- Xác định được tình hình nhiễm bệnh và biện pháp phòng, điều trị bệnh cho đàn lợn bệnh được nuôi tại trang trại.. Sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể con lợn Trong quá trình sin
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Cảm ơn mái trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã gắn bó với em trong những năm tháng tươi đẹp và đầy nhiệt huyết này Cám ơn bố mẹ đã đồng hành cùng con trong những năm tháng sinh viên tươi đẹp này
Để hoàn thành khóa luận này trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành nhất
Đặc biệt, em xin gửi đến thầy TS Trần Văn Thăng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này lời cảm ơn sâu sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn trang trại Nguyễn Văn Tưởng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được học hỏi, tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại trang trại
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến các anh quản lí, kĩ thuật của trang trại, cùng các bạn sinh viên, công nhân đã cùng đồng hành, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Em xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các anh trong trang trại Nguyễn Văn Tưởng dồi dào sức khỏe, thành công trong công việc được giao
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 4 năm 2021
Sinh viên
Bùi Văn Hưng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Loại thức ăn, khẩu phần ăn và thành phàn dinh dưỡng trong các loại
thức ăn được sử dụng tại trang trại 28
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vắc xin được áp cho lợn tại trại 30
Bảng 3.3 Bảng nhiệt độ thích hợp cho lợn qua các tuần tuổi 30
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn thịt của trang trại trong 3 năm qua (2018 - 2020) 33
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh tại trang trại 34
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác tiêm phòng vắc xin tại trại 35
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý đàn lợn thịt 36
Bảng 4.5 Tỷ lệ nuôi sống đàn lợn trong thời gian thực tập tại trang trại 37
Bảng 4.6 Kết quả của công tác chẩn đoán cho đàn lợn thịt nuôi tại trại 38
Bảng 4.7 Kết quả công tác điều trị bệnh cho đàn lợn 39
Bảng 4.8 Kết quả việc xuất lợn tại trại 41
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện nhập lợn tại trại 43
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trang trại 44
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự CSF: Classical Swine Fever
MH: Mycoplasma hyopneumoniae
Nxb: Nhà xuất bản PED: Porcin Epidemic Diarrhoea STT: Số thứ tự
TGE: Transmisssible gastro enteritis Tr.: Trang
TT: Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện của cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Khí hậu và thời tiết 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trang trại 6
2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 6
2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn thịt 6
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn thịt 10
2.2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27
3.1 Đối tượng 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung thực hiện 27
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 27
Trang 73.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 31
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đánh giá tình hình sản xuất chăn nuôi của trại lợn Nguyễn Văn Tưởng qua 3 năm 2018 - 2020 32
4.2 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 34
4.2.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 34
4.2.2 Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn 35
4.3 Kết quả thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý đàn lợn thịt 36
4.4 Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán bệnh cho đàn lợn tại trang trại 38
4.4.1 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn thịt nuôi tại trại 38
4.4.2 Kết quả công tác điều trị bệnh cho đàn lợn thịt tại trại 39
4.5 Xuất lợn và vệ sinh chuồng trại sau khi xuất bán 40
4.5.1 Xuất lợn 40
4.5.2 Vệ sinh chuồng trại sau khi xuất lợn 41
4.6 Nhập lợn và vệ sinh chuồng trại trước khi nhập lợn 42
4.7 Một số công việc khác tại trang trại 43
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 8là tăng trọng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng
kể cho nền kinh tế quốc dân
Tuy có rất nhiều thuận lợi nhưng ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong tình hình đất nước ta gia nhập hiệp định TPP thì càng yêu cầu ngành chăn nuôi trong nước phải có những bước phát triển mạnh Ngoài việc cung cấp nhu cầu thực phẩm hằng ngày, người nông dân chúng ta phải cạnh tranh với các nước trên thế giới, nhất là khi ngành chăn nuôi của chúng ta còn lạc hậu chưa phát triển
Đứng trước yêu cầu đó, ngành chăn nuôi nói chung cũng như ngành chăn nuôi lợn nói riêng phải có một bước phát triển mới để sánh kịp với các nước khác trên thế giới Đặc biệt hiện nay tình hình chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn nhất là về thực hiện nghiêm ngặt quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng cũng như các biện pháp phòng chống bệnh cho đàn lợn thịt Trước
thực tế đó, em thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn thịt nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn lợn thịt được nuôi
tại trang trại Nguyễn Văn Tưởng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
- Thực hiện quy trình phòng trị bệnh cho lợn thịt nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
- Đánh giá tình hình mắc bệnh ở lợn thịt nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
- Đề xuất các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn thịt nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Văn Tưởng, huyện
Kinh Thành, tỉnh Hải Dương
- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt được nuôi tại trang trại
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh và biện pháp phòng, điều trị bệnh cho đàn lợn bệnh được nuôi tại trang trại
- Chăm chỉ học tập, tiếp thu kiến thức để nâng cao tay nghề của bản thân
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện của cơ sở thực tập
Trang trại có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp với thị xã Kinh Môn
+ Phía Đông và phía Nam giáp với thành phố Hải Phòng
+ Phía Tây giáp với huyện Thanh Hà và huyện Nam Sách
Trong những năm gần đây, hệ thống giao thông trong địa bàn xã Kim Tân đã được đầu tư xây dựng, bê tông hóa đạt 98% nên rất thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán và vận chuyển các sản phẩm chăn nuôi của trại
2.1.2 Khí hậu và thời tiết
Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt, có mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh, khô han và mưa ít
Do đó, trại lợn Nguyễn Văn Tưởng cũng chịu ảnh hưởng của kiểu khí hậu này Nhiệt độ trung bình của mùa đông luôn dưới 18°C, mùa hè có nhiệt độ trung bình trên 27°C Lượng mưa theo quy ước chung, lượng mưa ổn định trên 110 mm bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, còn lượng mưa ổn định dưới
100 mm bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Hải Dương bắt đầu từ tháng 11 kết thúc vào tháng 4 năm sau, mùa hè nắng nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc
Trang 11vào tháng 10 Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 12) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hè (tháng 6) là 13°C Với điều kiện khí hậu như vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển ngành chăn nuôi
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 6 người, trong đó có:
- 1 quản lý trại
- 1 kỹ sư chính của Công ty
- 3 sinh viên thực tập
- 1 công nhân lao động phổ thông
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
Trang trại được xây dưng khá lâu, nhưng luôn cập nhập hệ thống, thiết
bị hiện đại nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng khá đầy đủ và hiện đại
+ Hệ thống chuồng được xây dựng hoàn toàn khép kín Hai bên tường
có dãy cửa sổ được lắp kính; mỗi của sổ có chu vi 1,2 mét vuông; cách nền 1,3 mét; mỗi của sổ cách nhau 2,4 mét
+ Trong chuồng có 2 dãy chuồng và mỗi dãy chuồng được chia thành 7
ô chuồng, được ngăn cách bằng tường và thép cao 1 mét
+ Có hệ thống quạt gió gồm 6 quạt, hệ thống giàn mát, bóng đèn chiếu sáng, các máng ăn và vòi uống tự động
Trang 12+ Trong khu chăn nuôi, hành lang giữa các dãy chuồng và các khu khác được đổ bê tông và có chậu sát trùng trước cửa các chuồng
+ Có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho sinh hoạt
và hệ thống các chuồng nuôi mỗi khi mất điện
Ngoài lĩnh vực sản xuất chính là chăn nuôi lợn, trang trại còn sử dụng diện tích ao hồ trong trang trại để chăn nuôi thủy sản và thủy cầm nhằm góp phần tăng thu nhập cho trang trại
Trang trại được liên kết với Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, nuôi gia công lợn thịt với số lượng đầu con mỗi lứa là 2.400 lợn thương phẩm
* Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực bằng phẳng, có các mương thoát nước và xây cách ly xa khu vực sinh hoạt của công nhân Trại gồm có 4 chuồng nuôi mỗi chuồng nuôi có 14 ô nuôi được chia thành 2 dãy và đánh số từ 1 đến 14, trong đó 12 ô có diện tích 65 m2/ô, 2
ô còn lại có diện tích 30 m2/ô (2 ô này để tách lọc những lợn còi, ốm và lợn bệnh để theo dõi và điều trị) Hệ thống chuồng nuôi có đầy đủ trang thiết bị như bóng đèn sưởi ấm, thắp sáng, quạt thông gió đảm bảo và có giàn mát tạo nhiệt độ ấm áp về mùa đông và mát mẻ về mùa hè Thuốc và dụng cụ để
Trang 13chăm sóc điều trị bệnh cho lợn được trại cung cấp, trang bị đầy đủ cho từng chuồng riêng biệt
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trang trại
+ Nguồn nước xử lí chưa đảm bảo
+ Công tác vệ sinh phòng dịch còn yếu kém
2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn thịt
2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng
Sự sinh trưởng (hay sự phát triển) được nhiều tác giả nghiên cứu và cho
ra các khái niệm khác nhau
Khi nghiên cứu về sự sinh trưởng, Johansson L (1972) [20], đã có khái niệm như sau: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng Tuy nhiên, việc tăng khối lượng cũng không phải là
Trang 14sự tăng trưởng Sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng
và các chiều hướng khác của tế bào mô cơ Tác giả còn cho biết cường độ phát triển qua các giai đoạn bào thai và giai đoạn sau sinh có ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu phát triển của lợn
2.2.1.2 Sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể con lợn
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, các tổ chức khác nhau được ưu tiên tích lũy khác nhau Các hệ thống chức năng như hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, tuyến nội tiết được ưu tiên phát triển đầu tiên, sau đó là hệ xương, hệ thống cơ bắp và cuối cùng là mô mỡ
Cơ bắp là phần quan trọng tạo nên sản phẩm thịt lợn Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể, từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành, số lượng các bó cơ và sợi cơ phát triển ổn định Tuy nhiên, giai đoạn lợn còn nhỏ cho đến khi khối lượng khoảng 60 kg trong cơ thể có sự ưu tiên cho phát triển các tổ chức nạc
Đối với mô mỡ, sự tăng lên về số lượng và kích thước của tế bào mỡ là nguyên nhân chính gây nên sự tăng về khối lượng của mô mỡ Ở giai đoạn cuối của quá trình phát triển có quá trình ưu tiên phát triển và tích lũy mỡ
2.2.1.3 Quy luật ưu tiên các chất dinh dưỡng trong cơ thể
Trong cơ thể lợn, có sự ưu tiên dinh dưỡng khác nhau và theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển cho từng hoạt động chức năng của các bộ phận trong cơ thể con lợn
Trước hết, dinh dưỡng được ưu tiên cho hoạt động thần kinh, tiếp đến cho hoạt động sinh sản, sự phát triển bộ xương, sự tích lũy nạc và cuối cùng
là sự tích lũy mỡ Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, khi dinh dưỡng cung cấp bị giảm xuống 20% so với tiêu chuẩn ăn của lợn thì quá trình tích lũy mỡ
bị ngưng trệ, khi dinh dưỡng giảm xuống 40% thì sự tích lũy nạc của con lợn
Trang 15bị dừng lại Vì vậy, khi nuôi lợn mà không đủ dinh dưỡng thì sẽ không tăng khối lượng và chất lượng thịt như mong muốn
2.2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của thịt lợn
Trong chăn nuôi lợn, muốn sản phẩm đạt chất lượng thì khâu chăm sóc
và dinh dưỡng thức ăn vô cùng quan trọng, quyết định sự thành bại trong chăn nuôi Trong chăn nuôi lợn thì cần đạt những yêu cầu như: tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn ít, thời gian, công chăm sóc ít và phẩm chất thịt tốt
+ Dinh dưỡng thức ăn: dinh dưỡng là nhân tố quan trọng của yếu tố ngoại cảnh, quyết định đến khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [11] cho rằng: các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức
ăn hoàn chỉnh Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng khi cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các thành phần trong
cơ thể Khẩu phần ăn có mức năng lượng cao và protein thấp thì lợn sẽ tích lũy mỡ nhiều hơn so với khẩu phần ăn có mức năng lượng thấp và protein cao, vì khẩu phần ăn có mức protein cao thì lợn có tỷ lệ nạc cao hơn
Vì vậy, để chăn nuôi có hiệu quả cần phối hợp khẩu phần ăn hợp lý sao cho vừa đủ cung cấp nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lợn cũng như tận dụng được nguồn thức ăn có sẵn tại địa phương
+ Môi trường: Môi trường xung quanh bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của thịt lợn Nhiệt độ thích hợp cho nuôi lợn là từ 20 - 24°C Nhiệt độ chuồng nuôi liên quan mật thiết đến độ ẩm không khí, độ ẩm không khí thích hợp cho lợn khoảng 60 - 70%, ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao thì lợn phải tăng cường quá trình tỏa nhiệt thông qua quá trình hô hấp (vì lợn có rất ít tuyến mồ hôi)
để duy trì cân bằng thân nhiệt
Trang 16+ Mật độ nuôi lợn trong chuồng cũng ảnh hưởng đến năng suất Khi nuôi nhốt lợn ở mật độ cao hay số con/ô chuồng tăng lên thì sẽ ảnh hưởng đến sự tăng khối lượng hàng ngày của lợn và phần nào ảnh hưởng đến sự chuyển hóa thức ăn của lợn Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, khi nuôi lợn với mật độ thấp sẽ làm tăng tốc độ tăng khối lượng cũng như giảm tiêu tốn lượng thức ăn
Phương thức nuôi dưỡng như cho ăn tự do làm tăng tốc độ tăng trưởng của lợn nhiều hơn so với cho ăn hạn chế, những giống lợn hướng mỡ nên cho
ăn hạn chế từ ban đầu, còn so với giống hướng nạc thì nên cho ăn tự do sẽ có được năng suất cao và chất lượng tốt
+ Giống: Các giống lợn khác nhau thì sẽ cho năng suất và chất lượng thịt khác nhau Các giống lợn nội có khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt
sẽ thấp hơn so với các giống lợn nhập ngoại Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cao hay thấp thì do ngoại cảnh và thức ăn thì yếu tố di truyền cũng rất quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất Theo Trịnh Hồng Sơn (2014) [12], các chỉ tiêu thân thịt cũng như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn là khác nhau ở các giống lợn khác nhau Tăng khối lượng trung bình của lợn Móng Cái là khoảng 300 - 350 gram/ngày, trong khi con lai F1 (nội x ngoại) đạt 550 - 600 gram/ngày
+ Thời gian và chế độ nuôi: Là hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất thịt Sự thay đổi thành phần hóa học của mô
cơ, mô mỡ lợn chủ yếu xảy ra trong giai đoạn trước 4 tháng tuổi Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn người ta đưa ra 2 phương thức nuôi: Nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn so với phương thức nuôi lấy thịt - mỡ, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn
+ Khí hậu và thời tiết: Lợn điều chỉnh thân nhiệt của chúng bằng cách cân bằng lượng nhiệt mất đi và nhiệt tạo ra qua trao đổi chất và lượng nhiệt
Trang 17hấp thụ được Khi sự khác nhau giữa thân nhiệt và môi trường bên ngoài càng lớn thì tỷ lệ thoát nhiệt sẽ tăng lên Về mùa lạnh, nhiệt độ môi trường hạ thấp xuống dưới nhiệt độ hữu hiện thì tăng thêm chi phí thức ăn để tăng nhiệt lượng trao đổi chất để vật nuôi nó tự tạo ra nhiệt lượng để giữ ấm cơ thể nó Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ và độ ẩm thích hợp thì lợn ăn tốt, tỷ lệ tiêu hóa cao, sinh trưởng và phát triển nhanh chóng, năng suất cao Nhiệt độ chuồng nuôi quá cao thì lợn sẽ ăn giảm đi, tỷ lệ tiêu hóa kém đi, giảm tăng khối lượng Nhiệt độ quá thấp thì lợn tiêu hao nhiều năng lượng để chống rét, mất nhiệt, tiêu tốn thức ăn nhiều
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn thịt
2.2.2.1 Bệnh viêm phổi (Bệnh suyễn lợn)
- Nguyên nhân:
Lê Văn Lãnh và cs (2012) [5], bệnh suyễn lợn hay “Dịch viêm phổi địa
phương ở lợn” (Enzootic pneumonia) là bệnh truyền nhiễm mãn tính ở lợn
Tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh gây ra thiệt hại lớn trong ngành chăn nuôi lợn làm giảm tốc độ tăng trọng và gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh kế phát, đặc
biệt là những bệnh về đường hô hấp Mycoplasma hyopneumoniae (MH) là
mầm bệnh chính gây dịch viêm phổi địa phương ở lợn và được quan tâm đến như là một nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh hô hấp phức hợp ở lợn
(PRDC: Porcine respiratory disease complex) (Thacker, 2006 [24]) Những
nghiên cứu về vai trò của các vi khuẩn kế phát trong bệnh suyễn lợn đã được tiến hành bởi Nguyễn Ngọc Nhiên (1996) [10]; Trần Huy Toản (2009) [17] cho thấy: nếu kết hợp với các vi trùng gây viêm phổi khác sẽ tạo nên tình
trạng viêm phổi nặng với triệu chứng sốt cao, ho nhiều, khó thở Mycoplasma
được coi là nguồn gốc gây viêm đường hô hấp trên lợn ở nước ta và các nước trên thế giới
Trang 18- Triệu chứng:
Theo Lê Văn Năm (2013) [7], thời kỳ nung bệnh dài từ 1 - 4 tuần,
nhưng cũng có thể sau 1 - 3 ngày nếu chưa có mặt của Haemophillus
Bệnh thường phát triển rất chậm trên nền của viêm phế quản, phổi và thông thường có 2 thể biểu hiện: Á cấp tính và mãn tính
- Thể á cấp tính
+ Lợn bệnh sốt nhẹ 40,4 - 41oC; bắt đầu từ triệu chứng hắt hơi chảy nước mũi, sau đó chuyển thành dịch nhầy
+ Lợn thở khó, ho nhiều, sốt ngắt quãng, ăn kém
+ Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi, nước mắt chảy ra nhiều
Vì phổi bị tổn thương nên lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó thở Rõ nhất là sau khi bị xua đuổi, có những con mệt quá nằm lỳ ra mà không có phản xạ sợ sệt, vẻ mặt rầu rĩ, mí mắt sụp, tai không ve vẩy Xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp
+ Nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao
+ Khi sờ nắn hoặc gõ để khám bệnh, lợn cảm thấy đau ở vùng phổi, rõ nhất là 1 - 2 đôi xương sườn đầu giáp bả vai Lợn vẫn thèm ăn nhưng ăn uống thất thường
+ Nếu không điều trị, lợn bệnh sẽ chết sau 7 - 20 ngày Tỷ lệ chết phụ thuộc rất nhiều vào lứa lợn nuôi, sức đề kháng cơ thể và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như bệnh thứ phát
Trang 19- Thể mãn tính
+ Đây là thể bệnh thường gặp nhất ở những đàn lợn mang trùng
+ Lợn bệnh ho húng hắng liên tục và bệnh kéo dài gây cảm giác rất khó thở, thở mạnh, khó chịu
+ Đàn lợn ăn uống bình thường, nhưng lợn chậm phát triển, còi cọc + Da lợn kém bóng, lông cứng và xù, dựng đứng, nhiều trường hợp thấy da bị nhăn và xuất hiện nhiều vảy nâu
+ Nếu bị bội nhiễm thì lợn bệnh ho thường xổ mũi như mủ
Cả hai thể cấp và thể mãn tính đều có tiên lượng xấu do lợn còi cọc, chậm lớn hao hụt số đầu con, chi phí thức ăn và thuốc men tăng
Nếu lợn bệnh qua được thì khả năng hồi phục cũng rất kém, do phổi bị
tổn thương nặng, lợn trở nên còi cọc và chậm lớn
- Phòng bệnh
Hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh viêm phổi do Mycoplasma phụ
thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý đàn lợn Cần phải tạo được môi trường thuận lợi cho đàn lợn như không khí sạch sẽ, thông gió thường xuyên, nhiệt độ ấm áp và mật độ trong chuồng phù hợp Trong dãy chuồng không nên nuôi lẫn lộn các đàn lợn có lứa tuổi cách nhau quá 3 tuần
Ở các trại lợn cung cấp giống, để xây dựng đàn lợn không nhiễm
Mycoplasma cần sử dụng kháng sinh cho lợn nái từ giai đoạn cuối của quá
trình mang thai cho đến khi cai sữa
Ngoài ra, còn phòng bệnh bằng vắc xin để phòng Mycoplasma hoặc
cho uống thuốc định kì sẽ giúp đàn lợn giảm thiểu được sự xâm nhập và tác
động gây bệnh của vi khuẩn
- Điều trị
Những kháng sinh có hiệu lực điều trị với Mycoplasma là tetracycline,
tylosin, tiamulin, gentamycin, ngoài ra còn kết hợp các loại thuốc kháng
Trang 20viêm và một số thuốc bổ trợ để rút ngắn quá trình điều trị cho hiệu quả cao Nếu phát hiện và điều trị sớm thì đạt được hiệu quả chữa bệnh cao
Hiện nay đã có vắc xin để phòng bệnh suyễn, nhưng hiệu quả chưa cao lắm, không sinh ra miễn dịch hoàn toàn cho đàn lợn được tiêm phòng do một
số nguyên nhân từ cá thể hoặc ngoại cảnh làm vắc xin giảm hay không có
hiệu lực
2.2.2.2 Hội chứng tiêu chảy ở lợn
- Nguyên nhân
Theo Nguyễn Đức Thủy (2015) [13], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh
lý ở đường tiêu hóa và nó có nhiều nguyên nhân có thể phân loại gồm nguyên nhân nguyên phát và nguyên nhân thứ phát Nhưng việc phân biệt hai nguyên nhân này là rất khó khăn Tuy nhiên, cho dù là nguyên nhân nào cũng gây hậu quả lớn đến cơ thể và đường tiêu hóa của lợn Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, tiêu chảy ở lợn là do một số nguyên nhân sau đây:
+ Vi sinh vật
Trong đường ruột của lợn có rất nhiều vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái Nguyễn Đức Thủy (2015) [13] cho biết vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn và các loại nấm mốc Hoạt động của hệ sinh thái trong đường ruột luôn được duy trì ở mức cân bằng và ổn định, một khi do một số yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của lợn thì vi sinh vật có hại trong đường ruột có cơ hội phát triển mạnh hơn vi sinh vật có lợi, gây mất cân bằng và dẫn đến lợn bị tiêu chảy
Theo Bùi Tiến Văn (2015) [15], một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn
đường ruột là E.coli, Samonella sp., Shigela, Klebsiella, C perfringens,
Đây cũng là những vi khuẩn quan trọng gây rối loạn tiêu hóa ở người
và nhiều loài động vật khác
Trang 21Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng, khi gặp điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hoá sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành thành phần có hại và gây bệnh
Bình thường E.coli cư trú ở ruột già và phần cuối của ruột non, nhưng
khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các tổ chức khác của cơ thể Ở trong các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát triển và cư trú làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý
+ Virus
Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng, virus cũng là nguyên nhân gây tiêu
chảy ở lợn Nhiều tác giả nghiên cứu đã kết luận một số virus như Rotavirus,
TGE, Parvovirus, Adenovirus, PED, CSF có vai trò nhất định gây hội chứng tiêu
chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá,
suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính
+ Ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong hệ tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ký sinh trùng ngoài việc lấy đi dinh dưỡng của lợn, tiết độc tố đầu độc cho lợn, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho quá trình nhiễm trùng Có nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra bệnh tiêu chảy như sán lá ruột lợn, giun đũa lợn Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngà (2015) [8], ngoài tác động cơ giới lên thành ruột thì giun sán còn tiết độc tố có thể gây rối loạn tiêu hóa, làm lợn còi cọc chậm lớn và mở đường cho nhiều loại virus, vi khuẩn xâm nhập
+ Các nguyên nhân khác
Thời tiết, khí hậu:
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể lợn Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột: Nóng quá, lạnh quá,
Trang 22mưa, gió, độ ẩm không khí cao đều là yếu tố tác động trực tiếp đến lợn, đặc biệt là lợn con
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [1] các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, Thay đổi bất thường của điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, vì thế các phản ứng thích nghi của cơ thể lợn con còn yếu, chưa phản ứng kịp
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [6], khi lợn bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó lợn dễ bị vi khuẩn
có cường độc cao gây bệnh
Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng:
Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng là yếu tố vô cùng quan trọng, việc chăm sóc nuôi dưỡng nếu không đảm bảo quy trình kỹ thuật thì sẽ ảnh hưởng đến sức đề kháng của lợn, một khi sức đề kháng giảm thì các vi khuẩn có hại có điều kiện để phát triển mạnh lên, đặc biệt là vi khuẩn đường ruột Việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ giúp nâng cao sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và các vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn dễ mắc bệnh
Thức ăn kém chất lượng, hỏng, ôi thiu, Cũng là nguyên nhân làm cho lợn con bị tiêu chảy Vậy cần có phương thức chăm sóc nuôi dưỡng tốt, thức
ăn đảm bảo và khẩu phần ăn hợp lý để hạn chế bệnh viêm ruột cho lợn
Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protein và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển gây bệnh
Trang 23Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể lợn, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin
sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa
Stress: Stress là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của lợn Tất cả
mọi nguyên nhân dẫn đến stress cho lợn cụ thể như sự thay đổi thời tiết, tiếng
ồn, mật độ chuồng nuôi, tranh giành thức ăn cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy
+ Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, thường sau 2 - 12 giờ kể từ khi bỏ
ăn, lợn bỏ ăn hoàn toàn, đi siêu vẹo, loạng choạng, thích nằm bẹp một chỗ, mõm tím tái, thở thể bụng khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, mùi tanh thối Lợn nằm co giật yếu dần rồi chết
+ Thể cấp tính: Lợn chết chậm hơn 2 - 4 ngày kể từ khi bỏ ăn, lợn ỉa chảy, mất dinh dưỡng, nước, khoáng, yếu rồi chết dần
+ Thể mạn tính: Lợn ỉa chảy liên miên, phân lúc nước lúc sền sệt, mùi khó chịu, hậu môn dính phân, bẩn, lợn gầy sụt, xù lông, nếu không chết thì
Trang 24+ Thể mạn tính: Đặc trưng là tăng sinh tế bào Trong khi tế bào tăng sinh
có các đại thực bào với các hạt nhân màu trắng sáng Đó là sản phẩm biểu bì võng mô, chúng có khả năng thực bào Ở đó, có hiện tượng hoại tử và nhiều vi
khuẩn Salmonella Hiện tượng này tạo nên u xơ gan, lách sưng to và đỏ xám
hoặc đỏ sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong Niêm mạc ruột bị tổn thương,
có vết loét Thận không có biến đổi đặc trưng, phổi viêm đôi khi có ổ mủ Tim
sưng, hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nước vàng, cơ tim xuất huyết
- Các biện pháp phòng bệnh
+ Vệ sinh phòng bệnh
Trong chăn nuôi khâu vệ sinh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh
Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh môi trường xung quanh chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy
+ Phòng bệnh bằng vắc xin
Theo Nguyễn Bá Hiên (2001) [4] vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng
sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm
Trang 25bệnh tương ứng Vắc xin phòng tiêu chảy lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo ra miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khách quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh
+ Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một loại vi sinh vật có lợi nào đó khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì và lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa…
Các chế phẩm sinh học, trong đó, có chế phẩm Probiotic đã được nghiên cứu và sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Những nghiên cứu hệ vi sinh vật đường ruột, sử dụng Probiotic trong phòng trị bệnh cho lợn, phục vụ phát triển chăn nuôi ở nước ta mới phát triển từ những năm 80 của thế kỷ trước
Ngoài ra, nhiều nhà chăn nuôi đã sử dụng biện pháp đưa kháng sinh vào thức ăn, nước uống hàng ngày của lợn để phòng tiêu chảy và đã cho các kết quả rất khả quan Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh đã để lại nhiều hậu quả không tốt như gây tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, làm tăng số lượng
vi khuẩn kháng thuốc… Nên hiện nay đa số các nước đã cấm sử dụng biện pháp này hoặc chỉ áp dụng trong điều kiện nhất định và phải tuân thủ quy
định về thời gian ngừng thuốc trước khi giết mổ
- Điều trị bệnh
+ Điều trị nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân chủ yếu trong hội chứng tiêu chảy của lợn là do một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột, bao gồm vi khuẩn hiếu khí, yếm khí tuỳ tiện hoặc
yếm khí bắt buộc Những vi khuẩn thường gặp là E coli, Cl perfringens,
Streptococcus Dùng thuốc kháng sinh có tác dụng cao với các vi khuẩn như
E coli gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Trang 26+ Điều trị triệu chứng tiêu chảy
Lợn bị tiêu chảy do E.coli khi điều trị, ngoài việc dùng kháng sinh sớm
từ đầu nên dùng kết hợp một số thuốc hay hóa dược có tác dụng ức chế sự sản sinh và ảnh hưởng của độc tố đường ruột Enterotoxin do vi khuẩn phóng thích
ra Kết hợp sử dụng dung dịch các chất điện giải như dung dịch đường glucose, muối natri, kali Cung cấp, bổ sung lượng nước và các chất điện giải bị mất trong khi tiêu chảy Trong điều trị cần thực hiện tốt chế độ ăn uống, chống nhiễm khuẩn và điều trị hiện tượng mất nước, chất điện giải Trong đó, bổ sung nước và chất điện giải có vai trò quan trọng vì có tới 80%
lợn chết do bệnh lý này theo Nguyễn Văn Tâm và Cù Hữu Phú (2006) [16]
2.2.2.3 Bệnh viêm khớp
- Nguyên nhân
Viêm khớp là bệnh hay xảy ra phổ biến trên đàn lợn, đó là một trong những yếu tố gây què ở lợn, liên quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất dinh dưỡng, những tổn thương do chấn thương, hình thành không đúng, thoái hóa xương và các thay đổi khớp Bệnh viêm khớp do nhiễm trùng
khớp và các mô bao quanh bởi vi khuẩn (Streptococcus suis, E coli,
Staphylococcus, ) và Mycoplasma
- Triệu chứng
Chia làm 2 dạng viêm khớp ở lợn: Viêm khớp do thiếu canxi, photpho
và viêm khớp do vi khuẩn gây ra
Khi thiếu canxi, photpho: lợn đi lại khó khăn Còn viêm khớp do vi khuẩn thì lợn sốt cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy yếu Lợn còn có biểu hiện triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què, có những u sưng ở khớp, lợn có thể bị mù, điếc
Trang 27Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn, gây thiệt hại cho người chăn nuôi
Từ những tác hại do vi khuẩn gây ra trong bệnh viêm khớp trên đàn lợn nuôi, em đã điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về bệnh viêm khớp do vi
khuẩn S suis gây ra
Streptococcus suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi
Bệnh này thường gây ra cho lợn con 1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như
một phần của hội chứng yếu khớp kết hợp với viêm rốn S suis có thể khu trú
ở amidan của lợn khỏe, khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi như: Lợn trong tình trạng stress, nhiệt độ môi trường thay đổi thất thường làm giảm sức
đề kháng lợn… lúc này dễ dàng phát bệnh Mầm bệnh được tiết ra từ dịch âm
hộ, dịch đường hô hấp và sữa lợn mẹ Các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể lợn con qua rốn và vết thương ngoài da
Bệnh xảy ra lẻ tẻ, tỷ lệ mắc bệnh từ 10 - 20% Bệnh thường xảy ra ở lợn
từ 1 - 6 tuần tuổi Với 3 thể: Thể quá cấp tính; thể cấp tính và thể mãn tính
+ Thể quá cấp tính: Gây chết lợn nhanh, lợn sốt rất cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy yếu Lợn có triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què Lợn có thể bị mù, điếc, viêm màng não gây tụ máu não, màng não, dịch não tủy nhiều và có màu đục
+ Thể cấp tính: Sốt, lông da sởn lên, suy nhược và què Khi bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to Một hoặc vài khớp
có thể bị tổn thương, các khớp chân trước và chân sau, mắt cá chân thường sưng phồng lên Bệnh làm cho lợn đau đớn không thể di chuyển được, hạn chế khả năng đi lại của lợn
+ Thể mạn tính: Lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mạn tính suốt đời Các khớp bệnh chứa nhiều dịch khớp đục với các cục sợi tơ huyết (fibrin)
Trang 28Các màng sưng phồng, mất màu, tấy đỏ Các mô liên kết bọc xung quanh mô dày lên và có thể chứa các ổ mủ nhỏ (áp xe) Khi bệnh trở thành mãn tính có thể làm tổn thương sụn khớp Các bệnh tích điển hình cũng có thể thấy được
trong sự phát triển của các khúc xương
vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng khu vực chăn nuôi, bằng các loại hoá chất (phenol, iốt, hypocrit, axit phenic 3 - 5%, formol 5%); tăng cường công tác chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý đàn
Khi có dịch liên cầu khuẩn xảy ra thì phải xử lý đúng như xử lý một ổ dịch truyền nhiễm: Cách ly lợn ốm để điều trị, lợn ốm chết phải chôn, đổ thuốc sát trùng hoặc tiêu huỷ, chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun thuốc sát trùng, để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại Đối với vùng có lợn bệnh cần theo dõi, phát hiện sớm lợn bệnh, cách ly và điều trị kịp thời cho đến khi khỏi hẳn bệnh mới cho nhập đàn Cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn tập trung khi có dịch bệnh ở lợn xảy ra
+ Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Ở Việt Nam đã chế tạo được vắc xin Salsco đa giá, vô hoạt, bổ trợ keo phèn, bao
gồm các chủng vi khuẩn đường ruột là: Salmonella, E coli và Streptococcus,
tiêm cho lợn con 21 ngày tuổi để phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ bảo
hộ đạt 70 - 80%, vắc xin dùng rộng rãi trong cơ sở chăn nuôi Khương Bích Ngọc (1996) [9], qua nghiên cứu bệnh cầu khuẩn ở lợn đã chế tạo vắc xin cầu
Trang 29khuẩn có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt bảo hộ cao Phòng bệnh bằng kháng sinh cũng đem lại hiệu quả cao
- Điều trị
Việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị bệnh do S suis và các vi
khuẩn khác tương tự gây ra phải dựa trên một số tiêu chí như khả năng mẫn
cảm với kháng sinh của các chủng S suis và các vi khuẩn đó phân lập được,
dạng nhiễm trùng, serotype của vi khuẩn, đường đưa thuốc
Khả năng mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh là khác nhau Trước hết là điều trị hỗ trợ với các biện pháp hồi sức tích cực, nhiễm liên cầu lợn là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh vẫn là thuốc điều trị đặc hiệu, trong
đó Penicillin là thuốc được lựa chọn để điều trị bệnh này, có thể khỏi bệnh hoàn toàn và tránh được tử vong Tuy nhiên, tình trạng kháng penicillin của vi khuẩn cũng đã được ghi nhận Trong trường hợp vi khuẩn đã kháng được Penicillin, các loại kháng sinh khác thuộc nhóm Beta Lactamin được điều trị thay thế cho lợn bệnh
2.2.2.4 Bệnh dịch tả lợn châu Phi (African swine fever)
- Nguyên nhân
Dịch tả lợn châu Phi là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do virus gây ra
Do virus African swine fever virus gây ra, là virus có sức đề kháng cao
trong môi trường
Là bệnh đã xuất hiện từ lâu: vụ dịch đầu tiên xuất hiện năm 1907 tại Kenya, nhưng mãi đến năm 19/02/2019 mới xuất hiện ổ dịch đầu tiên tại Việt Nam tại Hưng Yên và Thái Bình
- Triệu chứng
Từ những tác hại to lớn của dịch bệnh tả lợn châu Phi những ngày giữa
và cuối tháng 11 tại trại, em đã tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về căn bệnh này