vùng núi cao: Gồm 8 xã phía Bắc: Sỉ Lờ Lầu, Mồ Sì San, Vàng
Ma Chải, Pa Vây Sử, Tung Qua Lìn, Dào San, Mù Sang, Ma Ly Chài, và xã Sin Súi Hồ, tổng diện tích 37.455,77 ha, chiếm 36,40% diện tích đất tự nhiên, độ dốc lớn; đây là vùng tập trung hầu hết tài nguyên rừng của cả huyện
Trang 24- Địa hình vùng núi thấp: Bao gồm các dãy đồi núi thấp tập trung ở các
xã phía Nam và Tây Nam của huyện, gồm các xã: Mường So, Nậm Xe, Bản Lang, Ma Ly Pho, Hoàng Thèn, Khổng Lào diện tích 65.468,73 ha, chiếm 63,6% diện tích đất tự nhiên hầu hết là đồi núi, một số nơi bằng phẳng, thuận lợi nước tưới người dân canh tác lúa nước
1.2.3 Khí hậu- thuỷ văn
Khí hậu trong khu vực nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều Nhiệt độ bình quân năm khoảng 20,20C, lượng mưa bình quân năm 2.295mm, độ ẩm không khí bình quân trong năm 81% Phong Thổ bị dãy núi cao che khuất ở phía Bắc, nên tần suất gió hướng Bắc và lệch Bắc không đáng kể, hướng gió chính là gió Tây và Tây Nam Với khí hậu, thời tiết tương đối thuận lợi là điều kiện để đa dạng hóa các loại cây trồng, đặc biệt nhất là các cây trồng nhiệt đới như: chuối, hoa màu các loại
Phong Thổ nằm trong lưu vực của sông Nậm Pa, bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua địa bàn xã Ma Li Pho và thị trấn Phong Thổ với chiều dài khoảng 18 km Hệ thống sông suối chính gồm suối Nậm Pạt, suối Nậm Cúm, suối Nậm Lùm, suối Nậm So với tổng chiều dài các suối đạt 210 km Đây là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trên địa bàn huyện, đồng thời thuận lợi cho đầu tư các công trình thủy điện Ngoài ra, đây cũng là nguồn nước dồi dào cho việc phát triển nương định canh, xây dựng hệ thống thủy lợi, khai hoang, mở rộng diện tích 2 vụ lúa
1.2.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Tài nguyên đất của Phong Thổ khá đa dạng và phong phú, được chia làm
4 nhóm khác nhau Nhóm đất đỏ vàng, chiếm khoảng 33,65% diện tích; nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, chiếm khoảng 59% diện tích; nhóm đất dốc tụ, chiếm khoảng 2,7% diện tích tự nhiên; các loại đất khác chiếm khoảng 4,65% diện tích tự nhiên Như vậy, tài nguyên thổ nhưỡng cũng có sự phân hóa khá
Trang 25rõ rệt giữa vùng thấp và vùng cao Vùng thấp có các loại đất thích hợp cho phát triển lúa nước, các loại cây ngắn ngày Vùng cao có các loại đất thích hợp cho phát triển cây lâu năm và phát triển rừng (kết hợp với trồng cây dược liệu dưới tán rừng)
1.2.5 Tài nguyên rừng
Chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng: Tập trung chỉ đạo làm tốt công tác quản
lý, khoanh nuôi, bảo vệ, trồng mới và chi trả các chế độ về phát triển rừng, dịch vụ môi trường rừng Đến năm 2020 tổng diện tích rừng là 44.987,2ha , tỷ
lệ che phủ rừng 43,71%
1.2.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
Kinh tế đã có bước phát triển toàn diện trên tất cả các ngành, lĩnh vực, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tổng giá trị sản xuất ước đạt trên 3.634 tỷ đồng, đạt 101,2% so với mục tiêu Nghị quyết, trong đó cơ cấu các ngành kinh tế: Nông, lâm, thủy sản: 23,1% - Công nghiệp, xây dựng: 39,9% - Dịch vụ: 37% Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người đạt 29 triệu đồng/năm
Lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản được đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tích cực, đưa các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao Các đề án, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất được triển khai thực hiện hiệu quả, khai thác được tiềm năng, thế mạnh của từng vùng Lợi thế Cửa khẩu đang từng bước được phát huy, thúc đẩy sản xuất một số hàng hóa nông sản xuất khẩu: Sản xuất cây lương thực tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng Tổng diện tích gieo trồng 8.250ha; sản lượng đạt 35.609 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 434kg/người/năm Mặt khác cây chè đã được mở rộng diện tích theo hướng tập trung, ước đến năm 2020 tổng diện tích chè toàn huyện là 268,84 ha; hiện có 34,5 ha chè kinh doanh, sản lượng chè búp tươi bình quân đạt trên 70 tấn/năm Tiếp tục chăm sóc 1.384,72ha cây cao su; 1.055
ha cây thảo quả, trồng mới 115,89 ha cây Mắc ca, nâng tổng diện tích cây Mắc ca
Trang 26toàn huyện lên 182,89 ha Bên cạnh đó với việc chuyển đổi diện tích một số cây trồng có giá trị kinh tế thấp và đất hoang hóa, đất đồi dốc sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế, diện tích trồng cây ăn quả trên địa bàn huyện tăng nhanh trong những năm qua, cụ thể: Ước đến năm 2020 tổng diện tích trồng cây ăn quả là 4.642,7ha; sản lượng đạt 55.178,8 tấn Chăn nuôi, thủy sản cũng đã được tập trung chỉ đạo phát triển chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm; tính đến năm 2020 tổng đàn gia súc ước đạt 44.845 con, tốc độ tăng trưởng dự kiến là 6,1% Thủy sản phát triển khá về diện tích và sản lượng; tiếp tục duy trì và phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản nước lạnh hiện có ở các xã vùng cao Ngoài ra công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng cũng đã được tập trung chỉ đạo làm tốt công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ, trồng mới và chi trả các chế độ về phát triển rừng Đến nay tổng diện tích rừng là 44.686,61ha, tỷ lệ che phủ rừng 42,07%
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển Ước đến hết năm 2020 có trên 88%, thôn, bản có đường ô tô đến bản, có 167/171 bản có đường xe máy đi lại thuận lợi; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp
vệ sinh 83,5; 171/171 bản có điện lưới quốc gia, 98,2% số hộ được sử dụng điện
Hệ thống trường, lớp học được được quy hoạch, sắp xếp lại phù hợp với tình hình thực tiễn của huyện Số lượng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được bổ sung, cơ bản khắc phục tình trạng thiếu giáo viên ở các bậc học Tỷ lệ chuyển lớp, chuyển cấp, thi tốt nghiệp năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp bậc mầm non đạt 98,1%; tiểu học trên 99%; trung học cơ sở trên 95%; THPT 30% Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện tốt các chính sách
hỗ trợ cho học sinh Tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp học, đến nay tỷ lệ kiên cố, bán kiên cố đạt 89,5%;
Tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình 4,3%/năm, đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn 20,49% Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được quan tâm, đã đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dưới 03 tháng cho 4.755 lao động nông thôn, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, tập huấn từ 25% năm 2015 lên 50% năm 2020(Trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35%), giải quyết việc làm mới cho 4.945 lao động, tổ chức cho 137 công dân đi xuất khẩu lao động sang thị
trường lao động nước ngoài
Trang 27PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chỉ nghiên cứu các loài thực vật được cộng đồng dân tộc H`Mông sử dụng làm thuốc
- Địa điểm nghiên cứu: Tại cộng đồng người dân tộc H`Mông sống tại huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu
2.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 8/2020 đến tháng 9/2021
2.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
Nội dung 1: Thành phần loài cây được cộng đồng người H`Mông sử dụng làm thuốc
- Xác định các loài cây được người dân khai thác và sử dụng làm thuốc
- Xác định tên địa phương, tên dân tộc, tên khoa học của các loài cây thuốc
- Mô tả một số đặc điểm hình thái, sinh thái và nơi sống của các loài cây thuốc
Nội dung 2: Tổng hợp kiến thức của cộng đồng người H’Mông tại địa phương trong việc khai thác, sử dụng các loài cây thuốc
- Tổng hợp các kiến thức địa phương về khai thác như: Bộ phận thu hái; Mùa
vụ và kỹ thuật thu hái;
- Tổng hợp các kiến thức địa phương về bảo quản sản phẩm: Biện pháp xử lý, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch
- Tổng hợp các kiến thức địa phương về cách chế biến và sử dụng các loài cây thuốc: Các phương thức chế biến đối với từng cây ở từng cộng đồng, từng hộ như bằng cách đơn giản (phơi, gác bếp, dùng tươi ) hay cầu kỳ (phải qua nhiều công đoạn khác nhau ); Thành phần và tỷ lệ các loài cây phối hợp trong các bài thuốc dân gian
Nội dung 3: Đánh giá đa các loài cây có giá trị được cộng đồng người H`Mông
sử dụng làm thuốc
Trang 28Để xây dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, khai thác và phát triển một số cây thuốc và bài thuốc được phát hiện tại cộng đồng thì các loài cây thuốc cần được mô tả và định danh
Các đặc điểm về hình thái và sinh thái cơ bản của một số loài cây được
mô tả Kết hợp với một số hình ảnh minh họa kèm theo, các cây thuốc sẽ được
mã hóa theo thứ tự cây thuốc có tiềm năng khai thác và phát triển
Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tớí các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp chuyên gia
Phân loại thực vật được giám định của các chuyên gia về thực vật tại các cơ
sở có uy tín (Viện Sinh thái và TNSV, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên )
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.3.1 Liệt kê tự do
Liệt kê tự do là kỹ thuật thường được áp dụng trong nghiên cứu xã hội Áp dụng trong điều tra cây thuốc, liệt kê tự do cần được thực hiện qua hai giai đoạn: (i) liệt kê tự do và (ii) xác định cây thuốc
Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin
(NCCT), đề nghị họ cho tên tất cả các tên của cây làm thuốc
Chọn mẫu: NCCT được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên – phân tầng:
NCCT được phân thành một số nhóm nhất định (theo kinh nghiệm; dân tộc; độ tuổi; giới ), sau đó lấy ngẫu nhiên NCCT từ các loại đó
Phỏng vấn: Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả NCCT, ví dụ: “Xin bác (anh/chị/ông/bà) kể tên tất cả các cây trong khu vực có thể được sử dụng làm thuốc
mà bác (anh/chị/ông/bà) biết?” Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị
Trang 29NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình Điều này tránh
được sự nhầm lẫn tên cây thuốc giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau
Hình 2.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy
có thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng
Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần mềm
máy tính, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii) đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục các tên theo thứ tự nào đó, ví dụ như xếp theo tần số giảm dần Có thể xác định danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (hay các loài cốt lõi), là các loài được nhiều NCCT nhắc đến, cộng với một số lượng lớn các loài được một số ít NCCT hay chỉ một người nhắc đến Các loài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chung của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực cây thuốc trong khu vực điều tra Các loài còn lại thể hiện cái nhìn, tri thức, kinh nghiệm riêng của các thành viên trong cộng đồng
2.4.3.2 Xác định cây thuốc
Sau khi xử lý dữ liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, chúng ta có trong tay một danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng là thuốc Tuy nhiên đây chỉ là danh mục bằng tên địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào Do đó, cần thiết phải xác
Số tên cây thuốc
Số người cung cấp tin
Số người cần hỏi
Trang 30định tên phổ thông và tên khoa học của các cây mang tên đó Để làm được việc này, cần thu thập mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây thuốc đã được nêu ra trong danh mục,
xử lý và định tên (tiến hành theo phương pháp điều tra theo tuyến) Việc xác định tên
khoa học của các mẫu cây thuốc dựa trên tên được liệt kê nói trên sẽ góp phần loại bỏ các tên đồng nghĩa trong phần liệt kê tự do lần nữa Như vậy số loài cây thuốc thực tế
có thể sẽ nhỏ hơn số tên thống kê được trong giai đoạn liệt kê tự do Cần chú ý là một tên địa phương có thể chỉ nhiều loài khác nhau, thường là các loài trong cùng một chi,
có đặc điểm hình thái giống nhau hay các loài có cùng công dụng
Số liệu điều tra của các mục trên được ghi vào các mẫu biểu có sẵn (Phụ lục 1 đến phụ lục 4)
2.4.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp tin quan trọng
Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực vật Dựa trên cơ sở kết quả của bước Liệt kê tự do, lựa chọn người cung cấp tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các loài cây thuốc trên thực địa
NCCT quan trọng là những người am hiểu về cây thuốc trong khu vực, thường là những người già, phụ nữ, tự nguyện cung cấp thống tin Mục tiêu điều tra
là xác định chính xác các loài cây đã được liệt kê tại bước liệt kê tự do Các bước thực hiện bao gồm:
+ Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra có thể được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố cây thuốc trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau Trong điều tra tại cộng đồng, lấy trung tâm công đồng làm tâm
và đi theo bốn hướng khác nhau Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân lực sẵn có
+ Thu thập thông tin tại thực địa: Cách đơn giản nhất là NCCT và điều tra viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi Cách thu thập thông tin khác, có hệ thống hơn, là NCCT và điều tra viên dừng lại tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây thuốc xuất hiện trong khu vực đó
Trang 31Thông tin cần phỏng vấn bao gồm: tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng, cách dùng Để tiết kiệm thời gian người ta thường in sẵn một sổ mẫu biểu có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kỳ cây nào được NCCT xác định là cây thuốc đều được thu thập
để xác định tên khoa học (Phụ lục 5)
+ Xử lý thông tin: Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất định tính, bao gồm: Danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, ), ước lượng tần số xuất hiện trong tuyến điều tra
2.4.3.4 Điều tra ô tiêu chuẩn
Trên tuyến điều tra, tại mỗi vị trí có sự thay đổi về thảm thực vật, tiến hành
m) để thu thập thông tin về cây thân thảo Trên ô tiêu chuẩn điều tra một số chỉ tiêu: Thành phần loài, là số loài xuất hiện trên đơn vị diện tích; xác định mật độ loài
là số cá thể trong mỗi loài trên đơn vị diện tích; tần số xuất hiện, là tỷ lệ phần trăm hay số lần xuất hiện của loài trong tất cả các ô tiêu chuẩn Các số liệu được ghi vào biểu mẫu điều tra (Phụ lục 5)
Hình 2.2 Hình dạng ô tiêu chuẩn
Trang 322.4.3.5 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài:
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác): sử dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang mức 3 điểm
- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
2.4.3.6 Phương pháp phỏng vấn và thảo luận nhóm
Sử dụng một số câu hỏi cho những người được chọn Trong khi phỏng vấn, yêu cầu người cung cấp thông tin đưa ra tên cây theo tiếng của dân tộc mình Quá trình phỏng vấn có thể diễn ra ở một chỗ (nhà, vườn hay trong rừng) hoặc cán bộ nghiên cứu cùng với người cung cấp tin vừa đi vừa phỏng vấn Cách thứ hai có ưu điểm là trong một lúc, người cung cấp tin chưa thể nhớ hết các cây được sử dụng, khi đi như vậy sẽ giúp họ gợi nhớ tốt hơn Trong phỏng vấn cần kết hợp cả các cách phỏng vấn sau:
Trang 33+ Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi về bất kỳ cây nào với những câu hỏi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội dung cần hỏi có thể thay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người cung cấp thông tin
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một số câu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể
+ Phỏng vấn có cấu trúc (phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụng một bộ câu hỏi nhất định đối với những người cung cấp thông tin có chọn lọc tham gia
+ Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đó chúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một quy trình xử lý hay chế biến nào đó
+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người khác
đã đưa ra trong các lần phỏng vấn trước
Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả bước đầu về tri thức và kinh nghiệm
qua phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm các thông tin bổ sung, đánh giá mức độ ưu tiên bảo tồn các loài cây thuốc, chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm Nhóm thảo luận bao gồm cả những người tham gia và không tham gia phỏng vấn trước đó Trong khi thảo luận, cán bộ nghiên cứu lần lượt đưa các thông tin đã thu thập được ra để mọi người tranh luận, nhiều kinh nghiệm đã được chỉnh
lý và bổ sung qua quá trình này
Trang 342.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học
Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của người
dân địa phương
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ hay dương xỉ) Các cây lớn thu từ 3- 5 mẫu trên cùng cây; các cây thảo nhỏ và dương xỉ thì thu 3 - 5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình định mẫu và trao đổi mẫu vật Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản: 41 x 29 cm
Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu được thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, cần thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ… ), các mẫu này không đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này
Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sử dụng, chúng tôi còn thu thập các mẫu thực vật dân tộc học- các mẫu thực vật chứa đựng giá trị tri thức dân tộc như: bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật
Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi
chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi, vị của hoa quả nếu có thể biết được… Bên cạnh đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh thái nơi sống, mật độ, người thu mẫu… cũng nên được ghi cùng
Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thức của người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cách thức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là: tên dân tộc của cây, ý nghĩa của tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cách khai thác, bảo quản và
sử dụng, cách thức dùng khi phối hợp với các cây khác, nguồn gốc thông tin…
Trang 35Ngoài ra, do mẫu thực vật dân tộc thường không có đầy đủ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên cán bộ điều tra đề nghị người cung cấp tin mô tả các bộ phận còn thiếu tuy nhiên những mô tả này chỉ để tham khảo và định hướng tiếp theo chứ không được coi là các mô tả thực vật vì cách nhìn nhận, mô tả của người dân không hoàn toàn trùng khít với cách mô tả thực vật của người nghiên cứu Các thông tin có thể được vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối ngày phải vào phiếu
Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp
khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô Mẫu có thể được xử lý độc và khâu hay không là tùy vào yêu cầu cụ thể
Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh
Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với các bản
mô tả, hình vẽ Các tài liệu thường xuyên được dùng là: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Cây cỏ Việt Nam…
Các mẫu vật phức tạp, không có nhiều đặc điểm nhận dạng sẽ được chuyển cho các chuyên gia phân loại sâu để giám định
Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, tiến hành lập danh lục thực
vật, Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh lục cuối cùng được xây dựng theo nguyên tắc: Tên các
họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự abc Trong bảng danh lục
có các cột là: Stt, Tên dân tộc, tên phổ thông, tên khoa học, họ thực vật, chế biến và
sử dụng, địa điểm thu mẫu
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp
Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, thống kê tất cả các loài cây thuốc lên danh lục thực vật và viết báo cáo Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để phân tích xử lý thống kê
Trang 36PHẦN 3 QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các loài cây thuốc phát hiện được ở cộng đồng dân tộc H`Mông tại khu vực nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra các bài thuốc tại 3 xã là Sin Suối hồ, Bản Lang, Sì Lờ Lầu đây là những xã có diện tích rừng tự nhiên còn nhiều và khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng khác nhau đại diện cho khu vực nghiên cứu Trong đó có các cây thuốc được đồng bào xác định theo tiếng địa phương và một số tên phổ thông, nhóm nghiên cứu đã cùng người dân đi rừng lấy mẫu, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái sau đó mang về làm tài liệu tra cứu xác định tên phổ thông cùng tên khoa học và họ thực vật của chúng Kết quả được tổng hợp thành bảng cây thuốc sau:
Bảng 3.1 Danh sách loài thực vật được cộng đồng người H`Mông
Tầm gửi (Loranthaceae)
(Urticaceae)
Trang 378 Mồng tơi
Mồng tơi (Basellaceae)
twg
Hydrocotyle rotundifolia
Rau má (Centella asiatica L)
Đu đủ (Caricaceae)
(Nyctaginaceae)
đông, lan tiên)
Xam yum soob
Ophiopogon japonicus
Wall
Mạch Môn Đông (Haemodoraceae)
Hoa tán (Apiaceae)
nam, thổ cam thảo)
Mob ntshav
Hoa mõm chó (Scrophulariaceae)
Cà (Solanaceae)
(Amaryllidaceae)
Trang 3823 Hoa hồng Paj tshua
Hoa Hồng (Rosaceae)
24
Náng (Lá náng, Náng hoa
trắng)
Tshuaj kem nplooj pob kws
Thài lài (Commelinaceae)
Hoa hồng (Rosaceae)
Melaleuca leucadendron L
Sim (Myrtaceae)
Ô rô (Acanthaceae)
(Commelinaceae)
Sibthorpioides
Ngũ gia bì (Araliaceae)
(Cyatheaceae)
Trọng lâu (Trilliaceae)
Trang 3938 Chanh Txiv qaub
Cam (Rutaceae)
Cà (Solanaceae)
Lúa (Poaceae)
Mao lương (Ranunculaceae)
(củ ngọc núi)
Nceb qau dev
Cynomorium songarium
Gió đất (Balanophoraceae)
Merr
Dây khế (Cannabaceae)
Trang 40Giấp cá (Saururaceae)
Dây máu người)