Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Chănnuôi Thú y cùng giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi d
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 33 3.1 Đối tượng, phạm vi thực hiện
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Nội dung thực hiện
- Điều tra tình hình chăn nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh trong 2 năm (2019- 11/2020).
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại.
- Áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại.
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Bùi Huy Hạnh trong 2 năm
- Cơ cấu đàn lợn nái tại trại trong 2 năm.
- Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trang trại.
- Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái tại trại.
- Biện pháp vệ sinh phòng bệnh.
- Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái tại trại.
- Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái tại trại.
- Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại.
3.4.2 Phương pháp thực hiện Để đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trại Bùi Huy Hạnh em tiến hành thu thập thông tin thông qua sổ sách của trại kết hợp với theo dõi trực tiếp về tình hình thực tế trên đàn lợn nái của trại.
Thực hiện theo quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc của trại.
Thực hiện theo quy trình vệ sinh phòng bệnh và phác đồ điều trị bệnh của trại.
* Khẩu phần ăn cho lợn nái
- Khẩu phần ăn cho nái chửa
Lợn nái chửa được nuôi ở chuồng lợn nái chửa, cho ăn thức ăn 566F, 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng lứa đẻ.
Bảng 3.1 Khẩu phần ăn của lợn nái chửa
Thông tin từ sổ sách của trại cung cấp cho biết chế độ ăn cho nái chửa được phân theo từng giai đoạn thai kỳ: từ tuần 1 đến tuần 12 ăn thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2–2,5 kg/con/ngày, ăn một lần trong ngày; từ tuần 13 đến tuần 14 ăn thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,5–3,5 kg/con/ngày, ăn một lần trong ngày; từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn tương ứng.
2 - 3,5 kg/ con/ ngày, cho ăn một lần trong ngày.
Tuỳ thể trạng của lợn nái, ta điều chỉnh khẩu phần thức ăn cho hợp lý Đối với lợn nái hậu bị, lượng thức ăn sẽ ít hơn so với nái dạ, và nái gầy cần được bổ sung lượng thức ăn nhiều hơn để bảo đảm sức khỏe và hiệu quả sinh sản.
- Khẩu phần ăn cho nái đẻ (nái nuôi con)
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng nái đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 -
Trong vòng 10 ngày trước khi chuyển lợn lên chuồng nái đẻ, chuồng phải được dọn dẹp sạch sẽ và vệ sinh sát trùng; lợn chuyển lên chuồng phải được tắm rửa, có thẻ nái kẹp ở bảng đầu mỗi ô chuồng và được ghi đầy đủ thông tin lên bảng; thức ăn cho lợn chờ đẻ là 567SF với tiêu chuẩn 2,5-3 kg/con/ngày.
Trước ngày đẻ 3 ngày cho ăn với tiêu chuẩn 2 - 2,5 kg/ con/ ngày
Trước ngày đẻ 2 ngày cho ăn với tiêu chuẩn 1,5 - 2 kg/ con/ ngày
Trước ngày đẻ 1 ngày cho ăn với tiêu chuẩn 1,5 kg/ con/ ngày
Ngày đẻ cho ăn 1,5 kg/ con/ ngày
Sau ngày đẻ tiêu chuẩn thức ăn của lợn nái tăng lên 1kg/ con / ngày
Để xây dựng chế độ ăn cho lợn mẹ từ sau 6 ngày đẻ đến cai sữa, lượng thức ăn hàng ngày được tính theo công thức: Lượng thức ăn = (1/100) × P + 0,4 × số con, trong đó P là trọng lượng hiện tại của lợn mẹ và số con là số lợn con đang nuôi Việc áp dụng công thức này giúp cân đối dinh dưỡng giữa mẹ và đàn con, hỗ trợ tăng trưởng đồng đều và tối ưu chi phí thức ăn.
Bảng 3.2 Khẩu phần ăn của lợn nái đẻ
Cai sữa sạch sẽ, cho lợn nái ăn đúng bữa và đủ lượng thức ăn theo quy định.
+ Lợn nái chửa kỳ cuối cho ăn 2 bữa/ ngày: sáng 7h và chiều 16h
+ Nái đẻ và nuôi con được cho ăn 3 bữa/ ngày: sáng 7h, chiều 16h và đêm 21h
+ Cho heo ăn theo khẩu phần ăn trên bảng cám đã được chính sửa liên tục theo ngày.
Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái thay đổi theo từng thời kỳ: trước đẻ 3 ngày, lượng thức ăn sẽ giảm dần khoảng 0,5 kg/con/ngày; sau đẻ, lượng thức ăn sẽ tăng dần từ 1–1,5 kg/con/ngày, tùy thuộc vào giai đoạn mang thai (nếu còn mang thai), thể trạng và sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn.
* Lịch sát trùng tại trang trại
Hiện nay, an toàn sinh học trong chăn nuôi là biện pháp kỹ thuật và quản lý được áp dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân gây bệnh có khả năng gây hại đến con người, gia súc và môi trường nuôi Trong những năm gần đây và hiện tại, tình hình dịch bệnh trên đàn lợn ở nước ta diễn biến rất phức tạp với các bệnh như lở mồm long móng, tai xanh, và đặc biệt là dịch tả heo Châu Phi (ASF) đang lây lan nhanh chóng ASF chưa có vắc xin phòng ngừa, nên tình hình trở nên vô cùng phức tạp và nguy hiểm, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các biện pháp an toàn sinh học và quản lý chăn nuôi để bảo đảm sức khỏe đàn lợn và an toàn cho người tiêu dùng.
Việc sát trùng và phòng chống bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn nguồn dịch bệnh lây lan trên đàn lợn nái Bên cạnh đó, duy trì môi trường chuồng nuôi sạch sẽ giúp giảm nguy cơ gây bệnh cho lợn con và tạo điều kiện cho đàn lợn phát triển khỏe mạnh.
Lịch sát trùng hàng ngày được in và dán ở từng chuồng để mọi người tiện theo dõi Khi có sự thay đổi, kỹ sư phổ biến ngay cho toàn thể công nhân và sinh viên để điều chỉnh kịp thời Mọi người được yêu cầu nghiêm túc chấp hành và làm đúng, vì trang trại luôn xác định tình hình hiện tại là sống chung với dịch Vì vậy công tác vệ sinh và sát trùng luôn được trại quan tâm hàng đầu và có lịch thực hiện công việc cụ thể trong tuần.
Lịch sát trùng của được trình bày tại bảng 4.6.
Bảng 3.3 Lịch sát trùng trại lợn nái
Thứ 7 được tiêm vào thứ 4 trong tuần.
Lợn hậu bị nhập trại khoảng 5,5 tháng tuổi sẽ được tiêm vắc xin phòng bệnh theo lịch sau: sau 1 tuần ổn định trại tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh tai xanh; sau 2 tuần tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh khô thai; sau 3 tuần tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả và 4 tuần sau nhập trại sẽ tiêm vắc xin phòng bệnh lở mồm long móng và giả dại Đối với lợn nái sinh sản, sau 10 tuần mang thai tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả, và sau 12 tuần mang thai tiêm vắc xin lở mồm long móng Đối với vắc xin giả dại trại, tiến hành tiêm tổng đàn 4 tháng một lần (tháng 4, 8, 12).
Bảng 3.4 Lịch tiêm phòng vắc xin tại trại
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:
Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) - Tỷ lệ khỏi:
Tỷ lệ khỏi (%) Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bùi Huy Hạnh trong 2 năm (2019- 11/2020)
Tình hình chăn nuôi của tại trang trại qua 2 năm từ 2019 đến hết năm
2020 đã được thống kê ở bảng 4.1 như sau:
Hiện nay đàn lợn nái của trại trung bình đẻ được 2,31 lứa/ năm Số con sơ sinh trung bình là 12,45 con/ lứa, số con cai sữa là 11,18 con/ lứa.
Trong trại chăn nuôi, lợn con được nuôi theo mẹ đến 21 ngày tuổi, đảm bảo dinh dưỡng và sức khỏe ổn định; một số đàn được nuôi đến 24–26 ngày tuổi sẽ tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty để tiếp tục quá trình nuôi và quản lý giống.
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại
Theo bảng 4.1, số lợn nái sinh sản năm 2019 thấp do bị dịch bệnh Đến năm 2020, sản xuất của trại đã đi vào ổn định và đang phấn đấu đạt mục tiêu cho các năm tới Trại sản xuất và cung cấp giống lợn nên số lượng nái sinh sản và lợn con chiếm tỷ lệ cao nhất Những nái sinh sản kém, không lên giống hoặc thể trạng kém sẽ được loại thải hàng tháng Đồng thời, một số lợn đực giống có chất lượng tinh kém hoặc đã già cũng được loại thải và thay thế bằng lợn đực giống mới nhằm phục vụ nguồn tinh phối giống hiệu quả Lợn hậu bị nhập về đảm bảo số lượng nái sinh sản đạt kế hoạch đề ra.
4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn nái.
4.2.1 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái
Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng là yếu tố then chốt trong chăn nuôi lợn, bởi thực hiện tốt các công tác này giúp đàn lợn sinh trưởng nhanh, phát triển đồng đều và hạn chế mắc một số bệnh Nhận thức được điều đó, trong quá trình thực tập tại cơ sở, em luôn cố gắng hoàn thành tốt các nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn Kết quả đạt được đã được trình bày chi tiết ở bảng 4.2.
Bảng 4.2 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập
Kết quả bảng 4.2 cho thấy trong 6 tháng thực tập tốt nghiệp em được trại tạo điều kiện làm việc ở chuồng nái chửa sắp đẻ, chuồng nái nuôi con và tham gia phối giống tại chuồng bầu Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng tập trung vào kỹ thuật cho ăn và lượng thức ăn phù hợp cho lợn nái ở từng giai đoạn, đồng thời em được học cách nhận biết và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái của trại.
4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại Để đánh giá về quá trình sinh đẻ của đàn lợn nái nuôi tại cơ sở, chúng em đã thu thập số liệu và theo dõi thông tin của đàn lợn nái sinh sản tại trại Kết quả trình bày tại bảng 4.3.
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại