Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của giảng vi
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sơ nơi thực tập
Được sự đồng ý của Nhà trường - Khoa Chăn nuôi Thú y, tôi được giới thiệu về trại lợn nái của ông Nguyễn Quang Tiếp Địa điểm thực tập: trang trại Nguyễn Quang Tiếp, xóm 5, thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Quy mô trại: 1200 lợn nái
Trang trại Nguyễn Quang Tiếp thuộc xóm 5, thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ thành phố Thái Nguyên Vị trí địa lý thị trấn được xác định như sau:
- Phía đông giáp xã Khe Mo
- Phía tây giáp xã Hóa Trung
- Phía nam giáp xã Khe Mo
- Phía bắc giáp xã Quang Sơn
Phân vùng của nhà khí tượng thủy văn thành phố cho thấy khu vực trồng trọt nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm vào mùa hè và lạnh vào mùa đông, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và lượng mưa lớn Hướng vòng cung của các dãy núi hình thành hành lang đón gió mạnh, trực tiếp nhận khối không khí lạnh từ phương Bắc nên mùa đông đến sớm và kết thúc muộn, nền nhiệt hạ thấp Khí hậu khu vực này phù hợp cho phát triển các thực vật nhiệt đới như chè, thuốc lá và hồi Tuy nhiên, thời tiết hay biến động trong năm gây ra những khó khăn đáng kể, đặc biệt trong các thời kỳ chuyển tiếp giữa các mùa.
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1500–2500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Khoảng 87% lượng mưa tập trung trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó lượng mưa tháng 8 chiếm gần 30% tổng lượng mưa cả năm và thường gây lũ lụt Trong mùa khô, đặc biệt là tháng 12, lượng mưa chỉ bằng khoảng 0,5% tổng lượng mưa cả năm.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu tổ chức của trại: gồm 3 nhóm
- Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 người quản lý trại
- Nhóm kỹ thuật: 02 kỹ sư, 04 tổ trưởng của chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng cai sữa, chuồng cách ly
- Nhóm công nhân: 01 làm bếp, 01 làm vườn, 14 công nhân, 01 sinh viên thực tập
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại
Trang trại nuôi gia công thuộc Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam có quy mô 1.200 lợn nái Trại được xây dựng ở vị trí an toàn, cách xa đường lớn, cách xa trường học và khu vực dân cư, với cảnh quanh chủ yếu là đồi chè Địa hình cao ráo, giúp thoát nước tốt vào mùa mưa nên tạo điều kiện chăm sóc và quản lý đàn lợn hiệu quả.
Trang trại có tổng diện tích 6 ha được phân bổ thành các khu chức năng gồm khu chăn nuôi, khu nhà ở, các công trình phụ trợ và đất trồng cây xanh, cây ăn quả; trong đó trại lợn được chia làm hai khu chính là khu điều hành và khu chăn nuôi.
Khu điều hành của trại gồm nơi làm việc của quản lý trại và nhà ăn, khu ở của công nhân, cổng ra vào trại và phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân Các khu này được thiết kế để phục vụ các nhu cầu thiết yếu của công nhân ngoài giờ làm và cung cấp các dịch vụ ăn uống và nghỉ ngơi Ngoài ra trại còn bố trí thêm một số khu vui chơi giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của công nhân.
- Hệ thống chuồng đẻ: gồm có 3 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng gồm
Chuồng nuôi lợn được thiết kế với hai ngăn thông nhau qua cửa ở đầu trên và cuối chuồng, mỗi ngăn có 58 ô được đánh số để dễ chăm sóc và quản lý Sàn chuồng lợn mẹ làm bằng sàn sắt chịu lực có khe hở, trong khi sàn lợn con được làm bằng nhựa cứng Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm và phía ngoài là một máng tập ăn cho lợn con.
Hệ thống chuồng bầu gồm hai chuồng bầu riêng biệt là Chuồng bầu 1 và Chuồng bầu 2 Chuồng bầu 1 được chia thành 8 dãy với 75 ô mỗi dãy, giúp quản lý và chăm sóc đàn lợn nái hiệu quả Bên cạnh đó, Chuồng bầu 2 cũng được chia thành 8 dãy với 75 ô mỗi dãy, dùng để nuôi nhốt lợn nái mới cai sữa và chờ đến tuổi phối giống, nhằm tối ưu chu trình sinh sản và tăng năng suất nuôi.
- 01 chuồng lợn đực: gồm 23 ô tương ứng với 23 con đực, giống lợn đực chủ yếu là Landrace và Duroc
Chuồng cách ly được xây dựng để nuôi lợn hậu bị nhập từ các chuồng nuôi thị của trại, nhằm đảm bảo an toàn sinh học và hạn chế rủi ro lây nhiễm trong bối cảnh dịch tả lợn châu Phi ASF diễn biến phức tạp Trong các tháng đỉnh điểm của dịch, trại đã ngừng nhập lợn từ các trại khác để bảo vệ nguồn lực và sức khỏe đàn nuôi Chuồng cách ly được đặt ở xa khu chăn nuôi chính và có quy mô khoảng 200 con lợn hậu bị, được chia thành các khu nhỏ để quản lý, giám sát sức khỏe và kiểm soát vệ sinh một cách hiệu quả.
4 ô, mỗi ô nuôi được 45 con Sau khi đã làm vaccine đầy đủ và trước khi được đưa lên chuồng bầu 1 chờ phối
Chuồng cai sữa số 01 được thiết kế dành cho lợn con cai sữa sau 21 ngày, với các ô đầu dành cho lợn to khỏe và hai ô cuối của dãy chuồng dùng để chứa lợn còi chậm lớn và lợn con bị bệnh Việc phân chia ô như vậy giúp quản lý dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và theo dõi sự phát triển của từng nhóm một cách hiệu quả Đây là cách tối ưu hoá quá trình cai sữa và nâng cao an toàn, thuận tiện cho quản lý chuồng trại.
Ở mỗi chuồng nuôi đều có đường rãnh thoát nước thải kết nối về một bể chứa nước thải tập trung Nguồn nước thải từ việc rửa chuồng và xả gầm được đưa vào hệ thống thoát nước ngầm để xử lý, đảm bảo vệ sinh và hạn chế ô nhiễm môi trường khu vực nuôi.
Nguồn nước tại trại được lấy từ hệ thống giếng khoan, sau khi được bơm lên hai bể chứa và xử lý bằng hóa chất, nước được đưa lên một bể ở trên cao nhờ áp lực để phân phối đồng bộ tới hệ thống cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám.
Trong khu chăn nuôi, các đường đi lại giữa các ô chuồng được đổ bê tông kiên cố và có hố sát trùng, nhằm đảm bảo an toàn sinh học và vệ sinh khu vực nuôi Khu chuồng được quản lý nghiêm ngặt, và mọi công nhân cũng như khách tham quan đều phải đi qua hệ thống sát trùng, thay quần áo, đeo khẩu trang và mang ủng chuyên dụng trước khi vào chuồng.
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
- Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại nên rất phù hợp với chăn nuôi công nghiệp hiện nay
Thời tiết diễn biến phức tạp, gây rét đậm rét hại và nguy cơ hạn hán, thiên tai có thể xảy ra trên diện rộng, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh trong chăn nuôi Vì vậy, khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn và chưa triệt để, dẫn đến chi phí phòng ngừa và chữa bệnh tăng lên và ảnh hưởng tới giá thành chăn nuôi.
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại
- Giá lợn hiện nay diễn biến thất thường, có lúc giảm mạnh kỷ lục ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế của trang trại.
Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
Như câu nói quen thuộc "phòng bệnh hơn chữa bệnh", phòng bệnh được đặt lên hàng đầu để hạn chế hoặc ngăn chặn bệnh tật khi công tác phòng bệnh đạt hiệu quả Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp tập trung xoay quanh ba yếu tố chính: môi trường, mầm bệnh và vật chủ, nhằm giảm thiểu nguy cơ lây lan và tác động của bệnh Vì vậy, phòng bệnh và trị bệnh nên được thực hiện đồng bộ bằng nhiều biện pháp khác nhau để tăng hiệu quả và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004), bệnh xuất hiện ở một đàn lợn thường bắt nguồn từ các nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, bệnh không truyền nhiễm hoặc sự kết hợp của cả hai Có nhiều biện pháp được đưa ra nhằm kiểm soát các trường hợp mắc bệnh ở đàn lợn, và phần lớn các biện pháp này tập trung vào giảm sự lây lan của các tác nhân gây bệnh đồng thời nâng cao sức đề kháng của đàn lợn.
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [20], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn tồn tại cả trong môi trường và đường tiêu hóa của vật chủ Khi môi trường nuôi nhốt ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống và thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, và điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng và dễ bị nhiễm khuẩn E coli.
E coli, bệnh sẽ nổ ra Do vậy, khâu vê ̣sinh, chăm sóc trong chăn nuôi có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30 0 C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30 0 C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) [18], từ 3–5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái được cọ rửa sạch và phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5% hoặc các loại hóa chất khác nhằm tiêu độc và khử trùng chuồng trước khi đẻ.
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại được thiết kế phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, bảo đảm thông thoáng và mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, đồng thời có biện pháp cách ly với môi trường xung quanh để đảm bảo an toàn, sức khỏe và hiệu quả nuôi dưỡng.
Để tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi, thực hiện lần lượt: rửa sạch, để khô rồi phun sát trùng bằng các loại thuốc phù hợp và để chuồng trống ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần vệ sinh tổng thể và triệt để; sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, phun sát trùng kỹ toàn bộ chuồng từ mái, dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản.
Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vaccine
Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), vaccine là một chế phẩm sinh học chứa mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hoặc vật liệu di truyền như ARN, ADN) đã được làm giảm độc lực hoặc vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc bằng các phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới - vaccine công nghệ gen) Nhờ đó chúng không còn gây bệnh cho người được tiêm; thay vào đó, khi đưa vào cơ thể, vaccine kích thích đáp ứng miễn dịch, giúp người được tiêm có miễn dịch chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh tương ứng.
Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể phòng bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày tuỳ theo từng loại vaccine mới có miễn dịch
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [9], nguyên tắc để điều trị bệnh là:
Điều trị toàn diện đòi hỏi phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng và dùng thuốc để đạt hiệu quả chăm sóc và phục hồi nhanh Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh nhằm tăng cơ hội khỏi bệnh và hạn chế lây lan Diệt căn bệnh là mục tiêu chính, đồng thời kết hợp với chữa triệu chứng để cải thiện tình trạng người bệnh và ngăn ngừa biến chứng.
Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể để hệ miễn dịch có thể tự bảo vệ và chống lại mầm bệnh Khi sức đề kháng được nâng cao và miễn dịch hoạt động hiệu quả, quá trình hồi phục sẽ diễn ra nhanh hơn, nguy cơ tái phát và biến chứng được giảm thiểu, và hệ miễn dịch sẽ trở nên bền vững lâu dài.
Phải có quan điểm rõ khi chữa bệnh cho gia súc: chỉ nên chữa những con có thể khỏi bệnh và không làm giảm sức kéo cũng như sản lượng Nếu quá trình điều trị kéo dài và chi phí vượt quá giá trị gia súc, thì không nên tiến hành chữa trị.
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [9], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
Hộ lý cho gia súc ốm gồm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt, thoáng mát, sạch sẽ và yên tĩnh để tạo môi trường hồi phục Cần theo dõi sát sao các chỉ số sức khỏe như thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân và nước tiểu để phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh và kịp thời đối phó Đồng thời, cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và phù hợp với tính chất của bệnh nhằm đảm bảo dinh dưỡng và tăng cường quá trình hồi phục.
Kháng huyết thanh được dùng chủ yếu để điều trị các bệnh đặc hiệu và thường được áp dụng trong ổ dịch, nhằm chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là quá trình đưa vào cơ thể các kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng, thông qua huyết thanh kháng độc tố.
Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược có tác dụng đặc hiệu với mầm bệnh nhằm chữa nguyên nhân Đối với điều trị bằng hóa dược, cần tác động mạnh và sớm để đối phó với sự thích nghi của vi khuẩn với liều lượng thấp; chúng có thể kháng thuốc và tính chất kháng lại được truyền cho các thế hệ sau Khi cần thiết, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị: nếu một loại thuốc chưa tác động đến mầm bệnh, các loại thuốc khác có thể cho tác dụng tốt hơn.
Kháng sinh là nhóm thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản hoặc tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh có thể gây tai biến do độc tính của thuốc, dị ứng hoặc khi tiêu diệt nhiều vi khuẩn cùng lúc làm giải phóng độc tố và ảnh hưởng tới đáp ứng miễn dịch của cơ thể Dùng kháng sinh một cách bừa bãi còn dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, làm giảm hiệu quả điều trị Vì vậy, khi dùng kháng sinh cần tuân thủ các nguyên tắc an toàn và hiệu quả, bao gồm dùng đúng chỉ định của bác sĩ, đúng liều lượng và thời gian điều trị, đồng thời áp dụng các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn và vệ sinh hợp lý để giảm nguy cơ tác dụng phụ và kháng thuốc.
+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước
Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, việc phòng ngừa được đặt lên hàng đầu vì phòng bệnh hiệu quả có thể hạn chế hoặc ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh tật Do vậy, công tác phòng bệnh và trị bệnh cần kết hợp với nhiều biện pháp khác nhau để tối ưu hóa chăm sóc sức khỏe và giảm thiểu rủi ro cho cộng đồng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2000) [12], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn
Streptococcus và Colibacillus có thể lây từ lợn con sang lợn mẹ qua cuống rốn, đặc biệt khi lợn đẻ khó và chuồng nuôi nhốt sát nhau khiến sảy thai dễ xảy ra Ngoài ra, dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng có thể gây xây xát và hình thành các ổ viêm nhiễm trong tử cung và âm đạo, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và biến chứng trong chăn nuôi lợn.
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Trường hợp gia súc viêm tử cung ở thể viêm cơ và viêm tương mạc, nghiên cứu của Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) cho thấy không nên thụt rửa bằng dung dịch sát trùng với thể tích lớn, vì tổn thương nặng làm cơ tử cung co bóp yếu, dễ giữ lại chất bẩn trong tử cung và làm bệnh nặng thêm Thay vào đó, nên dùng liệu pháp kích thích co bóp tử cung bằng oxytocin kết hợp với PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh để điều trị toàn thân và cục bộ.
Trước khi đẻ, lau sạch, xoa vú và tắm cho nái; cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1 giờ đẻ và cắt răng nanh lợn con Chườm nước đá lên bầu vú để giảm sưng và sốt Tiêm kháng sinh Penicillin từ 1,5–2 triệu đơn vị với 10 ml nước cất tiêm quanh vú; nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng với 20 ml nước cất và tiêm quanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13]
Nguyên nhân chính gây viêm tử cung ở nái là thiếu dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý chuồng nuôi không hợp lý, vệ sinh kém và tiểu khí hậu chuồng nuôi không thuận lợi, cùng với các yếu tố như tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe và rối loạn nội tiết tố (kích dục tố) Nhiễm khuẩn và nhiễm trùng sau khi sinh là những yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến bệnh này Dựa trên những yếu tố trên, các biện pháp phòng ngừa viêm tử cung ở nái có thể tập trung vào cải thiện dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh chuồng trại và quản lý chuồng nuôi, điều chỉnh tiểu khí hậu, tối ưu hóa lịch lứa đẻ và chăm sóc sau sinh để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn và viêm tử cung.
Staphylococcus và Streptococcus là những tác nhân gây viêm vú ở lợn nái; lợn con có răng nanh làm xước vú mẹ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng Lợn nái có nhiều sữa nhưng con bú không hết dẫn đến ứ đọng sữa, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và gây viêm vú Khi lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại có thể bị căng sữa quá mức và dễ bị viêm.
2.3.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên toàn cầu đang phát triển mạnh nhờ liên tục đầu tư cải thiện chất lượng đàn giống và áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi Tuy nhiên, vấn đề hạn chế bệnh sinh sản vẫn là thách thức tất yếu, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đưa ra các kết luận hữu ích giúp người chăn nuôi lợn nái sinh sản giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Dù vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn còn cao, đòi hỏi tiếp tục áp dụng những biện pháp quản lý và phòng trị phù hợp để cải thiện sức khỏe sinh sản và năng suất chăn nuôi.
Vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung ở lợn nái thường là vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm hiếu khí có mặt ở nền chuồng; khi lợn nái sinh và cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập gây bệnh Theo Gardner J A A và cs (1990) [28], Smith và cs (1995) [29], Taylor (1995) [30], tăng cường vệ sinh chuồng trại và vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa nhiễm trùng sau sinh Khi mổ khám các trường hợp vô sinh, nguyên nhân liên quan đến cơ quan sinh sản chiếm 52,5%, lợn nái đẻ lứa đầu 32,1%, và lợn nái có những biến đổi bệnh lý viêm vòi tử cung có mủ.
Theo Trekaxova A V (1983), nghiên cứu chữa viêm vú ở lợn nái cho thấy hiệu quả khi kết hợp phong bế thần kinh tuyến sữa bằng Novocain với điều trị bằng kháng sinh Dung dịch Novocain 0,5% được tiêm phong bế vào mỗi túi vú với liều 30–40 ml, sâu 8–10 cm Dung dịch này được bổ sung 100–200 nghìn đơn vị Penicillin hoặc các kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong dung dịch Novocain này với liều 400–600 đơn vị, thực hiện mỗi ngày 2–3 lần.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Đối tượng
- Lợn nái sinh sản: Giống Yorkshire và Landrace
- Nguồn gốc: Đan Mạch, nước Anh (England).
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trang trại Nguyễn Quang Tiếp, xóm 5, thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi của trại
- Tham gia các công tác nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn
- Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái
- Tham gia các công tác kỹ thuật khác.
Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Cơ cấu đàn lợn tại thời điểm thực tập
- Khối lượng công việc nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại
- Số lượng tiêm vaccine phòng bệnh
- Số lượng lợn nái được chẩn đoán và điều trị bệnh
3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại em tiến hành thu thập thông tin từ trại, kết hợp với kết quả theo dõi tình hình thực tế tại trang trại
3.4.2.2 Quy trình phòng bệnh cho lợn tại trại
Vệ sinh sát trùng chuồng trại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chăn nuôi lợn, với các thành phần chủ yếu gồm vệ sinh môi trường xung quanh, đất, nước và chuồng trại Hàng ngày công nhân tiến hành quét dọn, vệ sinh chuồng trại và thu gom phân rác cùng nước tiểu để duy trì môi trường nuôi sạch sẽ và an toàn Trong suốt quá trình học tập và thực tập tại trại, em đã làm việc cùng anh chị công nhân và kỹ sư, thực hiện nghiêm ngặt các quy định vệ sinh mà trại đề ra nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của đàn lợn Việc thực hiện đầy đủ các quy trình vệ sinh và sát trùng không chỉ giúp phòng ngừa dịch bệnh mà còn cải thiện điều kiện sống cho đàn vật nuôi và góp phần tối ưu hiệu quả chăn nuôi.
Mỗi ngày trước khi vào chuồng làm việc, các kỹ sư, công nhân và sinh viên phải mang ủng, mặc quần áo bảo hộ và đi qua khu vực sát trùng Quá trình này giúp đảm bảo an toàn lao động khi vào chuồng và bắt đầu ca làm việc một cách có tổ chức.
- Giao nhận ca với ca đêm, kiểm tra qua một lượt chuồng trại
- Cho lợn nái ăn, thu phân tránh lợn mẹ nằm đè lên phân
- Lau máng tập ăn cho lợn con, chuẩn bị thức ăn, rắc cám cho lợn con tập ăn
- Vệ sinh sàn sạch sẽ, quét đường đi lại giữa dãy chuồng
- Vệ sinh máng sạch sẽ, chở cám, chuẩn bị cám cho lợn nái
Định kỳ phun thuốc sát trùng, quét vôi và dội vôi gầm chuồng nhằm diệt khuẩn và duy trì môi trường nuôi sạch sẽ; quét mạng nhện trong chuồng và rắc vôi bột ở cửa ra vào giúp ngăn ngừa mầm bệnh và bụi bẩn Tất cả những biện pháp này đảm bảo vệ sinh chuồng trại và tăng cường điều kiện chăm sóc vật nuôi.
Sau khi lợn con chuyển xuống chuồng cai sữa, tháo dỡ các tấm đan và ngâm chúng trong bể sát trùng bằng dung dịch NaOH 10% trong 12 giờ, sau đó xịt áp lực để làm sạch và phơi khô Chuồng và khung chuồng được phun khử trùng, lắp lại các tấm đan và đưa lợn chờ đẻ vào chuồng.
- Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, không được tự tiện sang các khu khác đặc biệt là khu cách ly
- Các phương tiện ra vào trại phải được sát trùng kỹ tránh phát tán mầm bệnh từ bên ngoài vào
Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 3.1
Bảng 3.1 Lịch sát trùng tại trại Thứ
Khu vực ngoài chuồng Chuồng nái chửa Chuồng đẻ
Thứ 2 Phun sát trùng Phun sát trùng + xả vôi gầm Rắc vôi
Thứ 3 Phun sát trùng + phun thuốc ruồi
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Thứ 4 Phun sát trùng Phun sát trùng
+ xả xút gầm Vệ sinh tổng khu
Thứ 5 Phun sát trùng + xả vôi gầm Phun sát trùng
Thứ 6 Phun sát trùng Phun sát trùng + xả vôi gầm Rắc vôi
Thứ 7 Phun sát trùng + phun thuốc ruồi
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Chủ nhật Vệ sinh tổng chuồng Vệ sinh tổng chuồng Vệ sinh tổng khu
Qua bảng 3.1 ta thấy được quy trình thực hiện phòng bệnh trong khu vực chăn nuôi:
Đối với chuồng bầu, khoảng một tuần trước ngày dự sinh, lợn mẹ sẽ được tắm sạch và chải chuốt, sau đó chuyển sang chuồng đẻ để chuẩn bị cho sinh nở Ô chuồng rời đi sẽ được xịt rửa và phun sát trùng, nhằm duy trì vệ sinh và đón nhận lợn mẹ cai sữa sau sinh.
Đối với chuồng đẻ, lợn nái sau cai sữa được chuyển sang chuồng bầu để hồi phục Khi lợn con được xuất bán, các tấm đan chuồng tháo ra, ngâm tại bể sát trùng bằng dung dịch NaOH 10% trong một ngày, sau đó cọ sạch và phơi khô Ô chuồng và khung chuồng cũng được cọ sạch bằng dung dịch NaOH 10% để đảm bảo vệ sinh và diệt khuẩn trước khi đưa vào sử dụng lại.
Chuồng nuôi được khử trùng bằng dung dịch NaOH có nồng độ khoảng 5%, gầm chuồng được vệ sinh và tiêu độc sạch sẽ, sau đó để cho khô hoàn toàn Khi mặt sàn khô, tiến hành lắp đặt các tấm đan và đưa lợn bầu vào chuồng để chờ đẻ.
Phòng bệnh cho đàn lợn được đặt lên hàng đầu, nên toàn bộ đàn lợn được tiêm vaccine một cách nghiêm ngặt Quy trình tiêm được thực hiện đầy đủ, đúng kỹ thuật và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc an toàn sinh học, nhằm đảm bảo hiệu quả phòng bệnh tối ưu Lợn được tiêm vaccine khi ở trạng thái khỏe mạnh, bình thường, không mắc bệnh để tạo miễn dịch tốt nhất cho cả đàn.
Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại cụ thể theo các giai đoạn sau:
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vaccine cho nái tại trại
Loại lợn Tuổi Phòng bệnh Vaccine - Thuốc Đường đưa thuốc
3 ngày Thiếu sắt Fe - Dextran - B12 Tiêm 2
10 - 14 ngày Myco (Suyễn) Hyogen Tiêm bắp 2
14 - 21 ngày Circo (Hội chứng còi cọc) Circo pigvac Tiêm bắp 2
24 tuần tuổi Tai xanh PRRS Tiêm bắp 2
25, 29 tuần tuổi Khô thai Parvo Tiêm bắp 2
26 tuần tuổi Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
28 tuần tuổi LMLM Aftopor Tiêm bắp 2
27, 30 tuần tuổi Giả dại Begonia Tiêm bắp 2
10 tuần chửa Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
12 tuần chửa LMLM Aftopor Tiêm bắp 2
12 tuần chửa Giả dại Begonia Tiêm bắp 2
Sau đẻ 15 ngày Khô thai Parvo Tiêm bắp 2
3.4.2.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
* Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng nái chửa
Kiểm tra lợn hàng ngày để phát hiện lợn lên giống, phối không đạt, lợn nái bị sảy thai hoặc mang thai giả; đồng thời chú trọng vệ sinh chuồng nuôi, dọn phân để không cho lợn nằm lên phân, và đảm bảo máng ăn được rửa sạch, gầm chuồng được xịt khử trùng Cuối giờ chiều là thời điểm chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái mang thai được cho ăn thức ăn loại 566F với khẩu phần ăn theo tuần của thai kỳ, thể trạng và lứa đẻ, nhằm tối ưu hiệu quả nuôi dưỡng.
+ Từ 1 - 5 ngày sau phối: Thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2kg/ ngày
Chế độ dinh dưỡng cho đàn vật nuôi sau phối được mô tả qua ba giai đoạn: từ 6–50 ngày sau phối, thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,2 kg/ngày; từ 51–85 ngày sau phối, thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,5 kg/ngày; từ 86–110 ngày sau phối, thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,8–3,0 kg/ngày.
Trong giai đoạn từ 1 đến 5 ngày sau phối, cho ăn thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,2 kg mỗi ngày Từ 6 đến 50 ngày sau phối, tiếp tục cho thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,3–3 kg mỗi ngày Từ 51 đến 85 ngày sau phối, dùng thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,5 kg mỗi ngày Từ 86 đến 110 ngày sau phối, duy trì thức ăn 566F ở mức 2,8–3,2 kg mỗi ngày.
* Quy trình nuôi duỡng, chăm sóc nái đẻ (nái nuôi con)
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày dự sinh 7–10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ để bảo đảm vệ sinh cho quá trình sinh sản Lợn chuyển lên chuồng đẻ phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng để quản lý và theo dõi dễ dàng.
- Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 5 ngày cho ăn thức ăn 567SF giảm dần 0,5kg/ ngày
- Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5kg/ ngày đến ngày thứ 6, chia làm ba bữa sáng, trưa, chiều
- Từ ngày thứ 7 đến cai sữa cho ăn tự do
- Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên 6kg/ con/ ngày
- Phải đảm bảo đủ nước uống cho lợn nái vì nái tiết sữa sẽ uống rất nhiều nước, từ 30 - 50 lít/ ngày/ nái
- Vệ sinh sát trùng bộ phận sinh dục, bầu vú cho lợn trước và sau khi đẻ
- Điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng từ 25 - 28ºC là thích hợp nhất
* Quy trình dùng thuốc
- Nái bắt đầu đẻ tiêm kháng sinh Amoxykel (1ml/ 10kg TT)
- Nái đẻ hết con tiêm Oxytocin (2ml/ con)
- Ngày 2 sau đẻ tiêm Oxytocin (2ml/ con)
- Ngày 3 sau đẻ tiêm kháng sinh Amoxykel (1ml/ 10kg TT) và Oxytocin (2ml/ con)
- Ngày 5 sau đẻ tiêm kháng sinh Amoxykel (1ml/ 10kg TT)
- Chuẩn bị lồng úm: Chuẩn bị bao khâu lồng úm, bao khâu lồng úm đã được giặt sạch, sát trùng, phơi khô, sau đó khâu lồng úm
Để chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn mẹ, hãy vệ sinh âm hộ và mông cho sạch bằng nước ấm có pha sát trùng khi vỡ ối; vệ sinh sàn chuồng, trải thảm lót và lồng úm; chuẩn bị bóng điện úm để giữ ấm cho lợn con; có sẵn dụng cụ đỡ đẻ như bột lăn Mistral, cồn iod để sát trùng, kéo cắt dây rốn và chỉ buộc dây rốn.
+ Một tay cầm chắc lợn, một tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn để lợn hô hấp thuận lợi, sau đó rắc bột lăn Mistral lên toàn bộ cơ thể lợn con cho nhanh khô rồi cho vào trong lồng úm