1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn việt anh, huyện vĩnh bảo, thành phố hải phòng

66 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ THỊ NHÀN Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ NHÀN

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ

TẠI TRẠI LỢN VIỆT ANH, HUYỆN VĨNH BẢO,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên – 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ NHÀN

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ

TẠI TRẠI LỢN VIỆT ANH, HUYỆN VĨNH BẢO,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Nhật Thắng

Thái Nguyên – 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, em được chủ trại Việt Anh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tạo mọi điều kiện thuận lợi, chỉ dạy cho em các kiến thức thực tế trong suốt khoảng thời gian thực tập cùng với sự cố gắng của bản thân và sự quan tâm giúp đỡ của thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy cô khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dùng hết tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn đến thầy giáo ThS TRẦN NHẬT THẮNG đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian

thực tập tốt nghiệp

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè và tập thể lớp Thú

y K48 - N07 đã quan tâm, động viên, khích lệ trong suốt thời gian qua

Do kiến thức thực tế của em chưa nhiều, khóa luận có thể không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô để bản báo cáo khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021

Sinh viên

Lê Thị Nhàn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 5

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 6

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6

2.2.2 Những hiểu biết về chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn mang thai 9

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 11

2.2.4 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 14

2.2.5 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho lợn 18

2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái 20

2.2.7 Bệnh thường gặp trên lợn con 24

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28

Trang 5

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 30

3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 30

3.3 Nội dung thực hiện 30

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp thực hiện 31

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Việt Anh 34

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con 35

4.3 Kết quả công tác phòng bệnh cho lợn tại trại 39

4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 39

4.3.2 Kết quả thực hiện tiêm phòng bằng vắc xin cho đàn lợn 40

4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại Việt Anh 42

4.5 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại 43

4.6 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con và lợn con tại cơ sở 48

4.7 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 49

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

I Tài liệu Tiếng Việt 54

II Tài liệu nước ngoài 56

III Tài liệu internet 57

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP 63

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 22

Bảng 3.1 Chế độ ăn của lợn nái mang thai của tập đoàn CP 31

Bảng 3.2 Lịch sát trùng được áp dụng tại trại nái 32

Bảng 3.3: lịch vắc xin phòng bệnh lợn nái và lợn con tại trại 33

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại từ 2018 - 11/2020 34

Bảng 4.2: Kết quả số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 6 tháng thực tập 38

Bảng 4.3 Kết quả vệ sinh phòng bệnh 40

Bảng 4.4 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn tại trại 41

Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 42

Bảng 4.6 Tỉ lệ lợn con sống sau 24 giờ sinh 43

Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 46

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 47

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại 48

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các công tác khác 51

Trang 8

Chăn nuôi là hướng phát triển lâu dài của ngành sản xuất nông nghiệp,

là ngành có thế mạnh, có tỷ xuất hàng hóa cao, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí hết sức quan trọng Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở Việt Nam Đến nay, phong trào nuôi lợn thịt hướng nạc

đã và đang phát triển mạnh mẽ theo hình thức trang trại ở nhiều địa phương, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi và trở thành một ngành chăn nuôi chính chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chăn nuôi

Tuy vậy, để phát triển đàn lợn nái sinh sản gặp rất nhiều khó khăn Một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là bệnh xảy ra gây nên nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như ở hộ gia đình do trong năm vừa qua, giá lợn xuống thấp, tình hình tiêm phòng cho lợn nái bị ảnh hưởng, tỉ lệ mắc bệnh ở đàn lợn nái tăng cao Ngoài ra, đối với đàn lợn nái sinh sản, nhất là lợn nái ngoại được chăn nuôi theo hình thức nuôi công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi lợn với điều kiện khí hậu của nước ta còn kém Người chăn nuôi và các cán bộ cơ sở vẫn chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức về thú y, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh như: bất ổn

về giá cả, nguồn gốc thức ăn, chất tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi và tình hình dịch bệnh đang bùng phát ngày càng phức tạp gây nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là chăn nuôi lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ

Trang 9

Để phát triển, nâng cao giá trị kinh tế góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn, được sự đồng ý của BCN Khoa và cô giáo

hướng dẫn, em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Việt Anh, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn Việt Anh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản tại trại

- Nhận biết và chẩn đoán được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

- Hoàn thiện thêm kỹ năng, tay nghề trong thời gian thực tập

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi lợn

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại lợn Việt Anh huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng

- Xác định được tình hình mắc bệnh và tỉ lệ mắc một số bệnh trên đàn lợn nuôi tại cơ sở Từ đó đưa ra được các phác đồ phòng và điều trị bệnh cho lợn hiệu quả nhất

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Ở vị trí tiếp giáp giữa Hải Phòng với các tỉnh Thái Bình và Hải Dương, huyện Vĩnh Bảo là một huyện giữ vai trò trọng yếu trong phát triển vùng kinh tế ngoại thành Hải Phòng Điểm cực Đông của huyện là cửa của sông Hóa đổ vào sông Thái Bình, trước khi sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc

Bộ (biển Đông), phía Tây Bắc huyện giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam và Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) Huyện có Quốc lộ 10 sang Thái Bình (hướng Tây Nam), hướng ngược lại lên phía Bắc là hướng đi trung tâm thành phố Hải Phòng qua các huyện Tiên Lãng, An Lão Huyện Vĩnh Bảo được bao bọc kín xung quanh bởi ba con sông:

- Sông Luộc phía Tây Bắc là ranh giới của huyện với tỉnh Hải Dương

- Sông Hóa ở phía Tây Nam và Nam, gần như là ranh giới của huyện với tỉnh Thái Bình

- Sông Thái Bình làm ranh giới giữa huyện Vĩnh Bảo với huyện Tiên Lãng

* Điều kiện tự nhiên

Về địa hình: Huyện Vĩnh Bảo là đồng bằng không có đồi núi, địa hình tương đối bằng phẳng và ngả thấp dần về phía Nam ra biển

Khí hậu:

- Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt Trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa Đông lạnh và khô, nhiệt độ là 20,3°C; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa

Hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa Hè là khoảng 32,5°C

Trang 11

- Lượng mưa trung bình từ 1.600 - 1.800 mm/năm Do nằm sát biển nên vào mùa Đông, Hải Phòng ấm hơn 1oC và mùa Hè mát hơn 1oC so với

Hà Nội Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C - 26oC, tháng nóng nhất (tháng 6 và 7) nhiệt độ có thể lên đến 44oC và tháng lạnh nhất (tháng 1 và 2), nhiệt độ có thể xuống dưới 5oC Độ ẩm trung bình vào khoảng 80 - 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 11 và tháng 12

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại đã dành khoảng 2.000m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Xung quanh khu chăn nuôi có xây tường bao bọc kết hợp với trồng hàng keo xung quanh và có 1 cổng ra vào phụ và 1 cổng ra vào chính với hệ thống sát trùng tự động Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp (hướng trại Tây Bắc), hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản bao gồm:

+ Hệ thống chuồng đẻ: Gồm có 3 chuồng là chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3, mỗi chuồng gồm 56 ô chia làm 2 ngăn, trong mỗi ngăn có 2 dãy, các ô được đánh thứ tự để dễ dàng chăm sóc và quản lý Sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông, sàn lợn con làm bằng nhựa cứng Mỗi lồng úm được trang

bị một bóng đèn sưởi ấm, bên ngoài là một máng tập ăn cho lợn con

+ Hệ thống chuồng chửa: Gồm 1 chuồng chửa chia làm 3 dãy mỗi dãy

có 135 ô, nuôi các lợn chờ lên giống, lợn đang phối, lợn mới phối xong đang

ở giai đoạn đầu và lợn đực giống, lấy tinh Sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng, giúp công việc vệ sinh khử trùng được dễ dàng Bên cạnh chuồng chửa 1 là phòng tinh, phòng tinh được trang bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết như: kính hiển vi, tủ lạnh, máy ép túi tinh, nhiệt kế

Trang 12

+ 1 chuồng cách ly: Dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại giống về Sau khi đã làm vắc xin đầy đủ và trước khi được đưa lên giống chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị

+ 1 chuồng cai sữa: dành cho lợn con cai sữa (sau 21 ngày) gồm 4 ô chuồng Gồm 3 ô to nuôi lợn con cai sữa khỏe mạnh, 1 ô cuối dãy chuồng dùng để chứa lợn con bị bệnh

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và một hệ thống đo nhiệt độ, độ ẩm trong chuồng đảm bảo thoáng mát về mùa hè ấm áp vào mùa đông Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối mỗi chuồng đều

có hệ thống thoát phân và nước thải Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông, trước cửa mỗi chuồng có các chậu nước sát trùng và được rắc vôi quét dọn định kì

Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: 1 kho thuốc,

1 kho thức ăn, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân, 1 phòng nghỉ trưa của kỹ sư, 1 kho rác, 1 nhà chứa vôi bột và 1 bể vôi tôi

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở thức ăn hỗn hợp từ

nhà kho xuống chuồng

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trang 13

2.1.5 Thuận lợi, khó khăn

+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

* Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục

và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục

đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại

- Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:

Những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống

Trang 14

thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3], tuổi động dục lần đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 -

25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 7 tháng khi đạt 65 - 80 kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục khác nhau

- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Mùa Hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng Mùa Đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày

- Tuổi thành thục về tính của gia súc: Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu

Kỷ (2003) [3] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì

ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

* Sự thành thục về thể vóc:

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [12], tuổi thành thục về thể vóc

là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt,

vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt

Trang 15

là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 -

50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối

+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40 giờ, với lợn nội là 25 - 30 giờ

+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30 giờ

+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ

nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp: Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [28], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 Đối với lợn nái ngoại, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ khi bắt đầu chịu đực Đối với lợn nái nội, nên phối giống

Trang 16

vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỉ lệ đậu thai và sai con

2.2.2 Những hiểu biết về chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn mang thai

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao

- Nhu cầu năng lượng: Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể lợn mẹ tùy thuộc vào từng giai đoạn đẻ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Dưới hai dạng: Gluxit chiếm 70 - 80%, Lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp Do đó nhu cầu về năng lượng cho lợn nái cần phải đủ, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật

- Nhu cầu về khoáng chất: Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, một lượng nhỏ còn lại là magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng vi lượng

- Nhu cầu về protein: Protein tham gia vào mọi hoạt động trao đổi chất và cấu tạo nên các mô trong cơ thể, hàng ngày luôn có một lượng nhất định protein mất đi Do đó cần cung cấp protein đủ về số lượng và cân đối

về các thành phần axit amin không thay thế: Lyzin, methionin, histidin, cystein, tryptophan để bù lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi

- Nhu cầu về vitamin: Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin cơ thể có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin thiếu cần phải bổ sung (A, D, E), nếu bổ sung không đúng đều không tốt

+ Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ sảy thai, đẻ non

Trang 17

+ Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, lợn mẹ dễ bị liệt chân trước

- Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [30], cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho lợn nái chửa để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với lợn nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng để tiếp tục lớn thêm nữa

+ Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: Đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn

+ Số bữa cho ăn/ ngày: Ngày cho ăn 2 bữa, cho ăn thức ăn hỗn hợp + Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá

đu đủ do dễ gây sảy thai

+ Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm lượng thức ăn để phòng thức ăn chèn

ép thai, bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ

- Kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái có bao gồm:

+ Vận động: Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần Lợn nái chửa kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho đi lại trong sân chơi Khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng thì không cho lợn vận động Trước khi vận động nên cho lợn

Trang 18

uống nước đầy đủ để tránh lợn không uống nước bẩn ở nơi vận động đó

+ Tắm chải: Có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, gây cảm giác dễ chịu, lợn thoải mái giúp kích thích tính thèm ăn và phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Tắm chải cần tiến hành thường xuyên, đặc biệt trong mùa hè, những ngày thời tiết nóng bức

+ Chuồng trại: Phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông

* Công tác thú y đối với lợn nái mang thai

- Từ 3 - 5 ngày trước ngày đẻ dự kiến, ô chuồng lợn nái cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Trước đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng bằng cách trộn vào thức ăn hoặc tiêm Có thể sử dụng Ivome liều 1ml cho 33 kgTT tiêm dưới da hoặc Cofavit 500, liều 4 ml/nái tiêm bắp

- Hằng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem lợn có sốt nóng không

- Tiêm phòng định kỳ các loại vắc xin như: Dịch tả, Tụ - Dấu, Lepto

2 lần/nái/năm Chú ý không tiêm phòng cho lợn nái những loại vắc xin trên khi lợn nái mang thai ở giai đoạn từ sau khi phối đến 60 ngày sau phối trừ

trường hợp có dịch bệnh xảy ra Tiêm vắc xin E.coli cho lợn nái mang thai

vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước đẻ, liều lượng 2 ml/con tiêm bắp

- Thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời Ngoài ra trước ngày đẻ dự kiến 14 ngày cần phải được tắm ghẻ và sau đó 1 tuần tắm lại lần

2 Đây là điều kiện bắt buộc để đề phòng lợn mẹ bị ghẻ lây sang lợn con ngay từ khi sơ sinh

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Trang 19

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái

có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2

- 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột

mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

Trang 20

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng là chuẩn bị ô úm cho lợn con, ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con (trong những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, sức khỏe lợn mẹ chưa hồi phục) Ô úm có thể giúp khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa Đông Đồng thời, rất thuận lợi khi cho lợn con tập ăn sớm (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc

7 - 10 ngày tuổi mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con)

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức

ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Canxi từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], trong quá trình nuôi con, lợn nái ngoại được cho ăn như sau:

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0 - 0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

Trang 21

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn thức

ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên

Ngoài ra, yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 28 - 30ºC, độ ẩm 70 - 75%

2.2.4 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.4.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con

Sau khi sinh lợn con có tốc độ sinh trưởng rất nhanh được thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường, khối lượng lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [29], khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan tỉ lệ thuận với nhau khá chặt chẽ Khối lượng sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà còn liên quan tới tỉ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỉ lệ sống đến cai sữa Ở lợn ngoại, khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35 kg thì tỉ lệ

Trang 22

nuôi sống đến cai sữa đạt 75% Trong khi đó, khối lượng sơ sinh 0,57 kg hoặc nhỏ hơn chỉ sống sót hơn 2% khi cai sữa

2.2.4.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa của lợn con đó chính là sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng

về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Tiêu hóa thức ăn của lợn diễn ra ở 3 giai đoạn:

* Tiêu hóa ở miệng

Tiêu hóa diễn ra với 2 quá trình: Tiêu hóa cơ học do nhai và tiêu hóa hóa học do các men trong nước bọt

Amylase có trong nước bọt có hoạt tính cao ở lợn con mới sinh và

từ 2 - 21 ngày tuổi Tùy theo lượng thức ăn và lượng tiết sữa khác nhau, thức ăn có phản ứng axit yếu và khô thì nước bọt chủ yếu để thấm ướt và làm mềm thức ăn

* Tiêu hóa ở dạ dày

Lợn con mới sinh ra sống nhờ sữa mẹ, sau khi cai sữa lợn con sống tự lập và phải trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái cấu tạo, hoạt động sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày gấp 8 lần và 60 ngày tuổi gấp 60 lần trong khi dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít và sau đó tăng chậm đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít

Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số men tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu Khoảng 25 ngày đầu sau khi đẻ, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con chỉ có HCl ở dạng tự do và men pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạt hóa thành pepsin hoạt động và mới có khả năng tiêu hóa Nếu tập cho lợn con ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi thì HCl ở dạng tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi (Võ Trọng Hốt và Nguyễn Thiện, 2007) [11]

Trang 23

* Tiêu hóa ở ruột

Theo Trần Thị Dân (2006) [2], lợn con sơ sinh dung tích ruột non 100

ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, và 12 tháng đạt 20 lít Ruột già, lợn con sơ sinh có dung tích 40 - 50 ml, 20 ngày 100 ml, tháng thứ 3 đạt 2,1 lít, tháng thứ 4 là 7 lít và tháng thứ 7 từ 11 - 12 lít Hoạt tính của các men thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành

+ Amylase và maltase: Hai men này có trong dịch tụy từ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp nên khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém Sau 3 tuần tuổi men amylase và maltase mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn

+ Trypsin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn Ở thai lợn 2 tháng tuổi trong chất chiết đã có men trypsin, thai càng lớn hoạt tính của men trypsin càng cao Khi lợn con mới đẻ ra hoạt tính của men trypsin dịch tụy rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày

+ Cathepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa Đối với lợn con ở 3 tuần tuổi đầu, cathepsin có hoạt tính mạnh sau đó giảm dần

+ Lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Men này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của men giảm dần

+ Lipase và chymotrypsin: Đây là hai men có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó giảm dần (Võ Trọng Hốt và Nguyễn Thiện, 2007) [11]

Như vậy, lợn con mới sinh có khả năng tiêu hóa kém do các men có hoạt lực tiêu hóa yếu Hoạt động của các men chỉ thích hợp với việc tiếp nhận và tiêu hóa sữa Nhưng nếu có chế độ chăm sóc thích hợp, khẩu phần

ăn hợp lý, có thức ăn hỗn hợp tập ăn sớm được chế biến với thành phần dinh dưỡng đầy đủ và cho lợn con tập ăn sớm sẽ cải thiện được hạn chế này

2.2.4.3 Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:

Trang 24

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất

ở cả hai giai đoạn trong và ngoài thai

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng có thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs., 1996) [8]

- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2002) [13]

Trong giai đoạn này việc duy trì thân nhiệt của lợn con phụ thuộc vào

sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh đến

2 tuần tuổi do vậy trong 2 tuần đầu chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài

2.2.4.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch

Lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể, lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu Vì vậy khả năng miễn dịch ở lợn con là hoàn toàn thụ động vì nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít sữa từ mẹ

Trong sữa đầu lợn mẹ có tỉ lệ protein rất cao, những giờ đầu sau khi

đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó γ - globulin chiếm tỉ lệ rất cao (34 - 45%) và có vai trò miễn dịch Trong sữa đầu có một số loại kháng thể chủ yếu như IgA, IgG, IgM giúp cho lợn con có khả năng chống chịu được với bệnh tật xâm nhập từ bên ngoài vào Tuy nhiên, khả năng hấp thu kháng thể của lợn con đặc biệt là φ từ γ - globulin thay đổi rất lớn theo thời gian

Nghiên cứu tại Bruno (Cộng hòa Séc) gần đây cho thấy, chỉ ngay sau ngày đẻ thứ hai một số cơ quan trong cơ thể lợn con đã bắt đầu sản sinh

Trang 25

kháng thể Tuy nhiên, khả năng này của lợn con còn rất hạn chế và nó chỉ được hoàn chỉnh khi lợn con được một tháng tuổi (Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận, 2006) [29]

2.2.5 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho lợn

2.2.5.1 Phòng bệnh

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [23], vi khuẩn E.coli tồn tại trong môi

trường đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh

thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì

vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi, việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến

đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [22], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra

áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo thoáng mát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi được cẩn trọng bằng phương pháp: Phun sút, cọ, rửa sạch các thiết bị chăn nuôi và toàn bộ khu vực chuồng nuôi, nạo vét phân làm sạch đường dẫn chất

Trang 26

thải, để khô sau đó phun nước vôi và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản

Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun khử trùng kỹ (pha dung dịch khử trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch)

Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp

ra môi trường

Cần phun khử trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng,

ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun khử trùng xung quanh chuồng nuôi

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Đang là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào

đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới, vắc xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.5.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10], nguyên tắc điều trị bệnh là: + Toàn diện: Phải phối hợp giữa hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc

Trang 27

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng + Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa cho những gia súc

* Nguyên nhân

Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], cho biết bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 - 10 ngày

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [4], nguyên nhân gây

ra bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trecbomonas fortus) và do nấm Candda albicans

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao…

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006) [7], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Trang 28

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [16], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỉ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: Mùa Hạ có tỉ lệ nhiễm cao nhất 53,37%; mùa Đông 46,05%; mùa Thu 43,70%

Lê Minh và cs (2017) [17], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao gây viêm

- Do vệ sinh chuồng lợn đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [25], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: Thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39 - 39,5oC; chiều 40 - 41oC Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn

- Các thể viêm tử cung ở lợn:

Thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,5oC Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12 - 72 giờ sau đẻ,

Trang 29

dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi có mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng tới sản lượng sữa của lợn mẹ

Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao 39,5 -

40oC; lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lì Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xanh có lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối

Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao 39,5 - 40oC Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ vàng sệt, có khi lẫm máu, mùi tanh thối Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc, cổ tử cung hơi mở, có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện tận 7 - 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng tới sản lượng sữa

Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm thể hiện qua bảng 2.2

Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung

Thể viêm

Chỉ tiêu

phân biệt

Thể nhẹ (+)

Thể vừa (++)

Thể nặng (+++)

Vàng sệt,

có khi lẫn máu

Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản ứng

Biểu hiện Lợn kém ăn Lợn ăn ít hoặc

Trang 30

Trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến

sữa Hai loài vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae… Ngoài ra, còn các nguyên nhân gây viêm như số

con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng hoặc do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm Do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh Do lợn mẹ sát nhau, lợn con khi sinh ra không được bấm răng nanh ngay Lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ

về số lượng và độc lực (Nguyễn Như Pho, 2002 [20])

* Triệu chứng

Lê Hồng Mận (2002) [15] cho biết: Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

Còn Ngô Nhật Thắng (2006) [27], thì viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỉ lệ chết cao 30 - 100%

2.2.6.3 Lợn nái mất sữa sau khi đẻ

* Nguyên nhân

Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cho biết: Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Trang 31

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

* Triệu chứng

Khi vắt các vú không thấy sữa chảy ra, vú bị teo lại, nếu viêm thì sưng cứng Lợn con kêu nhiều, gầy yếu

2.2.7 Bệnh thường gặp trên lợn con

2.2.7.1 Hội chứng tiêu chảy

* Nguyên nhân

- Do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt Glawisschning E., Bacher H (1992) [31]

- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Bệnh hội chứng tiêu chảy ở lợn có nguyên

nhân do vi khuẩn E.coli, Salmonella

- Do thời tiết khí hậu: Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [5]

- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung

- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần

- Bệnh hội chứng tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất

kỳ độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14 ngày tuổi (Nagy và Péter Zs Fekete (2005) [37]

- Theo Trần Đức Hạnh (2013) [9], lợn con ở 1 số tỉnh phía Bắc mắc hội chứng tiêu chảy và chết với tỉ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%; tỉ lệ mắc hội chứng tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn

từ 21 - 40 ngày (30,97% và 4,93%) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày

* Triệu chứng

Trang 32

- Dấu hiệu lâm sàng: Tiêu chảy trên lợn có thể xảy ra ở bất cứ ngày

tuổi nào trong suốt giai đoạn bú mẹ nhưng thường được chia làm 2 giai đoạn, trước 5 ngày và khoảng 7 đến 14 ngày

Thể cấp tính: Dấu hiệu duy nhất là lợn con đang khỏe mạnh chết đột

ngột, triệu chứng lâm sàng ở lợn con bị nhiễm bệnh là:

+ Lợn nằm chồng lên nhau, run rẩy ở một góc chuồng

+ Vùng da xung quanh hậu môn và đuôi ướt

+ Phân nước, màu kem, màu vàng, phân lợn tiêu chảy thường dính trên da của những con lợn khác

+ Lợn con tiêu chảy mất nước, mắt lõm, da nhăn, lông xù xì

Thể á cấp tính: Thường ở giai đoạn 7-14 ngày, biểu hiện phân từ lỏng

như nước đến sáp như kem, thường có màu vàng hoặc trắng

Do ký sinh trùng: Do giun phổi, ấu trùng giun tròn

Trang 33

Theo Lê Văn Năm (2013) [19], thì thời kỳ nung bệnh dài từ 1 - 4 tuần,

nhưng cũng có thể sau 1 - 3 ngày nếu chưa có mặt của Haemophilus

Lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó thở Rõ nhất là sau khi bị xua đuổi, nhiều con không có phản xạ sợ sệt, vẻ mặt rầu rĩ, mí mắt sụp, tai không ve vẩy Xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp, nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao

Khi sờ nắn hoặc gõ để khám bệnh, lợn đau ở vùng phổi, rõ nhất là 1 -

2 đôi xương sườn đầu giáp bả vai

2.2.7.3 Bệnh viêm khớp

* Nguyên nhân

Do Streptococcus suis, là vi khuẩn gram (+) gây viêm khớp ở mọi lứa

tuổi lợn dạng cấp và mãn Bệnh thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi

Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da

+ Thể cấp tính: Đặc trưng bởi sốt, lông da sởn lên suy nhược và què Khi bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to

+ Thể mạn tính: Lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mạn tính suốt đời Các khớp bệnh chứa nhiều dịch khớp đục với các cục sợi tơ huyết (fibrin) Các màng sưng phồng, mất màu, tấy đỏ Các mô liên kết bọc xung quanh

mô dày lên và có thể chứa các ổ mủ nhỏ (áp xe)

Ngày đăng: 18/04/2022, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
17. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thú y
Tác giả: Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2017
18. Lê Văn Năm (2009), Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
19. Lê Văn Năm (2013), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ở lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
20. Nguyễn Như Pho (2002), Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật chăn nuôi đến hội chứng M.M.A và khả năng sinh sản của lợn nái, Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật chăn nuôi đến hội chứng M.M.A và khả năng sinh sản của lợn nái
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Năm: 2002
21. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
22. Nguyễn Ngọc Phụng (2005), Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phụng
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2005
23. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vacxin E. coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9, tr. 324 - 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vacxin "E. coli" uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, "Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
24. Nguyễn Văn Thanh (2003), “Khảo sát tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị”. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập 10, tr. 11 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị”. "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2003
25. Nguyễn Văn Thanh (2010), “Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
26. Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ (2016), Giáo trình bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2016
27. Ngô Nhật Thắng (2006), Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn
Tác giả: Ngô Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2006
28. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1993
29. Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận (2006), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
30. Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thuý Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường (2017), Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thuý Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
31. Glawisschning E., Bacher H. (1992), The Efficacy of Costat on E. coli infectedweaning pigs, 12th IPVS congress, August 17 - 22, p. 182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Efficacy of Costat on E. coli infectedweaning pigs
Tác giả: Glawisschning E., Bacher H
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w