Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sựquan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám đốc, cácphòng, ban, đơn vị của Vườn Quốc gia Phong Nha
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
LÊ VĂN VINH
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌNH RỪNG TRỒNG CÂY LÁ RỘNG BẢN ĐỊA CUNG CẤP GỖ LỚN
TẠI TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Lâm học
Mã số ngành: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS HOÀNG VĂN THẮNG
2 TS NGUYỄN CÔNG HOAN
Thái Nguyên, 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Đánh giá một số mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa
cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh” được hoàn thành theo chương trình đào
tạo Thạc sĩ, khóa 2019 - 2021 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nghuyên
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sựquan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám đốc, cácphòng, ban, đơn vị của Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bảng; Viện Khoa họcLâm nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện cho tác giả được tham gia cùng
nghiên cứu và sử dụng số liệu nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá các mô hình rừng trồng và đề xuất danh mục loài cây bản địa cung cấp gỗ lớn có giá trị cao ở Quảng Ninh” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện để làm luận văn Nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc trước sự quan tâm và giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS HoàngVăn Thắng - Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, TS Nguyễn Công Hoan -Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã hướng dẫn nhiệt tình, truyền đạtkinh nghiệm quý báu, những ý tưởng trong nghiên cứu khoa học và giúp tácgiả hoàn thành luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng và nỗ lực, nhưng kinh nghiệm nghiên cứuchưa nhiều, đặc biệt là hạn chế về mặt thời gian, tình hình dịch bệnh Covid-19phức tạp, đi lại khó khó khăn trong quá trình nghiên cứu, nên luận văn chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được
sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để cho luận văn đượchoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa và cótham khảo, kế thừa các tài liệu là hoàn toàn trung thực, nếu có gì sai tôi xinchịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái nguyên, ngày 22 tháng 10 năm 2021
Lê Văn Vinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Đánh giá một số mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa
cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh” được hoàn thành theo chương trình đào
tạo Thạc sỹ, khóa 2019 - 2021 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nghuyên
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, học viên đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám đốc, cácphòng, ban, đơn vị của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; Viện Khoa họcLâm nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện cho tác giả được tham gia cùng
nghiên cứu và sử dụng số liệu nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá các mô hình rừng trồng và đề xuất danh mục loài cây bản địa cung cấp gỗ lớn có giá trị cao ở Quảng Ninh” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện để làm luận văn Nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc trước sự quan tâm và giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS HoàngVăn Thắng - Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, TS Nguyễn Công Hoan
và các thầy cô Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã hướng dẫn nhiệttình, truyền đạt kinh nghiệm quý báu, những ý tưởng trong nghiên cứu khoahọc và giúp học viên hoàn thành luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng và nỗ lực, nhưng kinh nghiệm nghiên cứuchưa nhiều, đặc biệt là hạn chế về mặt thời gian, tình hình dịch bệnh Covid-19phức tạp, đi lại khó khó khăn trong quá trình nghiên cứu, nên luận văn chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Học viên rất mong nhậnđược sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để cho luận vănđược hoàn chỉnh hơn
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 10 năm
2021
Học viên
Lê Văn Vinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài: 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.1.1 Nghiên cứu chọn loài cây trồng rừng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn.4 1.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn 4
1.2 Ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu chọn loài cây lá rộng bản địa để trồng rừng cung cấp gỗ lớn .9
1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng cây lá rộng bản địa 11
1.3 Nhận xét chung 20
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm, thời gian và điều kiện nghiên cứu 22 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Các mô hình rừng trồng cây bản địa lá rộng
Trang 72.1.2 Phạm vi và địa điểm nghiên cứu: 22
2.1.3 Thời gian và điều kiện nghiên cứu: 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu 23
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trường 23
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Kết quả điều tra thành phần loài, diện tích rừng trồng và biện pháp kỹ thuật trồng rừng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh 29
3.1.1 Kết quả điều tra về thành phần loài cây và diện tích rừng trồng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh 29
3.1.2 Kết quả điều tra biện pháp kỹ thuật trồng rừng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh 32
3.2 Điều tra, đánh giá sinh trưởng, năng suất và tình hình sâu, bệnh hại các mô hình rừng trồng cây bản địa cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh 37
3.2.1 Đánh giá tỷ lệ sống của các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh 37
3.2.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng, năng suất của các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh 39
3.2.3 Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại của các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh 33
3.3 Đề xuất loài cây và một số giải pháp kỹ thuật phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh 45
3.3.1 Xây dựng tiêu chí chọn loài cây lá rộng bản địa có triển vọng cho trồng rừng ở Quảng Ninh 45
3.3.2 Lựa chọn loài cây, mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn cho tỉnh Quảng Ninh 49
Trang 83.3.3 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển rừng trồng cung cấp
gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh 54
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 57
1 KẾT LUẬN 57
2 KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng mô hình rừng trồng cây bản địa điều tra tại các huyện củatỉnh Quảng Ninh 25Bảng 3.1 Diện tích rừng trồng cây bản địa tại tỉnh Quảng Ninh 29Bảng 3.2 Loài cây và diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa lá rộng tại tỉnhQuảng Ninh 30Bảng 3.3 Mật độ và tỷ lệ sống của cây gỗ lá rộng bản địa trong các mô hìnhtrồng rừng gỗ lớn tại Quảng Ninh. 37Bảng 3.4 Sinh trưởng và năng suất của các mô hình rừng trồng cây lá rộngbản địa cung cấp gỗ lớn của tỉnh Quảng Ninh 39Bảng 3.5 Kết quả đánh giá tình hình sâu bệnh hại một số mô hình rừng trồngcây bản địa cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh 44Bảng 3.6: Tiêu chí đánh giá lựa chọn loài cây bản địa triển vọng cho trồngrừng gỗ lớn ở Quảng Ninh 45Bảng 3.7: Tổng hợp điểm đánh giá theo các chỉ tiêu cho các loài cây trồngcung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh 50
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Rừng Sồi phảng 10 tuổi trong mô hình vườn giống Hạ Long 33
Hình 3.2 Rừng Giổi xanh 10 tuổi trong mô hình vườn giống tại Hạ Long 33
Hình 3.3 Rừng trồng hỗn loài Mỡ + Trám trắng + Lim xanh 8 tuổi ở Hạ Long 35
Hình 3.4 Rừng trồng Sồi phảng 28 tuổi tại Cẩm Phả 42
Hình 3.5 Rừng Mỡ 7 tuổi tại Tiên Yên 42
Hình 3.6 Rừng trồng Trám trắng 17 tuổi tại Ba Chẽ 43
Hình 3.7 Rừng trồng Lát hoa 22 tuổi tại Hải Hà 43
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Ô tiêu chuẩnNhóm đất vàng đỏNhóm đất mùn vàng đỏ trên núiNhóm đất nâu tím
Nhóm đất nhân tácTiêu chuẩn Việt NamTổng sản phẩm bình quân đầu ngườiRehabilitation of Natural Forest in DegradedWatershed Area in the North of Vietnam
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp chế biến gỗ của nước ta đã có những tăng trưởngvượt bậc trong hơn 10 năm qua, với kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản tăngmạnh từ 3 tỷ USD (năm 2010) lên khoảng 13,2 tỷ USD năm 2020, tăng hơn400% Việt Nam cũng vươn lên xếp thứ 5 trên thế giới và thứ 2 Châu Á vềkinh ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản (Tổng cục Lâm nghiệp, 2020) [39].Tuy nhiên, bài toán gỗ nguyên liệu luôn là thách thức lớn cần phải được giảiquyết, đặc biệt là nhu cầu nguyên liệu gỗ lớn Năm 2020, Việt Nam xuất khẩuđược xấp xỉ 5,9 tỷ USD các sản phẩm đồ gỗ thì lượng gỗ tròn, gỗ xẻ phảinhập khẩu cũng lên tới hơn 1,4 tỷ USD, chiếm khoảng 23,7% (Hiệp hội gỗ vàlâm sản Việt Nam, 2021) [40] Tính tới hết năm 2020, diện tích rừng trồngsản xuất của nước ta đạt xấp xỉ 3,7 triệu ha, thì có tới 70% là rừng trồng tậptrung Keo, Bạch đàn, tương ứng với khoảng 2,6 triệu ha (Bộ NN&PTNT,
2019, 2021) [41], [19] Keo, Bạch đàn ở nước ta hiện nay chủ yếu được trồngvới chu kỳ ngắn 5-7 năm để sản xuất gỗ nhỏ, dăm, giấy Như vậy, để đạt đượcmục tiêu của ngành lâm nghiệp về kinh ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản củanước ta sẽ đạt 18-20 tỷ USD vào năm 2025 thì lượng gỗ lớn nguyên liệu phục
vụ cho chế biến sẽ thiếu hụt là rất lớn [15] Do đó, việc đa dạng hóa loài câytrồng rừng theo hướng ưu tiên phát triển các loài cây bản địa mọc nhanh, cungcấp gỗ lớn là cần thiết
Quảng Ninh là tỉnh có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh,quốc phòng với gần 70% diện tích tự nhiên là rừng và đất quy hoạch lâmnghiệp Tính tới hết năm 2020, diện tích rừng trồng toàn tỉnh là 247.838 ha,chiếm xấp xỉ 67% diện tích đất có rừng toàn tỉnh (Bộ NN&PTNT, 2021) [16].Tuy nhiên, công tác phát triển rừng trồng của tỉnh còn chưa thực sự bền vững,với diện tích rừng trồng tập trung Keo, Bạch đàn chiếm trên 70% diện tíchrừng trồng toàn tỉnh, chu kỳ kinh doanh ngắn từ 4-6 năm để kinh doanh gỗnhỏ, dăm, giấy Nguồn nguyên liệu gỗ lớn cho ngành chế biến gỗ của tỉnh cònthiếu Do đó, tại Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 28/11/2019 của Ban thường
Trang 13vụ tỉnh ủy Quảng Ninh đã xác định chiến lược phát triển lâm nghiệp bền vữngcủa Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 cần ưu tiên phát triểnrừng trồng gỗ lớn bằng các loài cây bản địa, có giá trị kinh tế cao [12] TỉnhQuảng Ninh cũng đã xây dựng chương trình hành động số 60/Ctr-UBND ngày06/01/2020 nhằm triển khai nghị quyết số 19-NQ/TU [25] Tuy nhiên, công táctriển khai thực tế còn nhiều khó khăn do chưa chọn được loài cây, mô hình vàbiện pháp kỹ thuật trồng rừng cung cấp gỗ lớn từ các loài cây bản địa mọcnhanh, có giá trị kinh tế cao và phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh.
Trong những năm qua, từ việc triển khai các chương trình, đề tài, dự ánhoặc do các tổ chức, cá nhân tự thực hiện, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng
đã xây dựng được một số mô hình rừng trồng các loài cây bản địa Tuy nhiên,cho tới nay vẫn chưa có các nghiên cứu nhằm đánh giá về quy mô diện tích,biện pháp kỹ thuật xây dựng cũng như triển vọng của các mô hình này Chính
vì vậy, đề tài “Đánh giá một số mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh” được thực hiện là cần thiết và
có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc đề xuất được loài cây, biện pháp kỹ thuật
để xây dựng các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn cótriển vọng cho tỉnh Quảng Ninh
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung:
Góp phần phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bảnđịa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh, từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ lớn để sảnxuất đồ mộc phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được hiện trạng (loài cây, mô hình, diện tích, biện pháp kỹthuật áp dụng) và xác định được những tồn tại, hạn chế trong phát triển rừng trồngcung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh
- Xác định được loài cây, mô hình và biện pháp kỹ thuật có triển vọngtrong trồng rừng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh QuảngNinh
Trang 14- Đề xuất được mô hình và giải pháp phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh.
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Đưa ra được dẫn liệu khoa học về triển vọng phát triển rừng trồng cungcấp gỗ lớn của các mô hình rừng trồng cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cấpquản lý và các chủ rừng trong việc lựa chọn loài cây, mô hình, biện pháp kỹthuật có triển vọng để phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài câybản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu chọn loài cây trồng rừng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn
Kinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới chothấy do rừng trồng thuần loài cây mọc nhanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm nênnhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừngtrồng hỗn loài bằng nhiều loài cây bản địa khác nhau nhằm kinh doanh rừngtheo hướng bền vững Các công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây lárộng bản địa trên thế giới đã quan tâm đến một số biện pháp kỹ thuật như việcchọn loài cây trồng, phương thức, phương pháp trồng và mối quan hệ giữaqua lại giữa các loài cây trong các mô hình rừng trồng hỗn loài
Các nghiên cứu liên quan đến chọn loài cây lá rộng bản địa đã đượcthực hiện từ khi loài người biết trồng rừng Bắt đầu từ những thí nghiệm thăm
dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cáchnghiêm ngặt theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn được loài thích hợpcho mỗi vùng sinh thái Tại nhiều nước đã có một số nghiên cứu dùng các môhình toán để tối ưu cơ cấu cây trồng cho từng vùng Ở các nước vùng ôn đới
số loài cây chính dùng trong trồng rừng thường rất ít, nên người ta đã tìm hiểumối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài (dẫn theoTrần Văn Con, 2005) [5]
1.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn
Nghiên cứu về rừng trồng cây lá rộng bản địa, đặc biệt là trồng hỗn loài đãđược các nước châu Âu tiến hành từ những năm đầu thế kỷ 19 Điển hình là công
trình nghiên cứu trồng hỗn loài Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu
hỗn loài Donsk của tác giả Tikhanop (1872) Trong mô hình này do đặc tính sinhvật học và mối quan hệ qua lại giữa các loài cây chưa được nghiên cứu kỹ, do đó
loài Ulmus campestris với đặc tính sinh trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã lấn át loài Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này năm 1884 tác
giả Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk song vẫn không thành công Một sốtác giả khác như Kharitonovis (1950); Grixenco (1951);
Trang 16Timofeev (1951); Encova (1960) và các cộng sự đã phân tích nguyên nhân
thất bại của kiểu Donsk và chỉ ra rằng các phitonxit của loài Ulmus campestris đã tác động xấu tới loài cây Quercus Nghiên cứu về ảnh hưởng
tương hỗ giữa các loài, các tác giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tốquan trọng khi lý giải cơ chế cạnh tranh sinh học của thực vật (MVKolexnitsenko, 1977) [11] Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa
Quercus và Fraxinus, tác giả JB Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài Ngoài
ra, khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng) hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng của Quercus tốt hơn [31].
Dựa vào mục tiêu kinh doanh và đặc điểm loài cây trồng để xác địnhphương thức trồng rừng cây lá rộng bản địa khác nhau Các loài cây lá rộngbản địa thường được kết hợp với nhau dựa trên tốc độ sinh trưởng và đặctính sinh thái của loài cây (Shugart, 1984; Shugart và cs., 2020; Subasinghe,2008; Weiskittel và cs., 2011) [35], [36], [37], [38] Trong lâm sinh học, cácloài thường được phân loại thành các nhóm loài dựa trên tốc độ sinh trưởngnhư sinh trưởng nhanh, sinh trưởng chậm và sinh trưởng trung bình hoặctheo các quan điểm sinh thái về đặc tính sinh thái của loài như loài ưa sáng
và loài chịu bóng Một trong những nguyên tắc cơ bản trong lựa chọn loàitrồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa đó là phải kết hợp những loài có tính
bổ sung cho nhau về tính chịu bóng, tốc độ sinh trưởng về chiều cao, cấu trúctán lá, kiểu lá và cấu trúc bộ rễ, độ sâu rễ (Kelty, 1992) [32] Do đó, rừngtrồng hỗn loài cây lá rộng bản địa thường bao gồm loài sống lâu năm và loài
có đời sống ngắn, loài sinh trưởng chậm và loài sinh trưởng nhanh hay loàichịu bóng và loài ưa sáng phân bổ ở các tầng tán khác nhau của rừng Nhữngdạng hỗn loài này sẽ giảm thiểu cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng [30]
Kết quả nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài cây lá rộng bản địa các tácgiả trên đều cho rằng việc bố trí các loài cây trong mô hình rừng trồng cây lárộng bản địa thường có ảnh hưởng tới sinh trưởng của chúng tùy theo số cáthể và cự ly trồng từng loài Kolexnitsenko (1977) [11] khi nghiên cứu về sự
Trang 17phối hợp giữa các loài cây gỗ trong trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa đã đúc kết được 5 nguyên tắc lựa chọn loài cây trồng, đó là:
• Nguyên tắc kinh nghiệm
• Nguyên tắc kiểu lâm hình học
• Nguyên tắc lý sinh
• Nguyên tắc sinh vật dinh dưỡng
• Nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ
Có thể nói đây là những nguyên tắc rất cơ bản và tương đối toàn diện
về các lĩnh vực của rừng trồng hỗn loài cây lá rộng bản địa Để xây dựngthành công các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cần phải dựa vào 5nguyên tắc trên Trong đó nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ là rất quan trọng
và phải cần có thời gian dài nghiên cứu Nhìn chung, các nguyên tắc này phảnánh được mối quan hệ bên trong và có tính chi phối tới sự tồn tại và sinhtrưởng của các loài Sự phân loại theo đặc điểm hoạt hóa của chúng như kíchthích, ức chế hoặc kìm hãm quá trình sống thông qua ảnh hưởng củaphitonxits là căn cứ để quyết định tỷ lệ tổ thành các loài cây trong lâm phầnhỗn loài Nghiên cứu về vấn đề này tác giả Kolexnitsenko đã đề nghị mật độloài cây trồng chính trong mô hình trồng rừng hỗn loài không nên ít hơn 50%,loài cây hoạt hoá không quá 30 - 40%, loài cây ức chế không quá 10 - 20%trong tổng các loài cây trong mô hình
Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khixây dựng các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa là rất cần thiết Nghiêncứu về lĩnh vực này điển hình có tác giả Matthew (1995) [33] Ông đã nghiêncứu tạo lập mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa giữa cây thân gỗ với cây
họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồngchính Như vậy, nghiên cứu này cho thấy sử dụng các loài cây họ đậu làm câyphù trợ cho các loài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rấtphù hợp Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiêncứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khixây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài Trên thế giới đến nay vẫn
Trang 18chưa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này Do hiểu biết vềyêu cầu sinh thái của các loài cây rừng mưa còn nghèo nàn nên các tác giảRod Keenan, David Lamb, Gary Sexton (1995) [34] khi xây dựng rừng trồnghỗn loài (giai đoạn 1945 -1995) đã gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí vàđiều chỉnh các mô hình rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng củachúng Vì vậy mô hình rừng trồng hỗn loài đã không được thành công nhưmong muốn.
Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừngtrồng cây lá rộng bản địa theo quá trình sinh trưởng các tác giả Ball, Wormald
và Russo (1994) [31] đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài câybản đại thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả chothấy sau khi được tác động các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mụcđích đã được tạo điều kiện thuận lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn
Đặc điểm nổi bật của rừng cây lá rộng bản địa là có kết cấu nhiều tầngtán Vì thế nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nước trênthế giới quan tâm Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loàicây lá rộng bản địa tác giả Bernar Dupuy (1995) [28] thấy rằng kết cấu tầngtán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợpquần của các loài cây trong lâm phần Điều này cho thấy để tạo được các môhình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không giandinh dưỡng thì cần phải dựa vào đặc tính sinh trưởng cũng như phải quan tânđến mối quan hệ qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng chophù hợp Đây là những cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công haythất bại của các mô hình rừng trồng hỗn loài
Dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạorừng hỗn loài nhiều tầng bằng nhiều phương thức khác nhau Tuỳ theo các đốitượng khác nhau là rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng 10-15 tuổi hay rừngKeo tai tượng 2-3 tuổi mà mở các băng chặt và chừa khác nhau Chiều rộngbăng chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng) Thời gian đưacác loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt cũng rất khácnhau, từ 1-7 năm sau khi mở băng chặt Các loài cây bản địa đưa vào trồng
Trang 19trong các băng chặt tương đối phong phú, từ 14-23 loài cây khác nhau với sốhàng từ 3 đến 16 hàng Kết quả cho thấy trong các loài cây bản địa được trồngtrong các băng có 3 loài cây có sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất
là S roxburrghii; S ovalis; S leprosula Sinh trưởng chiều cao của các loài
cây trồng trong băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m Khu trồng theo hàng cósinh trưởng chiều cao tốt nhất ở công thức trồng 1 hàng Keo xen 1 hàng câybản địa Dự án còn đưa ra kế hoạch điều chỉnh quá trình sinh trưởng của các
mô hình thí nghiệm theo 8 thời điểm từ 2 - 47 năm sau khi trồng [29] Nhưvậy, đây là một trong những công trình nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loàitrên thế giới tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật, từ việc chọn loàicây trồng đến nghiên cứu phương thức trồng, thời điểm trồng và sự điều chỉnh
mô hình theo quá trình sinh trưởng trong thời gian dài Do đó những mô hìnhthí nghiệm này hứa hẹn nhiều thành công trong tương lai
Ngoài các công trình đã được đề cập ở trên, một số công trình nghiêncứu khác như trồng rừng dưới tán, trồng theo băng, theo rạch dưới tán che nhẹ
ở các nước châu Phi và châu Á thực chất cũng nhằm tạo các lâm phần cây lárộng bản địa hỗn loài trên cơ sở các loài đã có sẵn trong tự nhiên Đối với nhữngkhu vực có tỷ lệ tổ thành các loài cây có giá trị kinh tế thấp thì có thể cải thiện chấtlượng của rừng bằng cách tăng loài cây và số lượng cá thể của các loài có giá trịkinh tế thông qua biện pháp gây trồng bổ sung Điển hình là
ở các nước Nêgiêria, Công Gô, Camơrun, Đây là những công trình đã đạtđược nhiều kết quả tốt do lợi dụng được thảm che tự nhiên, chúng đã hỗ trợ tốt chocây trồng chính trong giai đoạn đầu Các loài cây mục đích trồng bổ sung vẫn đượcsống trong lòng rừng ẩm Mặt khác khi cây trồng lớn lên thì việc mở dần tán checủa các loài cây tầng trên đã được điều chỉnh kịp thời Việc phát luỗng dây leo, câybụi cũng được thực hiện một cách đều đặn nên các loài cây mục đích trồng bổ sung
đã sinh trưởng phát triển tốt, tạo thành các lâm phần rừng trồng hỗn loài đạt hiệuquả cao Đây là những bài học quan trọng trong việc lựa chọn cây phù trợ cho đềtài nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài các loài cây lá rộng bảnđịa
Trang 201.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu chọn loài cây lá rộng bản địa để trồng rừng cung cấp gỗ lớn
Trong giai đoạn 1930-1985 có rất ít các công trình nghiên cứu về chọnloài cây trồng rừng, chủ yếu tập trung cho một số loài cây thuộc họ Dầu Từnăm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây bảnđịa được triển khai nhiều hơn kể cả về loài cây và diện tích trồng rừng Tronggiai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn để nghiên cứucho các vùng sinh thái trong cả nước Các loài cây lá rộng bản địa được lựachọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị kinh tếcao Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây Nguyên và Nam Bộ
là Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe, Xà cừ, Tếch, và được trồng chủ yếu tại các trạm
thực nghiệm Trảng Bom, Lang Lanh, Ekmat, Măng Linh, Tân Tạo Ở MiềnBắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là Lim xanh,
Lim xẹt, Giổi xanh, Re gừng, Mỡ, Bồ đề, Lát hoa, Ràng ràng mít, Lim xẹt,
Xoan đào, Vạng trứng, và được trồng chủ yếu ở Cầu Hai (Phú Thọ), HữuLũng (Lạng Sơn), Tân Lạc (Hoà Bình)
Tính tới năm 2007, cả nước đã trồng được 2.323.530 ha rừng với cácloài cây bản địa khác nhau trong đó riêng vùng Đông Bắc (bao gồm cả vùngTrung tâm cũ) có diện tích lớn nhất với 939.935 ha, chiếm 40,2%; tiếp đến làBắc Trung Bộ 446.122 ha chiếm 19,2% tổng diện tích rừng trồng cây bản địa.Nhóm các loài cây bản địa trồng thuần loài là 190.190 ha (8,5%) với 14 loàicây bản địa và thuộc nhóm loài cây bản địa trồng hỗn giao là 491.158 ha(18,03%) với khoảng 388 mô hình trồng hỗn giao cây bản địa + cây bản địahay cây bản địa lá rộng + cây phù trợ phần lớn là các loài keo (Cục Lâmnghiệp, 2008) [6] Trong số 14 loài cây bản địa trồng hỗn loài có 8 loài cây lárộng là Chò nâu, Dầu rái, Huỷnh, Lát Hoa, Lim xanh, Muồng đen, Re gừng,Sao đen và 2 loài cây lá kim là Sa mộc, Pơ mu đều là những loài triển vọng cókhả năng kinh doanh gỗ lớn Trong các mô hình trồng rừng hỗn giao còn cókhoảng 15 loài cây cũng có khả năng cung cấp gỗ lớn kể cả những cây đãđược bản địa hóa như Tếch, Xà cừ; Tuy nhiên phần lớn là những loài cây mọc
Trang 21chậm có diện tích trồng rất ít hoặc trồng phân tán như Chò chỉ, Lim xẹt, Gõ,Sấu,
Tổng kết các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay Bộ NN&PTNT (2005)[14] đã đưa ra được danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo
9 vùng sinh thái lâm nghiệp, bao gồm cả các loài cây bản địa và cây nhập nội,trong đó có nhiều loài cây có thể trồng hỗn loài với nhau Chương trình 327 và
661 đã đưa ra một bảng danh mục với hơn 60 loài cây phục vụ cho việc tạo lậpcác lâm phần rừng trồng trong cả nước Trần Quang Việt và cộng sự (1997) đãđánh giá tập đoàn cây trồng trong chương trình 327 trên các vùng sinh thái trong
cả nước và thống kê được 70 loài cây đã được sử dụng trồng rừng trong Chươngtrình 327 Theo tác giả Hoàng Hoè và Trần Xuân Thiệp (1999) thì ở nước ta cókhoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội đã và đang được sử dụng để trồng rừng(dẫn theo Trần Văn Con, 2005) [5] Như vậy, việc tạo lập các lâm phần rừngtrồng nói chung và các lâm phần rừng trồng hỗn loài nói riêng ở nước ta đã chọn
ra được nhiều loài cây trồng phù hợp cho các vùng sinh thái trong cả nước Đó là
cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng và nâng cao năng suất chất lượngrừng trồng ở nước ta
Có nhiều tiêu chí để lựa chọn loài cây trồng, bên cạnh việc đánh giá khảnăng thích nghi với điều kiện sinh thái thì cần gắn liền với mục đích kinhdoanh rừng Do đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho xuất bảncuốn tài liệu “Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương: Chọn loài cây ưu tiêncho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam” [1] Kết quả đã xác định được
23 loài cây lấy gỗ cho mục tiêu trồng rừng sản xuất; 26 loài ưu tiên cho trồngrừng phòng hộ đầu nguồn; 67 loài ưu tiên trồng rừng đặc dụng,… Bộ NN&PTNTcũng đã nhiều lần ban hành danh mục các loài cây trồng rừng cho các vùng sinhthái của Việt Nam Tại Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 banhành danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và danh mục các loàicây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp [20] Theo quyếtđịnh này, có 7 loài cây gỗ bản địa cho gỗ lớn là cây chủ lực ở các vùng sinh tháinhư Dầu rái, Sao đen, Mỡ, Sa mộc, Vối thuốc, Thông ba lá và Thông đuôi ngựa.Ngoài 7 loài chủ lực ra còn có 18 loài
Trang 22cây khác chủ yếu là những loài cây được xác định dùng để trồng rừng sảnxuất và rừng phòng hộ cả trồng tập trung và phân tán theo 9 vùng sinh tháikhác nhau Mới đây nhất, Thông tư số 30/2018/TT-BNNPTNT ngày16/11/2018 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hànhdanh mục 20 loài cây trồng lâm nghiệp chính, trong đó có 8 loài cây bản địa
thuộc nhóm các loài cây lấy gỗ: Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb), Mỡ (Mangletia conifera Dandy), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook), Sao đen (Hopea odorata Roxb), Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb), Thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon), Tràm lá dài (Melaleuca leucadendra L.), Tràm cừ (Melaleuca cajuputi Powell) [24].
Như vậy, có thể thấy rằng trong hơn 30 năm qua, công tác chọn loài câytrồng lâm nghiệp của nước ta khá được chú trọng, kết quả đã xác định đượctập đoàn cây trồng rừng cho các vùng kinh tế - sinh thái khác nhau Tuynhiên, theo đánh giá của Nguyễn Xuân Quát, Lê Minh Cường (2013) thì tậpđoàn cây đó gồm quá nhiều chủng loài, còn dàn trải, phân tán, thiếu tập trungchưa có ưa tiên cho một số loài cây mũi nhọn Phần lớn những cây được xácđịnh chủ yếu mới dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm và định tính còn thiếunhững nghiên cứu về chiều sâu, những nghiên cứu cơ sở làm căn cứ để xâydựng hướng dẫn kỹ thuật một cách hệ thống và khép kín (Nguyễn Xuân Quát
- Lê Minh Cường, 2013) [18]
1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng cây lá rộng bản địa
Với đặc tính của hầu hết các loài cây lá rộng bản địa là thường ưa bóngtrong giai đoạn còn nhỏ, do vậy việc tạo được lớp “áo che” cho các loài câybản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng là việc làm đầu tiên vàrất cần thiết khi muốn tạo lập lâm phần rừng trồng cây bản địa, đặc biệt là trênđối tượng đất trống, đồi trọc Nghiên cứu lựa chọn cây phù trợ để xây dựngrừng trồng hỗn loài đã được nhiều tác giả quan tâm Điển hình là một số côngtrình sau:
- Năm 1931 tác giả Maurand đã sử dụng lớp cây bụi thảm tươi trongrạch làm cây phù trợ để tạo rừng Sao đen, Dầu rái và Vên vên ở Trảng Bom Đồng
Nai Ban đầu tác giả đã áp dụng phương thức “trồng rừng dưới tán che
Trang 23dày và thấp” sau 2 năm phương thức này đã được cải tiến thành phương thức
"trồng dưới tàn che cao và nhẹ" Sau khi được cải tiến phương thức trồng,
các loài cây trồng chính vẫn sinh trưởng phát triển kém nên tác giả tiếp tụcdùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu là Muồng đen và Đậu tràm.Kết quả cho thấy rằng dùng cây che phủ ban đầu kết hợp cây che trung gian là
có hiệu quả (dẫn theo Nguyễn Bá Chất, 1976) [2] Như vậy, trong công trìnhnày tác giả đã sử dụng cả 2 loại thảm che tự nhiên và thảm che nhân tạo đểlàm cây phù trợ Tuy nhiên, sự kết hợp hai loại thảm che này không được tínhđến từ đầu khi thiết kế rừng trồng, do đó chưa đánh giá được tác dụng riêng rẽcủa từng loại thảm che
- Giai đoạn 1971 - 1976 tác giả Nguyễn Bá Chất và các cộng sự đã sửdụng cây phù trợ là các loài cây có khả năng cố định đạm như: Cốt khí, Ràng ràngmít, Lim xẹt để tiến hành thí nghiệm trồng rừng Bồ đề với Mỡ và Xoan đào ởTuyên Quang và Phú Thọ Kết quả sau 5 năm cho thấy năng suất rừng Bồ đề trồnghỗn loài có cây phù trợ tăng 15 - 20% so với rừng Bồ đề trồng thuần loài không cócây phù trợ Lượng thảm mục dưới rừng trồng hỗn loài cũng tăng lên 10 - 20%, đấtđai dưới rừng trồng hỗn loài được cải thiện hơn so với rừng trồng thuần loài [2]
- Năm 1985 các tác giả Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm đã sửdụng các loài cây Muồng đen, Keo lá tràm, Đậu triều và Keo dậu làm cây phù trợ
để xây dựng rừng trồng hỗn loài Sao đen, Dầu rái, Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe cung
cấp gỗ lớn ở lâm trường La Ngà (Đồng Nai) Các công thức được trồng theo hàng
và theo băng với kích thước các băng chặt, chừa là 10m và 20m Xen giữa 2 hàngcây trồng chính là các hàng cây phù trợ Sau một năm trồng cho thấy cây phù trợmới chỉ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của các loài cây trồng chính [7] Nhìn chung,các thí nghiệm trồng Dầu rái, Sao đen, Gõ đỏ trên các loại đất xám phù sa cổ thoáihoá ở Trảng Bom, đất ba gian nông màu đen ở Bàu Cạn, trên đất phiến thạch sét ở
Mã Đà (Đồng Nai), đất phù sa cổ sâu ẩm ở Dương Minh Châu cũng chỉ có nhậnxét tương tự
- Năm 1995 tác giả Phạm Đình Tam đã thử cây Keo lai làm cây phù trợ
để tạo rừng trồng Trám trắng và Lim xẹt ở Bình Thanh - Hoà Bình [21] Đến
Trang 24năm thứ 4 Keo lai sinh trưởng nhanh đã bắt đầu che bóng Lim xẹt và Trámtrắng Hiện tại mô hình đang có sự cạnh tranh mạnh, các loài Trám trắng vàLim xẹt đang bị Keo lai lấn át nên các loài cây trồng chính trong lâm phầnđều không sinh trưởng phát triển tốt.
- Giai đoạn 1994-1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừngtrồng các loài cây lá rộng bản địa ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Trên đốitượng đất trống, đồi trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm “áoche” phủ Khi rừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10loài cây lá rộng bản địa khác nhau Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phươngpháp trồng rừng ẩm dưới tàn che nhìn chung là thích hợp cho cả các loài trung sinhtrong giai đoạn 1- 2 năm đầu Biện pháp lột tán theo định kỳ thích hợp cho loàichịu bóng mọc chậm như Gội trắng, Giổi xanh, Re gừng nhưng lại cản trở cây ưasáng mọc nhanh như: Lát hoa, Sấu, Nhội và Muồng đỏ Kết quả cũng cho thấydùng cây che phủ ban đầu Keo lá tràm là thích hợp nhất [9] Tuy nhiên, do thínghiệm mới tiến hành trong giai đoạn ngắn nên chưa thể biết được 10 loài cây đó
sẽ tồn tại như thế nào trong các giai đoạn sau Việc sử dụng các loài cây ưa sángnhư Lát hoa và Muồng đỏ trồng duới tán Keo hiện tại đã cho thấy khó khăn trongviệc nuôi dưỡng mô hình này Mặt khác phương pháp trồng hỗn loài theo hàngdưới tán Keo tác giả chưa cho thấy rừng hỗn loài này sẽ có cấu trúc ra sao theothời gian Tuy vậy, có thể nói rằng đây là mô hình tương đối toàn diện về các biệnpháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài, từ việc tạo áo che, đến việc xác định thời điểmđưa các loài cây bản địa vào trồng dưới tán và các biện pháp lột dần tán che để cácloài cây trồng chính sinh trưởng, phát triển
- Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu, Chương trình 327, Dự án
661 cũng đã tạo ra nhiều mô hình rừng trồng các loài cây lá rộng bản địa, trong đóchủ yếu là tạo rừng phòng hộ cho các vùng xung yếu trong cả nước Trong các môhình này hầu hết đều sử dụng các loài cây phù trợ như Keo tai tượng, Keo Lá tràm,Keo lai, Muồng đen,… với tỷ lệ hỗn loài là 600 cây bản địa và 1.000 cây phù trợ.Tuy nhiên, việc điều chỉnh tán che của các loài cây phù trợ trong các mô hình rừngtrồng cây lá rộng bản địa đã không được điều
Trang 25chỉnh kịp thời nên các loài cây trồng chính chỉ còn lại với tỷ lệ thấp và thườngsinh trưởng, phát triển không tốt Đây cũng là tồn tại chung của hầu hết cáccông trình nghiên cứu xây dựng rừng trồng cây lá rộng bản địa có sử dụng câyphù trợ.
Nghiên cứu phương thức và phương pháp cây lá rộng bản địa cũng đãđược nhiều tác giả quan tâm Thực tế cho thấy các mô hình rừng trồng cây lárộng bản địa ở nước ta đến nay chủ yếu là áp dụng theo phương thức trồngrừng hỗn loài giữa cây cao với cây cao Điển hình là thí nghiệm trồng rừnghỗn loài theo hàng giữa Mỡ với các loài cây Lim xanh, Xà cừ, Tếch củaTrung tâm Lâm sinh Cầu Hai, Phú Thọ (1962) [8]; nghiên cứu phương thứctrồng rừng hỗn loài giữa cây trồng chính, rụng lá mùa khô là Tếch với cây bạnthường xanh là Muồng đen và cây phù trợ là Đậu tràm ở Tây Nguyên củaNguyễn Xuân Quát (1985-1990) [17]; nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa cây
lá kim (Thông đuôi ngựa) và cây lá rộng (Keo lá tràm và Bạch đàn trắng) ởNúi Luốt Xuân Mai, Hà Tây của Phùng Ngọc Lan (1986) [10]; nghiên cứuphương thức trồng hỗn loài Mỡ và Bồ đề của Ngô Quang Đê (1991); nghiêncứu thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây ưa sáng Bạch đàn trắng vàKeo lá tràm của Nguyễn Hữu Vĩnh và các cộng tác viên (1991-1993) [27],…Hầu hết các công trình nghiên cứu này đều áp dụng phương pháp trồng hỗnloài theo hàng hoặc theo băng Các kết quả nghiên cứu của các công trình nàycho thấy dù được xây dựng theo phương thức và phương pháp nào thì rừngtrồng hỗn loài đều cho năng suất, chất lượng cao hơn và cải thiện tốt hơn điềukiện đất đai so với rừng trồng thuần loài
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng thông qua tạo lập các lâmphần rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa đã được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu Nổi bật là công trình nghiên cứu phục hồi rừngvùng Sông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một sốloài cây khác của Nguyễn Bá Chất (1981-1985) [3] Tác giả đã trồng hỗn loàicây Lát hoa với các loài cây lá rộng bản địa như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôichanh, Lõi thọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô hìnhnày được theo dõi đến năm thứ 10 và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng
Trang 26hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗnloài sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng củacác loài cây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất tốt hơn.
Dự án RENFODA (Rehabilitation of Natural Forest in DegradedWatershed Area in the North of Vietnam) do JICA tài trợ đã nghiên cứu các biệnpháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở Cao Phong - Hoà Bình bằngcách tạo ra rừng trồng các loài cây lá rộng bản địa theo phương thức hỗn loàigiữa các loài cây cao ưa sáng và chịu bóng với nhau Các loài cây lá rộng bản địađược kết hợp để tạo rừng trồng hỗn loài là Giẻ đỏ, Lim xanh, Trám trắng và Sồiphảng Phương pháp trồng là theo rạch và theo đám Kết quả sau 4 năm thínghiệm (2004-2007) cho thấy các loài cây trồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sốngcủa các loài đều đạt trên 95% So với phương pháp trồng theo đám thì sinhtrưởng của các loài cây trồng theo rạch đều tốt hơn [26]
Nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài nhiều tầng, Trần Ngũ Phương(2000) [13] đã đề xuất mô hình thiết kế rừng hỗn loài nhiều tầng cho mục đíchphòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau như hỗnloài giữa cây cao và cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao Căn cứ trêncông trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu của rừng tự nhiên miền Bắc ViệtNam tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều phân thành nhiềutầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi Tính chất này
đã được xác nhận bởi kết quả điều tra rừng Việt Nam Dựa trên quy luật đótác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầunguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn loài nổi bật là môhình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản xuất thứ sinh tạmthời nhiều tầng
Xác định thời điểm hỗn loài cây lá rộng bản địa là một trong những nộidung quan trọng khi xây dựng rừng trồng hỗn loài, đặc biệt là khi muốn tạolập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây ưa sáng và cây chịu bóng, giữa loàicây sinh trưởng nhanh và loài cây sinh trưởng chậm Ở Việt Nam nghiên cứu
về việc xác định thời điểm hỗn loài cũng đã được một số tác giả quan tâm.Tuy nhiên, việc xác định thời điểm hỗn loài cho các loài cây mục đích chưa
Trang 27được quan tâm nhiều Trên thực tế các công trình nghiên cứu xác định thờiđiểm hỗn loài chủ yếu vẫn là giữa loài cây phù trợ và các loài cây trồng chính.Thông thường trong các mô hình trồng rừng hỗn loài trên đối tượng đất thoáihoá thì cây phù trợ được trồng trước một thời gian tuỳ theo đối tượng đất, sau
đó mới đưa các loài cây mục đích vào trồng
Hiện nay nhiều đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta đã vàđang được nghiên cứu để chuyển hoá thành rừng hỗn loài khác tuổi, có cấutrúc ổn định và bền vững hơn thông qua việc đưa thêm một số loài cây mụcđích vào trồng theo các thời điểm khác nhau Điển hình của kiểu làm này là
dự án trồng rừng Việt Đức ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh.Ban đầu rừng trồng của dự án ở các tỉnh này là rừng thuần loài Thông mã vĩhoặc Keo tai tượng, sau 7 năm dự án đã thí nghiệm chuyển hoá thành rừnghỗn loài Thông mã vĩ hoặc Keo tai tượng với một số loài cây lá rộng bản địakhác bằng cách chặt tỉa Thông mã vĩ và Keo tai tượng, mở thành các rạchrộng 3m sau đó đưa các loài cây lá rộng bản địa vào trồng xen giữa hai hàngThông mã vĩ và Keo tai tượng Như vậy, xét về thời điểm hỗn loài thì đây cóthể coi là một trong những thí nghiệm điển hình và có tính thực tiễn cao vìphần lớn diện tích rừng trồng của nước ta hiện nay đều là rừng trồng thuầnloài, một đối tượng cần được chuyển hoá thành rừng hỗn loài nhằm kinhdoanh rừng theo hướng ổn định, bền vững hơn
Dự án trồng rừng các loài cây gỗ lá rộng bản địa giá trị cao để cung cấp
gỗ và tăng cường các dịch vụ cộng đồng ở Việt Nam và Australia 2006) đã thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây nhập nội và cây bảnđịa với các thời điểm hỗn loài khác nhau tại 3 địa điểm: i) Tại Đoan Hùng -Phú Thọ: trồng cùng thời điểm các loài Bạch đàn urophylla, Giổi xanh, Láthoa và Trám trắng; ii) Tại vườn quốc gia Tam Đảo: trồng hỗn loài Sấu, Xà cừ,Lim xanh và Keo lai vào cùng một thời điểm; iii) Tại đèo Hải Vân - Huế tạorừng hỗn loài giữa Keo tai tượng với Sao đen, Dầu rái và Chò chỉ, trong đóKeo tai tượng được trồng trước 7 năm sau đó được chặt theo băng để đưa cácloài cây bản địa vào trồng dưới tán với mật độ 250 cây/ha Kết quả sau 3 nămcho thấy các loài cây trồng đều có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt và có nhiều
Trang 28(2002-triển vọng Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu Mặt khác khi thiết kếxây dựng mô hình, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây chưa đượcchú ý Vì vậy, với các mô hình này cần phải theo dõi để có biện pháp tác độngkịp thời, điều chỉnh sự cạnh tranh giữa các loài, đặc biệt là các loài cây mọcnhanh như Bạch đàn và Keo lai, tạo điều kiện để mô hình sinh trưởng, pháttriển bình thường.
Cũng trên nền tảng là rừng Thông đuôi ngựa trồng thuần loài tại NúiLuốt - Xuân Mai, Trường Đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu tạo rừng hỗnloài Thông đuôi ngựa với một số loài cây lá rộng bản địa Cách tạo rừng trồnghỗn loài ở đây là thông qua việc đưa thêm các loài cây lá rộng bản địa vàotrồng dưới tán rừng Thông đuôi ngựa theo các thời điểm khác nhau RừngThông đuôi ngựa sau khi trồng được 6 năm thì bắt đầu đưa các loài cây lárộng bản địa vào trồng dưới tán Đến thời điểm hiện nay bước đầu đã tạo lậpđược rừng trồng hỗn loài khép tán Việc mở dần tán che của Thông để tạokhông gian dinh dưỡng phù hợp cho các loài sinh trưởng phát triển ổn định đã
và đang được tiến hành nghiên cứu
Trong giai đoạn 2000 - 2004, Nguyễn Bá Chất, Hoàng Văn Thắng vàCộng sự (2005) [4] đã nghiên cứu sử dụng các loài cây bản địa lá rộng như Regừng, Vạng trứng, Sồi phảng, Dẻ đỏ và Giổi xanh, Trám trắng, Lim xanhnhằm tạo lập rừng trồng cung cấp gỗ lớn trên đất rừng đã bị thoái hóa ở cáctỉnh phía Bắc Kết quả cho thấy, sau 3-4 năm trồng các loài cây lá rộng bảnđịa đều đạt tỷ lệ sống rất cao, dao động từ 80 - 93% Sồi phảng, Vạng trứngsinh trưởng nhanh nhất, sau 4 năm trồng đạt sinh trưởng chiều cao vút ngọnlần lượt 1,33 và 1,5 m/năm tại Cầu Hai, Phú Thọ; Re gừng sinh trưởng chậmhơn, trung bình đạt 0,9 m/năm về chiều cao sau 4 năm trồng Các mô hìnhtrồng hỗn loài này được tiếp tục đánh giá 2 năm sau đó, ở tuổi 6 mô hình hỗnloài giữa các loài cây bản địa với cây phù trợ là Keo tai tượng cho triển vọngnhất Trong các loài cây lá rộng bản địa trồng ở Ngọc Lặc và Cầu Hai, Sồiphảng là loài cây có tăng trưởng cao nhất đạt 1,8 cm/năm về đường kính và1,4 m/năm về chiều cao Loài có tốc độ sinh trưởng chậm nhất là Trám trắngcũng đạt lượng tăng trưởng là 0,7 cm/năm về đường kính và 0,8 m/năm về
Trang 29chiều cao Biện pháp tỉa thưa 75% cây phù trợ (Keo tai tượng) ở tuổi 6 là phùhợp nhất đối với sinh trưởng của các loài Sồi phảng, Trám trắng, Re gừng,Vạng trứng (Hoàng Văn Thắng, 2007) [22] Sau 14 năm trồng, đánh giá sinhtrưởng mô hình trồng tại Cầu Hai - Phú Thọ cho thấy Sồi phảng là loài câysinh trưởng có triển vọng nhất với tỷ lệ sống đạt 90,2%, D1.3 trung bình đạt23,2cm; chiều cao Hvn trung bình đạt 14,6m, trữ lượng đạt 69,53m3/ha; Trámtrắng tỏ ra kém thích nghi nhất với tỷ lệ sống chỉ đạt 50,3% trong công thứctrồng Keo tai tượng phù trợ, sinh trưởng D1.3 trung bình chỉ đạt 9,3cm vàchiều cao vút ngọn trung bình đạt 7,83m (Nguyễn Thị Thiêm, 2015) [23] Đây
là một trong số ít mô hình trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây bản địa đượctheo dõi đánh giá trong một thời gian dài tới 14 năm, kết quả góp phần bổsung cơ sở cho việc trồng rừng hỗn loài ở Việt Nam
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, trong giai đoạn những năm gầnđây (2015 đến 2021) Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam cũng đã nghiêncứu chọn giống và kỹ thuật trồng rừng cây lá rộng bản địa cho một số loài cógiá trị như Xoan đào, Lát hoa, Dẻ đỏ, Bời lời vàng, Thanh thất, Chiêu liêu,
ở các vùng sinh thái khác nhau Kết quả đã xây dựng được các quy trình nhângiống và kỹ thuật trồng thâm canh cho các loài cây này, làm cơ sở để phát triển cácloài cây bản địa có giá trị ở nước ta
* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Thuận lợi
- Quảng Ninh là tỉnh có cửa ngõ thông thương với Trung Quốc qua cửakhẩu Quốc tế Móng Cái và thuộc tuyến hành lang kinh tế Hà Nội - Hải Phòng
- Quảng Ninh, Quảng Ninh có rất nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
-xã hội nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng, có điều kiện xuất khẩu các mặthàng nông - lâm sản
- Sự đa dạng về tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên khoángsản, tài nguyên sinh học sẽ tạo điều kiện cho Quảng Ninh phát triển đa dạng cácloài cây trồng lâm nghiệp và lâm sản ngoài gỗ
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh tạo thuận lợi cho việc phát triểncác chuỗi sản phẩm lâm sản và hạ giá thành sản phẩm
Trang 30- Quỹ đất để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao, trong đódiện tích rừng trồng chiếm gần 70% diện tích rừng của tỉnh, đây là tiềm năng đểphát triển rừng trồng, góp phần phát triển ngành lâm nghiệp của tỉnh Quảng Ninh.
- Quảng Ninh có địa hình rất phức tạp, bị phân cắt mạnh, các khu rừngđặc dụng nằm độc lập và cách xa nhau gây khó khăn cho công tác quản lý đa dạngsinh học, bên cạnh đó VQG Bái Tử Long với diện tích trên 15.000 ha và nằm trênnhiều hòn đảo với lực lượng quản lý mỏng, đi lại hạn chế nên việc quản lý tổng thể
về quản lý và phát triển rừng của tỉnh còn gặp khó khăn
- Diễn biến thời tiết bất thường trong những năm gần đây gây tác độngxấu đến mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững của Tỉnh Ngoài ra, lượng mưanhiều song song với tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn tới lụt lội cục bộ, sạt lở đất diễn
ra thương xuyên
- Điều kiện kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình xây dựng và phát triển lâm nghiệp Hệ thống cơ sở hạtầng ngày càng hoàn thiện như giao thông, điện, thông tin liên lạc đã tạo điều kiệntiếp cận địa bàn sản xuất thuận lợi, giảm giá thành trong sản xuất và vận chuyểnhàng hoá
- Hoạt động sản xuất lâm nghiệp đã từng bước chuyển biến rõ rệt từnhiệm vụ sản xuất và xuất khẩu dăm gỗ sang chế biến đồ gỗ và sản phẩm lâm sảnxuất khẩu Hoạt động bảo vệ, phát triển rừng và đặc biệt là rừng trồng đã thực sựđược chú trọng, tác động tiêu cực của du lịch sinh thái đến tài nguyên rừng đãgiảm rõ rệt Lực lượng sản xuất được xã hội hóa, thu hút nhiều thành phần kinh tếtham gia, thay dần cơ chế tập trung vào các tổ chức kinh tế của Nhà nước
- Sản xuất nông lâm nghiệp đã chuyển biến theo hướng phát triển toàn diện,
đa dạng hoá sản phẩm đang dần hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung,đặc biệt là các vùng tập trung trồng rừng nguyên liệu Phát triển sản xuất nông lâmnghiệp đã góp phần khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, tiền vốn của các thànhphần kinh tế nông thôn, làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng
Trang 31sản phẩm xã hội.
- Sản xuất phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước các tổ chức kinh tế xã hội đầu tư vào lĩnh vựcsản xuất và chế biến nông - lâm sản Đồng thời tăng khả năng tích luỹ vốn và huyđộng vốn nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư cho sản xuất tạo đà thuận lợi cho kinh tếnông thôn phát triển trong giai đoạn tới
- Lực lượng lao động nông nghiệp có khả năng tiếp thu, ứng dụng kỹthuật mới vào sản xuất Một số cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nôngnghiệp được phát huy khá tốt tạo ra những động lực trong sản xuất Tỉnh uỷ,UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợphát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong lĩnhvực này
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, còn có không ít tác động tiêu cực đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh
- Điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, thu hút ngày càng nhiềulao động và dân cư đến sinh sống, kéo theo nhu cầu đất ở, đất sản xuất, gỗ làm nhà
và tiêu dùng ngày càng tăng, đã tạo áp lực lên tài nguyên rừng
- Việc phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng các công trình giao thông,đường điện, công trình thủy điện, thủy lợi, phát triển các khu đô thị và phát triểncác loài cây nông nghiệp đã chuyển đổi mục đích sử dụng một diện tích đất lâmnghiệp khá lớn, làm giảm diện tích rừng và đất rừng của tỉnh
Trang 32- Ở nước ta, việc nghiên cứu sử dụng các loài cây lá rộng bản địa đểtrồng rừng cung cấp gỗ lớn được quan tâm từ rất sớm thông qua các chương trình,
dự án, đề tài nghiên cứu khoa học Đặc biệt là các chương trình, dự án lớn như
327, 661, Thông qua việc triển khai các chương trình này, nhiều mô hình trồngrừng thuần loài, hỗn loài bằng các loài cây bản địa đã được xây dựng tại các địaphương trong cả nước Tuy nhiên, mức độ thành công cũng rất khác nhau và còn ítcác nghiên cứu đánh giá
Quảng Ninh là địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển lâmnghiệp Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh cũng đã xây dựng được một
số mô hình rừng trồng bằng các loài cây bản địa lá rộng từ các chương trình,
đề tài, dự án khoa học công nghệ hoặc tự phát của các tổ chức, cá nhân Pháttriển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa mọc nhanh, có giátrị kinh tế cao là một trong những ưu tiên của tỉnh nhằm phát triển lâm nghiệpbền vững Điều này đã được thể hiện tại Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày28/11/2019 của Ban thường vụ tỉnh ủy Quảng Ninh đã xác định chiến lượcphát triển lâm nghiệp bền vững của Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đếnnăm 2030 và Chương trình hành động số 60/Ctr-UBND ngày 06/01/2020nhằm triển khai nghị quyết số 19-NQ/TU
Xuất phát từ những vấn đề trên, luận văn được đặt ra là cần thiết và có
ý nghĩa, nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lựa chọn đượcloài cây, mô hình, biện pháp kỹ thuật có triển vọng để phát triển rừng trồng cungcấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng mọc nhanh trên địa bàn tỉnh QuảngNinh giai đoạn sắp tới
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm, thời gian và điều kiện nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các mô hình rừng trồng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn của tỉnh Quảng Ninh
2.1.2 Phạm vi và địa điểm nghiên cứu:
+ Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung điều tra đánh giá về tỷ lệ sống, tình hình sinhtrưởng, năng suất, chất lượng các mô hình rừng trồng cây bản địa cung cấp gỗlớn tại tỉnh Quảng Ninh Đồng thời thu thập các thông tin về biện pháp kỹthuật xây dựng mô hình, phỏng vấn chủ rừng và các nhà quản lý về nhữngkhó khăn, tồn tại, hạn chế để phát triển rừng trồng gỗ lớn bằng cây bản địa lárộng của địa phương từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy pháttriển rừng trồng gỗ lớn bằng cây bản địa lá rộng cho tỉnh Quảng Ninh
+ Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại 10 huyện của tỉnh Quảng Ninh, bao gồm:
- Khu vực phía Đông: Các huyện Hải Hà, Tiên Yên, Bình Liêu, Móng Cái, Ba Chẽ;
- Khu vực huyện đảo: Huyện Vân Đồn và xã Cái Chiên (huyện Hải Hà);
2.1.3 Thời gian và điều kiện nghiên cứu:
+ Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng
7/2020 đến tháng 9/2021
+ Điều kiện nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp giữa điều tra, khảo sát,
thu thập số liệu ngoài hiện trường và xử lý, phân tích kết quả trong phòng
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài, diện tích rừng trồng và biện pháp kỹ
thuật trồng rừng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh.
Trang 34+ Thành phần loài cây và diện tích rừng trồng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh
+ Biện pháp kỹ thuật trồng rừng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tạitỉnh Quảng Ninh
- Điều tra, đánh giá sinh trưởng, năng suất và tình hình sâu bệnh hại các mô hình rừng trồng cây bản địa cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh.
+ Điều tra đánh giá tỷ lệ sống các mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh,
+ Đánh giá tình hình sinh trưởng, năng suất các mô hình trồng cây bản địa cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh;
+ Đánh giá tình hình sâu bệnh hại các mô hình rừng trồng cây bản địa cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất loài cây và một số giải pháp kỹ thuật phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh.
+ Xây dựng tiêu chí chọn loài cây lá rộng bản địa có triển vọng cho trồng rừng ở Quảng Ninh
+ Lựa chọn loài cây, mô hình rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp
gỗ lớn cho tỉnh Quảng Ninh;
+ Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn bằng các loài cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài dự kiến kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
- Số liệu, tài liệu, báo cáo về hiện trạng tài nguyên rừng, đặc biệt làrừng trồng của tỉnh Quảng Ninh, bao gồm loài cây, diện tích trồng, biện pháp
kỹ thuật áp dụng,…
- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng của tỉnh Quảng Ninh
- Số liệu, báo cáo của các đề tài, dự án, chương trình trồng rừng bằng cây bản địa lá rộng tại tỉnh Quảng Ninh
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trường
Sử dụng kết hợp giữa phương pháp kế thừa chọn lọc các tài liệu vớiphương pháp PRA để phỏng vấn các đối tượng có liên quan tới công tác quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Sở Nông nghiệp
Trang 35& PTNT, Chi cục Kiểm lâm để có thông tin chung về rừng trồng ở Quảng Ninh.Trên cơ sở đó, lựa chọn 10 huyện thuộc 3 khu vực của tỉnh để điều tra hiện trạng rừngtrồng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn, bao gồm: Khu vực phía Đông gồm cáchuyện: Hải Hà, Tiên Yên, Bình Liêu, Móng Cái, Ba Chẽ; Khu vực phía Tây gồm cáchuyện Đông Triều, Uông Bí, Cẩm Phả, Hạ Long và Khu vực huyện đảo gồm cáchuyện Vân Đồn và xã Cái Chiên (huyện Hải Hà).
Tại mỗi huyện nêu trên, đề tài tiến hành phỏng vấn lãnh đạo, cán bộ kỹthuật của các cơ quan, đơn vị như: Hạt kiểm lâm, Phòng nông nghiệp, Công tylâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng để có thông tin vềrừng trồng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn trên địa bàn huyện Thông tinđược thu thập thông qua mẫu phiếu phỏng vấn gồm các câu hỏi bán địnhhướng nhằm thu thập các thông tin sau: Loài cây và diện tích rừng trồng câybản địa tại địa phương; nguồn vốn đầu tư; nguồn giống trồng rừng, tiêu chuẩncây con, mật độ trồng, biện pháp làm đất, bón phân, kỹ thuật chăm sóc, nuôidưỡng, tình hình sâu bệnh hại và năng suất Tổng số cán bộ quản lý các cấpphỏng vấn là 27 người/27 phiếu
Trên cơ sở các thông tin thu thập được, đề tài sẽ lựa chọn các mô hìnhrừng trồng cây bản địa cung cấp gỗ lớn điển hình của từng địa phương để điềutra thu thập thông tin tại hiện trường
- Tiêu chí lựa chọn mô hình rừng trồng cây bản địa lá rộng như sau:
* Tập trung đánh giá các rừng trồng cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn(có thể là rừng trồng cây lá rộng bản địa đa tác dụng nhưng phải đảm bảo được tiêuchí cung cấp gỗ lớn)
* Do các rừng trồng cây lá rộng bản địa ở các huyện của tỉnh QuảngNinh không nhiều nên ưu tiên điều tra thu thập tất cả các mô hình rừng trồng cây lárộng bản địa để đánh giá Tuy nhiên, trong trường hợp nếu một loài cây lá rộngbản địa nào đó có nhiều cấp tuổi thì ưu tiên lựa chọn các mô hình rừng trồng cây lárộng bản địa có tuổi lớn để điều tra và chỉ chọn một số rừng trồng cây lá rộng bảnđịa tuổi nhỏ để đánh giá thêm ở giai đoạn còn nhỏ Các rừng trồng cây lá rộng bảnđịa cũng được chọn để điều tra đại diện cho các điều kiện lập địa và các biện pháp
kỹ thuật trồng rừng khác nhau
Trang 36- Về số lượng ô tiêu chuẩn để điều tra đánh giá mô hình rừng trồng câybản địa: Điều tra, đánh giá 35 mô hình rừng trồng cây bản địa tại các huyện điều tra.Chi tiết số mô hình điều tra tại từng huyện được thống kê tại Bảng 2.1.
Bảng 2.1 Số lượng mô hình rừng trồng cây bản địa điều tra tại các huyện
của tỉnh Quảng Ninh
Đánh giá tình hình sâu bệnh hại các loài cây trồng trong các mô hìnhđược đánh giá theo phương pháp sau:
Trang 37Tiến hành phân cấp cây bị sâu, bệnh cho tất cả các cây theo 5 cấp (nếu có)
theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 8928 :2013), trong đó cấp 0 là cây khỏe, cấp 1
cây bị sâu bệnh nhẹ, cấp 2 cây bị sâu bệnh trung bình, cấp 3 cây bị sâu bệnh
nặng, cấp 4 cây bị sâu bệnh rất nặng Tiêu chí phân chia mỗi cấp như sau:
Cấp 0: Cây khoẻ, tán lá phát triển bình thường;
Cấp 1: tỷ lệ tán lá bị sâu, bệnh ≤ 25% hoặc tỷ lệ cành bị sâu, bệnh ≤ 10%;
Ứng dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học trong nông lâm
nghiệp với sự trợ giúp phần mềm Excel và SPSS để xử lý số liệu
- Chất lượng cây được xác định theo công thức:
N
Trong đó: N% là tỷ lệ % cây theo cấp chất lượng;
n là số cây theo cấp chất lượng;
N là tổng số cây điều tra ;
- Tỷ lệ sống được xác định theo công thức
N
Trong đó: TLS% là tỷ lệ sống % của loài
n là số cây sống
Trang 38- Ta là lượng biến đổi được của nhân tố điều tra T ở tuổi a;
- Hệ số biến động được xác định theo công thức :
S00 =
Sx
X
Trong đó: S% là hệ số biến động của nhân tố điều tra
Sx là sai tiêu chuẩn của nhân tố điều tra
X là trung bình mẫu của nhân tố điều tra
- Trữ lượng rừng được xác định theo công thức:
M (m3/ha) = G*H*f*NTrong đó:
H: Chiều cao trung bình của lâm phần (m)
f: Hệ số độ thon của lâm phần (rừng trồng f lấy giá trị 0,5)G: Tiết diện ngang trung bình của lâm phần
- Tỷ lệ cây bị sâu bệnh trong ô tiêu chuẩn được tính theo công thức sau:
Potc = n x100
N
Trong đó:
Potc là tỷ lệ cây bị sâu bệnh trên ô tiêu chuẩn;
n là số cây bị sâu bệnh trong ô tiêu chuẩn; N là tổng số
cây điều tra trong ô tiêu chuẩn;
Pkv là tỷ lệ cây bị sâu bệnh trung bình cho khu vực điều tra;
Potci là tỷ lệ bị bệnh bình quân trong ô tiêu chuẩn thứ i;
N là tổng số ô tiêu chuẩn;
Cấp bệnh bình quân của một ô tiêu chuẩn được tính theo phương phápbình quân gia quyền, sau đó tính bình quân cho toàn bộ khu vực điều tra vớicác công thức sau:
Trang 39Rotc cấp sâu bệnh bình quân trong ô tiêu chuẩn;
nilà số cây bệnh ứng vớicấp sâu bệnh i;
vi là chỉ số của cấp bệnh i; N là tổng số cây điều tra;
Rkv cấp sâu bệnh bình quân của khu vực điều tra;
Rotci là cấp sâu bệnh bình quân ở ô tiêu chuẩn thứ i;
N là tổng số ô tiêu chuẩn điều tra;
Mức độ bị sâu bệnh dựa trên cấp bệnh bình quân:
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả điều tra thành phần loài, diện tích rừng trồng và biện pháp kỹ thuật trồng rừng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh
3.1.1 Kết quả điều tra về thành phần loài cây và diện tích rừng trồng cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Quảng Ninh
Kết quả điều tra về diện tích rừng trồng cây bản địa tại tỉnh Quảng Ninhđược thể hiện tại Bảng 3.1
Bảng 3.1 Diện tích rừng trồng cây bản địa tại tỉnh Quảng Ninh
(tới 12/2020) Tổng DT Diện tích rừng trồng cây bản địa
(Nguồn: Diễn biến rừng tỉnh Quảng Ninh, 2019 và số liệu điều tra bổ sung
ngoài thực địa năm 2020)
Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy:
Diện tích rừng trồng cây bản địa của tỉnh Quảng Ninh là khá lớn, lên tới50.139,4 ha, chiếm 20,2% tổng diện tích rừng trồng trồng toàn tỉnh Cáchuyện chiếm tỷ trọng lớn về diện tích có thể kể tới như: Bình Liêu (12.806,6ha), Ba Chẽ (7.819,5 ha), Móng Cái (5.980,1 ha), Tiên Yên (5.726,4 ha), HạLong (4.104 ha), Đầm Hà (3.637,2 ha), Đông Triều (3.411,4 ha),… Diện tích