Do đó việc điều tra hiện trạng phân bố, đặc điểmsinh học, hàm lượng palmatin trong thân cây Hoàng đằng là rất cần thiết, làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen, gây trồng tạo nguồn nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGUYỄN VIẾT CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ HÀM LƯỢNG HOẠT CHẤT PALMATIN TRONG THÂN CÂY HOÀNG
ĐẰNG (Fibraurea tinctoria Lour) VÙNG TÂY BẮC
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGUYỄN VIẾT CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ HÀM LƯỢNG HOẠT CHẤT PALMATIN TRONG THÂN CÂY HOÀNG
ĐẰNG (Fibraurea tinctoria Lour) VÙNG TÂY BẮC
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ : 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HD KHOA HỌC: TS VŨ VĂN THÔNG
CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS Vũ Văn Thông Thái Nguyên - 2021
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt nam là một nước nhiệt đới nằm trong vùng Đông Nam Á, có tổngdiện tích tự nhiên là 331.700 km2, kéo dài từ vĩ độ 90 Bắc tới 230 Bắc, trong đódiện tích rừng và đất rừng là 20 triệu ha, chiếm khoảng 60% diện tích toàn quốc.Nguồn tài nguyên động thực vật đa dạng, xếp hạng đa dạng sinh học thứ 16 trong
số 25 nước có đa dạng sinh học nhất trên thế giới Hệ thực vật rừng Việt nam là
sự hội tụ của 3 dòng thực vật di cư từ Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Himalaya và đô-nê-xia, Ma-lai-xia cho nên rất phong phú và đa dạng, có khoảng 11.000 loàithuộc trên 2.500 chi Hiện nay, nhiều loài bị khai thác quá mức đang đứng trướcnguy cơ tuyệt chủng Theo sách đỏ năm 1996 có 356 loài thực vật bị đe ở cácmức độ khác nhau; sau 11 năm danh sách này đã tăng lên hơn 100 loài bị đe doạ,
In-có 462 loài trong sách đỏ năm 2007 (Nguyễn Tiến Bân và các tác giả 1996,2007), trong đó, có 144 loài cây thuốc quý hiếm Loài cây Hoàng đằng được ghitrong nhóm II của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22 tháng 01 năm 2019của Chính phủ (Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,quý, hiếm và thực thi công ước về bôn bán quốc tế các loài động vật, thực vậthoang dã nguy cấp) Theo đó các loài trong nhóm này chưa bị đe dọa tuyệt chủngnhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác,
sử dụng vì mục đích thương mại
Tuy nhiên, những loài có giá trị kinh tế phục vụ nhu cầu làm thuốcngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức trong tự nhiên Một phần là ngườidân khai thác để sử dụng, nhưng phần lớn là khai thác để bán cho các thươnglái thu gom để xuất bán cho Trung Quốc qua đường tiểu ngạch Điển hình làcây Hoàng đằng trong những năm 2006 – 2009, vấn nạn khai thác Hoàngđằng diễn ra rất mạnh ở các tỉnh miền núi phái Bắc và Bắc Trung bộ HạtKiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) có ngày đã bắt giữ được 7,5tấn rễ, thân cây Hoàng đằng, (báo Công an nhân dân 29/10/2009)
Trang 4Hoàng Đằng còn có tên gọi khác như Hoàng liên đằng, Dây vàng giang,Nam hoàng liên Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng(Fibraurea tinctoria Lour, hay Fibraurea recisa Pierre), Trên thế giới phân bố
từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines, Indonesia Ở nước ta gặptại các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai vào đến Nghệ An,
Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam (ĐạiLộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (ĐăkGle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc) Cây sống dưới tán rừng thứsinh ở độ cao 10-200m, mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, cây ưa ẩm Câymọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát, ở thung lũng, bờ suối ven nương rẫy
Sách đỏ Việt Nam xếp Hoàng đằng ở tình trạng cấp V (sẽ nguy cấp).Khu phân bố bị thu hẹp do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi gây nên Danhmục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1b, c, d Cơ sở phânhạng: loài tuy có phân bố không hẹp nhưng khu phân bố tại nhiều điểm rừng
bị chặt phá nghiêm trọng
Tuy nhiên, nhiều loài cây trồng, cây hoang dại vẫn chưa được chú ý nghiêncứu đặc điểm sinh thái, hàm lượng hoạt chất dược học và kỹ thuật gây trồngtrong đó có cây Hoàngđằng Do đó việc điều tra hiện trạng phân bố, đặc điểmsinh học, hàm lượng palmatin trong thân cây Hoàng đằng là rất cần thiết, làm cơ
sở cho việc bảo tồn nguồn gen, gây trồng tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệpchế biến dược phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và hàm lượng hoạt chất palmatin trong thân cây
Hoàng Đằng (Fibraurea tinctoria Lour) tại vùng Tây Bắc.
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Góp phần cung cấp và hoàn thiện các thông tin về đặc điểm sinh học vàhàm lượng palmatin trong thân cây hoàng đằng phân bố ở vùng Tây Bắc, làm cơ
Trang 5sở phát triển loài cây Hoàng đằng tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao, ổn định cho ngành dược và góp phần phát triển kinh tế đồi rừng.
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Bước đầu đưa ra được một số giải pháp phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng tại vùng tây Bắc
- Kết quả nghiên cứu, là tài liệu cho các bên liên quan tham khảo và ápdụng trong khai thác phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng phục vụ nhu cầu làmthuốc
Trang 6PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Cây Hoàng đằng nằm trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm(nhóm IIA) Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22 tháng 01 năm 2019 củaChính phủ (Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,hiếm và thực thi công ước về bôn bán quốc tế các loài động vật, thực vậthoang dã nguy cấp) Hoàng đằng Sách đỏ Việt Nam (1996), mô tả Hoàngđằng là loài Có thể tái sinh chồi trên thân già và ở rễ vào mùa xuân Hiếm gặpcây cái, do có khả năng tái sinh bằng hạt hiếm hoi Cây sống dưới tán rừngthứ sinh, ở độ cao 10 - 200 m Mọc trên đất cát lẫn đất đá Cây ưa ẩm Câyđang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, có quy cơtuyệt chủng rất cao Gây trồng cây Hoàng đằng là cơ sở bảo tồn nguồn gencây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao
1.2 Tình hình nghiên cứu về cây Hoàng đằng trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), thuộc họ Tiết dê có khoảng 70 chi và
450 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, chỉ có một ít ở vùng ônđới bán Bắc và Nam (theo Takhtajan -1996) Đây là một họ lớn phân bố rộng
Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoáhọc của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn Nhiều nghiên cứu đãkhẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu
tố miễn dịch tự nhiên Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên haygặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch.);tamin (Zizyphusjụuba Miller) Mỗi loài cây với từng công năng, tác dụng, ởmỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc
Trang 7Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người hán(Trung y), các cộng đồng không phải người hán, với dân số khoảng 100 triệungười, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền(Traiditional Ethno-medicine) sử dụng khoảng 8000 loài cây cỏ làm thuốc Trong
đó, có 5 nền y học chính là nền y học cổ truyền Tây Tạng ( sử dụng 3.294 loài),Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài)
Ở Bangladesh có một số cây thuốc quý như Tylophora indica (dùng làmthuốc chữa hen), trước kia dễ tìm kiếm, nay đã trở nên hiếm hoi (A.S Islam,1991) Hoặc là loài Ba gạc – Rauvolfia serpentina vốn mọc tự nhiên khá phổ biến
ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Thái Lan,… mỗi năm khai thác được khoảng1.000 tấn nguyên liệu xuất sang thị trường Âu – Mỹ, làm thuốc chữa cao huyết áp(riêng Ấn Độ chiếm 40 – 50%) Song, do bị khai thác liên tục nhiều năm đã làmcho cây thuốc này mau cạn kiệt Một số bang ở Ấn Độ đã chính thức tạm đình chỉkhai thác loài Ba gạc kể trên (O Akerele, 1991; L de Alwis, 1991 và A.S.Islam,1991) Một loài cây thuốc quý khác là Coptis teeta mọc nhiều ở vùng Đông– Bắc Ấn Độ, trước kia khai thác hàng chục tấn mỗi năm bán sang các nước vùngĐông Nam Á, nay đã trở nên rất hiếm, thậm chí đang đứng trước nguy cơ tuyệtchủng (O Akerele,1991) Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, (1985) [20], ởTrung Quốc vốn có một số loài Dioscorea japonica, trữ lượng khá lớn, trong thập
kỷ 50, đã từng khai thác tới 30.000 tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài thậm chíphải trồng và duy trì loài giống Một vài loài cây thuốc quý như Fritillaria cirrhosa(làm thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây – Bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn sótlại ở 1 – 2 điểm, với số lượng cá thể rất ít Hoặc loài Iphigenia indica có tác dụngchữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali tỉnh Vân Nam, do bị tìmkiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt chủng Một số loại cây thuốc quýkhác như Paris polyphylla, Gastrodia elata, Nervilia fordii,… cũng là những ví dụđiển hình
Trang 8Sara Oldfield, Tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc
tế, nhận xét “Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự” Phầnlớn dân số thế giới, trong đó có 80% người châu Phi, hoàn toàn phụ thuộc vàodược thảo để chữa bệnh Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tếPlantlife, trên khắp thế giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc,nhưng xấp xỉ 15.000 trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Tìnhtrạng thiếu dược thảo đã xảy ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal,Tanzania và Uganda hình về sự tồn tại mong manh của chúng ở Trung Quốc(P.G Xiao, 1991)
Tư liệu của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN)cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này có thông tin, hiện cótới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau(World conservation monitoring centre – IUCN, 1992 và 1993) Trong tổng số30.000 loài này, đương nhiên có rất nhiều loài được dùng làm thuốc
Tuy nhiên giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn Ở Mỹ mỗinăm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD Ở Trung Quốc, chỉriêng việc xuất khẩu Cao đơn hoàn tán cũng cho doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm Hiện nay, phong trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thếgiới đã đặt ra một vấn đề cần lưu ý: 2/3 trong số 50.000 loài cây thuốc được
sử dụng, khai thác từ các cây hoang dại sẵn có nhưng không được trồng lại để
bổ sung Theo một nghiên cứu của nhà thực vật học người Anh là AlanHamilton, thành viên của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (viết tắt là WWF),
có từ 4.000 – 10.000 loài cây cỏ dùng làm thuốc có nguy cơ bị tiệt chủng.Nguyên nhân không phải hoàn toàn do sự phát triển của Y học cổ truyền màtheo tác giả là do thị trường dược thảo ở Châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng10% mỗi năm, trong vòng 10 năm nay Trên quy mô toàn cầu, doanh số muabán cây thuốc hàng năm ước tính lên tới 16 tỷ Euro
Trang 91.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước.
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), có khoảng 29 loài phân bố rộng rãi
trong các loại hình rừng nhiệt đới và á nhiệt đới nước ta Có nhiều loài dùng làmthuốc nên được gây trồng rộng rãi trong khu vực đồng bằng và trên miền núi
Trong các loài phổ biến có nhiều loài đặc hữu Bắc Bộ như Tinospra
capillpes G pridania petelotii G Gần đặc hữu Việt Nam có Tinomiscium tonkinensis G, Tinospora thorelli G Thành phần đặc hữu Đông Dương có:
Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30-10-2013 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020, địnhhướng đến năm 2030 Theo đó, việc bảo tồn và khai thác dược liệu tự nhiênbao gồm: Quy hoạch các vùng rừng, vùng có dược liệu tự nhiên ở 8 vùngdược liệu trọng điểm, bao gồm: Tây Bắc, Đông Bắc (trong đó có tỉnh ĐiệnBiên), Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, TâyNguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, để lựa chọn và khai thác hợp lý 24loài dược liệu, đạt khoảng 2.500 tấn dược liệu/năm; xây dựng 5 vườn bảo tồn
và phát triển cây thuốc quốc gia đại diện cho các vùng sinh thái; phấn đấu đến
Trang 10năm 2020 bảo tồn được 50% và đến năm 2030 là 70% tổng số loài dược liệucủa nước ta Về việc phát triển trồng cây dược liệu: Quy hoạch phát triển 54loài dược liệu thế mạnh của 8 vùng sinh thái phù hợp với điều kiện sinhtrưởng, phát triển của cây thuốc để đến năm 2020 đáp ứng được 60% và đếnnăm 2030 là 80% tổng nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước, tăng cường khảnăng xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu trong nước…
Đối với vùng Tây Bắc nói chung và các tỉnh đại diện cho các vùng sinh tháikhác nhau nói riêng, nhiều nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để trồng các loạicây dược liệu quý, có hiệu quả kinh tế cao, chính vì vậy, cần có nhiều vùng quyhoạch trồng cây dược liệu để khai thác, phát triển tốt những lợi thế,…
Theo Võ Văn Chi, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới), tập I,trang 1107, NXB Y học, Hà Nội “Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tácdụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng Palmatin có tác dụng ức chế đối với các
vi khuẩn trong đường ruột Công dụng: Thường dùng chữa các loại sưngviêm, chữa chảy máu mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột, ỉa chảy, viêm tai, lở ngứangoài da và cũng làm thuốc bổ đắng
Theo Nguyễn Bình An (2011), khi nghiên cứu khả năng nhân giống loàiHoàng đằng tại vườn quốc gia Bến En, Thanh Hoá, kết quả cho thấy Hoàngđằng có thể nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom với thuốc kíchthích ra rễ là IAA 1500ppm trong thời gian 5 giây, độ che bóng thích hợp là25% và dùng công thức phân vi sinh 5% trộn với đất tầng mặt để làm hỗn hợpruột bầu thì cây giống sinh trưởng tốt và tỷ lệ sống cao nhất
Theo Đỗ Huy Bích và cs, (2004) Cây thuốc và động vật làm thuốc ởViệt Nam, tập I, trang 942, NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội “Hoàng đằng
có vị đắng, tính hàn, vào 2 kinh tâm và can, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc,sát trùng, lợi thấp, thông tiện Công dụng: Hoàng đằng được dùng làm thuốc
bổ đắng chữa các chứng viêm tấy, kiết lỵ, tiêu chảy, sốt rét, bệnh về gan, nóngtrong, lở ngứa ngoài da, mắt đỏ có màng, viêm tai chảy mủ
Trang 11Hiện nay xu hướng bảo tồn cây thuốc đang được triển khai nghiên cứutại nhiều VQG và KBTTN của Việt Nam (VQG Jork Đôn, KBTTN Pù Mát,VQG Cát Bà…) Theo hướng nghiên cứu này nhiều công trình đang đượctriển khai trong thời gian hiện nay.
Trần Văn Ơn đã xây dựng cơ sở khoa học và mô hình bảo tồn cây thuốctại cộng đồng người Dao VQG Ba Vì, trên cơ sở nghiên cứu các cây thuốc bịthu hái quá mức
Nguyễn Thị Thuỷ nghiên cứu bảo tồn cây thuốc tại cộng đồng ngườiHmông, Dao của VQG Hoàng Liên Sơn
Thái Văn Trừng (1978) Thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loàithực vật bậc cao có loài thuộc 1850 chi, 289 họ
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) Đã thống kê thành phần loài của VQG cókhoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họthuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được xếp thành 8nhóm có giá tri khác nhau
Đỗ Tất Lợi (1999), trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” táibản lần 3 có sửa đổi bổ sung, đã mô tả nhiều loài thực vật bản địa hoang dạihữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay
Ðỗ Tất Lợi (1991), đã mô tả 2 loài Hoàng đằng thuộc họ Tiết dê(Menispermaceae), trong đó loài Fibraurea tinctoria.Lour, khác với loàiFibraurea recisa Pierre ở chỗ lá nhọn, chỉ phân nhánh 2 lần
Theo Võ Văn Chi đất nước Việt Nam có nguồn dược liệu rất phong phú lênđến trên 4.000 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển,
408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc, trong đó cónhiều loài cây thuốc được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới như: Sâm ngọclinh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên
ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phúc
Trang 12Số liệu thống kê của tổng cục thống kê cho biết, trong năm 2012, doanhthu sản xuất thuốc từ dược liệu tại Việt Nam đạt 3.500 tỷ đồng (gấp hơn 1,75lần so với doanh thu năm 2010) Đánh giá tại một số vùng, nuôi trồng câydược liệu có giá trị kinh tế to lớn hơn bất kỳ cây lương thực, thực phẩm nào(có thể thu nhập trên 100 triệu đồng/ha) Ví dụ, ở Sa Pa (tỉnh Lào Cai), việcthực hiện trồng cây Artiso giúp đem lại doanh thu trồng đến thu hoạch đạtkhoảng 115 triệu đồng/vụ/năm (Báo nông nghiệp năm 2014) Ở Việt Yên(tỉnh Bắc Giang), mô hình trồng cây Kim tiền thảo là hướng mới trong chuyểnđổi cơ cấu cây trồng ở tỉnh và đã thực sự góp phần giảm nghèo cho người dânnơi đây.
Nhận định của TS Trương Quốc Cường - Cục trưởng Cục Quản lý Dược
- Bộ Y tế tại “Hội nghị xúc tiến đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ pháttriển sản xuất dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2014: Đưa dược liệu trởthành thế mạnh của ngành dược Việt Nam”; Ông cho rằng dược liệu chính lànguồn nguyên liệu của nền công nghiệp tân dược trong tương lai, chứ không phải
là nguồn nguyên liệu hóa dược mà chúng ta đang mất nhiều thời gian và công sức
để theo đuổi trong nhiều năm qua
Khai thác quá mức vì mục đích thương mại là nguyên nhân chủ yếukhiến dược thảo ngày càng trở nên khan hiếm Tại Việt Nam cũng đang gặpphải một số hạn chế, khó khăn, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy hoạchphát triển dược liệu, công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, việctiêu chuẩn hóa dược liệu, cũng như việc hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dượcliệu Có thể kể đến một số ví dụ điển hình như tình trạng nuôi trồng và khaithác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự phát triển, quy mô nhỏ dẫn đến sảnlượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động; Việc khai thác dược liệuquá mức mà không đi đôi với việc tái tạo, phát triển dược liệu đã dẫn đến sốlượng loài cây dược liệu, có khả năng khai thác tự nhiên còn rất ít (trên cảnước hiện chỉ còn khoảng 206 loài cây dược liệu có giá trị có thể khai thác tựnhiên), nhiều loài cây dược liệu quý hiếm trong nước đang đứng trước nguy
Trang 13cơ cạn kiệt; Ví dụ: Vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.),
là một loài dây leo gỗ lớn Kết quả điều tra đến năm 1986 đã xác định câyphân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam (từ vĩ độ 16015’ ở Phú Lộc – ThừaThiên Huế trở vào), trên phạm vi 121 xã, 44 huyện, 14 tỉnh Từ năm 1980 –
1990 tính trung bình khai thác từ 1.000 – 2.500 tấn/năm, ở các tỉnh Gia Lai –Kon Tum, Nghĩa Bình, Quảng Nam – Đà Nẵng, Đắk Lắk và Sông Bé (theođơn vị hành chính lúc đó) Đến giai đoạn 1991 – 1995, mỗi năm chỉ còn dưới
200 tấn, (Nguyễn Tập và một số người khác 1986 và 1996) Đặc biệt là một
số cây thuốc có nhu cầu dường như không hạn chế, như Ba Kích (Morinda officinalis How); Đẳng Sâm (Campanumoea javanica Blume) và các loài
Hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và Polygonatum,… vốn phân bố khá phổbiến ở các tỉnh miền núi phía Bắc, lượng khai thác những cây thuốc này hiện
đã làm suy giảm nghiêm trọng, thậm chí trở nên khan hiếm đến mức đã đượcđưa vào Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Tập, 1985, 1990, 1997,
2001, 2006) và Sách Đỏ Việt Nam – Phần thực vật, năm (1996, 2007)
Nhiều loài thuốc quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đó 31 loài ởmức bị đe dọa tuyệt chủng cao Các cây thuốc trước kia có thể khai thác hàngchục nghìn tấn/năm như: Ba kích, Đẳng sâm, Hoàng đằng, Hoàng tinh, đãgiảm rõ rệt Ông Ngô Quốc Luật, Viện Dược liệu, cho biết, ngay cả ở các khubảo tồn thiên nhiên, tình trạng khai thác cây thuốc cũng rất tùy tiện Chẳnghạn, tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu, Phước Bửu (Bà Rịa - Vũng Tàu),
từ năm 2003, hàng ngày có khoảng 5-10 người tự do vào rừng lấy dây Kýninh (trị sốt rét) và vận chuyển ra khỏi rừng một cách công khai với số lượngkhoảng 80-100 kg dây tươi/người
Tại khu bảo tồn thiên nhiên Ta Kou (Bình Thuận), thần xạ (một dượcliệu có công dụng chính là trị viêm xoang) bị khai thác với số lượng lớn, báncông khai cho khách thập phương
Cao Bằng dù có trên 617 loài cây thuốc, thuộc 211 họ thực vật, trong đónhiều loại quý hiếm, giá trị kinh tế cao như: Thanh thiên quỳ, Lan gấm, Hà
Trang 14thủ ô, Ba kích, Thổ phục linh, Giảo cổ lam, Sâm cau, Sa nhân,… nhưng ngàymột cạn kiệt do khai thác quá mức.
Vườn Quốc gia Hoàng Liên được ví như kho thuốc quý của Việt Nam,nhưng đáng lo ngại là kho thuốc này ngày một cạn kiệt vì tình trạng khai thác
vô tội vạ Đặc biệt cây Hoàng liên chân gà – một cây thuốc quý, mọc tự nhiên
đã được Sách đỏ Việt Nam năm (1996) [6], xếp vào hạng rất nguy cấp nhưngvẫn tiếp tục bị khai thác và người ta vẫn thấy chúng được bày bán ở chợ Sa Pahay dọc đường
Trần Công Khánh, (2012) Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển câythuốc cổ truyền dân tộc (CREDEP): “Chính vì không hiểu gì về công dụngcủa cây thuốc, lại được các chủ đầu tư thu mua tận nơi nên đại đa số bà consống ở những nơi có cây thuốc sinh trưởng và phát triển đều khai thác theokiểu chặt tận gốc, nhổ cả rễ Và thế là những thầy lang giàu kinh nghiệm chữabệnh giờ cũng chẳng dễ dàng gì kiếm được cây thuốc cho những bài thuốc giatruyền của mình, để rồi một ngày nào đó nó sẽ trở thành các “bài thuốc chết”
vì không kiếm đâu ra cây thuốc nguyên liệu”
Báo cáo của Tổng Công ty Dược Việt Nam cho thấy, TCT đã nhập khẩu
182 loại Dược liệu với tổng khối lượng 18.300 tấn, với 81 loại nhập trên 100 tấn/loại Trong đó, có 13 loại thuốc đi từ động vật và khoáng vật; 169 loại từ câythuốc, trong đó nhiều loại là thuốc bắc đầu vị, một số không có ở Việt Nam
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình bảo tồn, lưu giữ và khai thác nguồn gen đối với cây Hoàng đằng
1.3.1 Đặc điểm thực vật
Theo Joannis de Loureiro (1790) mô tả cây Hoàng đằng trong tập Quầnthể thực vật Đàng Trong (Flora Cochinchinensis) Hoàng đằng là cây dâyleo bằng thân quấn, dài tới 10m Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ và gỗ có màuvàng Thân non nhẵn, màu lục, ít phân nhánh Lá mọc so le, hình trái xoanhoặc thuôn, dài 9 – 18 cm, rộng 3 -7 cm, gốc bằng hoặc hơi tròn, đầu có
Trang 15mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, 3 gânchính rõ; cuống lá dài 5 – 14 cm, phình ở hai đầu Hoa đơn tính khác gốc,cụm hoa chùm mọc ra ở phần thân già đã rụng lá Hoa nhỏ màu vàng chanh,
có 6 lá đài, cánh hoa 3 rộng và mỏng hơn lá đài Hoa đực có 6 nhị, chỉ nhịdài hơn bao phấn, hoa cái nhị lép hoặc không rõ, bầu hình trứng Quả hạchhình xoan hay trứng thuôn, khi chín màu vàng, mùi hơi khó chịu Hạt 1 hìnhthuôn hơi dẹt Hoàng đằng ra hoa vào tháng 4 –5, quả chín vào tháng
11 – 12 Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác
- Dược liệu: Những đoạn thân và rễ hình trụ thẳng hoặc hơi cong, dài 10
- 30 cm, đường kính 1 - 3 cm, có khi tới 10 cm Mặt ngoài màu nâu có nhiềuvân dọc và sẹo của cuống lá (đoạn thân) hay sẹo của rễ con (đoạn rễ) Mặt cắtngang có màu vàng gồm 3 phần rõ rệt: phần vỏ hẹp, phần gỗ có những tia ruột xếpthành hình nan hoa bánh xe, phần ruột ở giữa tròn và hẹp; thể chất cứng, khó bẻgãy, vị đắng
- Bộ phận dùng: Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea recisa Pierre hay F tinctoria Lour.)
- Thu hái: rễ và thân cây vào tháng 8-9, cạo sạch lớp bần bên ngoài, chặttừng đoạn, phơi khô hoặc sấy khô Thành phần hoá học: Chủ yếu là palmatin 1-3,5% ngoài ra còn có jatrorrhizin, columbamin và berberin
Theo Irokawa và cộng sự còn phát hiện 3diterpenglycosìt làtenophyllolosìde 3, fibleucinoside 4 và fibraurinoside 5 Trước đó một số tácgiả đã phát hiện 2 diterpen khác là fibleucine 1 và fibraucine 2(Phytochemistry, 28, 4, 905-908, 1986)
1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng
dược lý của cây Hoàng đằng tại Việt Nam
Các nhà khoa học đã tiến hành chiết xuất Palmatin từ cây Hoàng đằng.Qua thử dược lý sử dụng thành phần hóa học chiết xuất từ cây Hoàng đằng
để sản xuất thuốc chữa bệnh về đường ruột cho thấy loại thuốc trên không
Trang 16độc, không gây ra các tác dụng phụ, được Bộ Y tế cho phép sử dụng ngayloại thuốc này ở Hà Sơn Bình (cũ), Hải Phòng, Hải Hưng (cũ), Hà NamNinh (cũ), Thái Nguyên…Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, bác sỹ Nguyễn VănHưởng cũng đã sử dụng Codanxit và xác định thuốc có hiệu lực trị lỵ Nhờ
có hai loại thuốc này, dịch lỵ nguy hiểm và phức tạp ở miền Bắc trongnhững năm trước đây đã được dập tắt
Việc nghiên cứu sản xuất thành công ở quy mô lớn các chất codanxit,palmatin của trường Đại học Dược phối hợp với xí nghiệp dược phẩm Trungương 2 Hà Nội và tiếp đó là quy mô sản xuất đại trà palmatin từ cây Hoàngđằng của nhiều xí nghiệp dược phẩm đã cung cấp thuốc phòng chống dịch lỵdùng trong nước và xuất khẩu Các sản phẩm này có hiệu lực tốt, dùng antoàn, giá thành rẻ Codanxit và palmatin còn có tác dụng tốt chữa bệnh tiêuchảy và điều trị viêm đại tràng, nhất là phòng tiêu chảy khi ăn hải sản
Trước đây, người ta chỉ biết đến Hoàng đằng và palmatin được dùngchủ yếu để trị những bệnh tiêu hóa như kiết lỵ, tiêu chảy , nhưng giờ đâyngười ta lại biết đến palmatin - thành phần chính của cây Hoàng đằng có khảnăng ức chế sự di căn ung thư của tế bào mang tên LLC Kết quả này đã đặtnền móng và đem đến những hy vọng mới cho những người mắc phải cănbệnh nan y này Đây cũng là cơ sở để phát triển gây trồng cây Hoàng đằngquy mô lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Dược
Nguyễn Hồng Phong, (2012) đã nghiên cứu kiến thức bản địa nguồn tàinguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại Vườn quốc gia Hoàng Liên.Kết quả nghiên cứu cho thấy Hoàng đằng được sử dụng thân, rễ phơi khô,sắc uống để chữa trị các chứng bệnh kiết lỵ, đau bụng, bí tiểu
Theo Võ Văn Chi, 2012, Từ điển cây thuốc Việt Nam, tập I, trang 1107,NXB Y học, Hà Nội: “Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanhnhiệt, tiêu viêm, sát trùng Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩntrong đường ruột Công dụng: Thường dùng chữa các loại sưng viêm,
Trang 17chữa chảy máu mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột, ỉa chảy, viêm tai, lở ngứa ngoài
F tinctoria.L tại một số vùng của Nghệ An nói chung cũng tuân theo thể thứccấu tạo của cây 2 lá mầm thân gỗ leo cuốn Ngoài ra có một số sai khác chi tiết đặcbiệt là vòng mô cứng phát triển mạnh Hàm lượng alkaloid toàn phần tính theopalmatin của các cây Hoàng đằng tại Nghệ An là khá cao Theo quy định của dượcđiển Việt Nam nguyên liệu này đủ tiêu chuẩn để làm thuốc Kích thước cây cànglớn thì hàm lượng alkaloid trong nguyên liệu càng cao, ở
3 mẫu nghiên cứu thì KI(1,43%), KII (2,30%), KIII(1,94%) Do vậy khi thu háicần chọn những cây có kích thước phù hợp (đường kính gốc lớn hơn 3cm) Ở các
bộ phận khác nhau trong cây hàm lượng alkaloid là khác nhau Hàm lượng caonhất ở rễ già và gốc sau đó giảm dần về hai phía rễ và thân Ở phần ngọn và lákhông phát hiện thấy alkaloid Do đó khi thu hái ta nên lấy bộ phận già của cây để
có chất lượng nguyên liệu tốt
Ðỗ Tất Lợi (1991), đã mô tả 2 loài Hoàng đằng thuộc họ Tiết dê
(Menispermaceae), trong đó loài Fibraurea tinctoria.Lour, khác với loài Fibraurea recisa Pierre ở chỗ lá nhọn, chỉ phân nhánh 2 lần Cả hai loài có
thể dùng làm thuốc chữa đau mắt, sốt rột, lỵ, bệnh về gan, thuốc bổ đắng,chữa viêm ruột, dạ dày, ỉa chảy Palmatin clorua chiết từ loài này có thể
Trang 18dựng chữa đau mắt, ỉa chảy, lỵ Sau công trình nghiên cứu của Ðỗ Tất Lợi
và cộng sự, Palmatin đã đựợc Bộ y tế cho sản xuất dưới dạng viên nén đểchữa lỵ, ỉa chảy cho người lớn và trẻ em Ngoài ra tác giả cũng đã xác địnhđựợc trong thân và rễ Hoàng đằng chứa nhiều loại alcaloid như: Palmatin,Fibraurin, Jatrorrhizin,Pseudocolumbamin, Fibramin, Fibranin
Dược điển Việt Nam quy định dược liệu phải có 1% alcaloid tính theopalmatin hydroclorid
1.4 Các bài thuốc đông y và sản phẩm thuốc có thành phần Hoàng Đằng
* Hoàng Đằng trong các bài thuốc đông y
Theo Hoàng Khánh Toàn (2012), Hoàng đằng được dùng để chữa kiết
lỵ, ỉa chảy, viêm ống mật, viêm đường tiết niệu, đái đục, trĩ, đau mắt, viêmtai, di tinh, khí hư, sốt, ra mồ hôi trộm Ngày dùng 6 – 12g dạng thuốc sắc haythuốc bột Dùng ngoài để rửa mắt, đắp chữa mụn nhọt và vết thương Ngoài
ra, còn dùng làm nguyên liệu chiết Berberin
+ Hoàng đằng tán bột làm thành viên, ngày uống 10-20 viên Chữa lỵ
amip và trực trùng (Nguyễn Tử Độ, 1968 Y học thực hành (154): 29)
+ Với thể doanh huyết (giai đoạn toàn phát có biến chứng mất nướcđiện giải, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch) (Trửu Hậu phương) Triệuchứng: sốt cao, nhức đầu, cổ gáy cứng, miệng khát, co giật, hôn mê, chất lưỡi đỏ,nhịp thở thất thường Có thể dùng bài thuốc: thạch cao 40 gr, cam thảo đất 16 gr,sinh địa 12 gr, huyền sâm 12 gr, mạch môn 12 gr, kim ngân 16 gr, hoàng đằng 12
gr Nếu táo bón thêm Chút chít 20 gr Sắc uống ngày 1 thang, (Trung tâm cây dượcliệu Tam Đảo, cayduoclieu.com)
+ Lở ngứa do huyết nhiệt: Do máu nóng quá sinh lở ngứa, người bệnh
ngứa nhiều gãi nhiều gây chảy máu ở tay chân hoặc toàn thân, lưỡi đỏ khô, rêulưỡi vàng, tiểu tiện ít, nước tiểu vàng hoặc đỏ, người bứt rứt, hay cáu gắt.Bài thuốcdùng chung cho cả 3 thể: huyền sâm hay sinh địa 20g; hà thủ ô, thổ phục linh,mạch môn, kim ngân hoa, vỏ núc nác, hoàng đằng mỗi vị 12g;
Trang 19liên kiều, ngưu bàng, thiên hoa phấn, cam thảo dây (hay sài đất) mỗi vị 10g.Sắc uống ngày một thang Bài thuốc chữa mụn nhọt, lở ngứa, viêm cơ: Huyềnsâm12g, lá Đơn đỏ12g, Kê huyết đằng 12g, Hoàng đằng 12g, lá móng tay 12g, Bồ công anh 12g, lá Móng tay 12g, vỏ cây Gạo12g, Sài đất 20g, Kim ngânhoa12g, Ké đầu Ngựa12g, Thổ phục linh12g, Hà thủ ô12g, Ngưu bàng tử 12g,(Trích Bách Khoa Y Học 2010).
+ Chữa đau mắt sưng đỏ, chảy nước mắt: Hoàng đằng 8g, Mật ong 9g,Cúc hoa, Kinh giới, Long đởm thảo, Phòng phong, Bạch chỉ mỗi vị 4g, Cam thảo2g Sắc uống ngày một thang Uống khoảng 3-5 thang (Kinh Nghiệm Dân Gian).Hoặc Kim ngân hoa, lá dâu mỗi thứ 16 g, kinh giới, chi tử, cúc hoa mỗi thứ 12 g,hoàng đằng 8 g, bạc hà 6 g, cam thảo 4 g Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần Mắtsưng đỏ hoặc có màng: Hoàng đằng 4g, phèn chua chút ít, tán nhỏ, chưng cáchthuỷ gạn lấy nước trong mà nhỏ mắt Hoặc dùng bột palmatin chlorhydrat pha chếthành thuốc nước để nhỏ mắt Có khi người ta phối hợp Hoàng đằng với Hoàngliên nấu thành thuốc chữa đau mắt …
+ Chữa viêm đường tiết niệu, viêm gam, viêm âm đạo, bạch đới, viêmtai trong, hội chứng lỵ: Hoàng đằng, Mộc thông, Huyết dụ, mỗi vị 10-12g Sắcuống (Kinh Nghiệm Dân Gian)
+ Viêm tai có mủ: Bột Hoàng đằng 20g trộn với phèn chua 10g, thổi dầnvào tai ngày 2-3 lần (Kinh Nghiệm Dân Gian)
+ Chữa kẻ chân viêm lở chảy nước ngứa: Hoàng đằng 10-20g, Kha tử 10g, hai vị giả nhỏ sắc lấy nước đặc ngâm ngày 1-2 lần (Kinh nghiệm dân gian)
+ Chữa viêm ruột kiết lỵ: Hoàng đằng 14g, Cỏ sữa lá lớn 20g, lá mơ 20gsắc uống, (Kinh nghiệm dân gian) Người ta còn dùng bột Hoàng đằng và cao Mứchoa trắng, hoặc phối hợp cao Hoàng đằng và cao Cỏ sữa lá lớn làm thuốc viênchữa kiết lỵ
+ Đặc trị viên dạ dày: Bao gồm: Bạch linh, hoàng đằng, đẳng sâm, chixác, ngũ thành bì, cam thảo, chè dây, lá khôi, xăng - sê, chuối hoa rừng, tam
Trang 20thất, nghệ đen… Công dụng: Cầm máu, giảm đau viêm, ợ hơi, ợ chua, thanhnhiệt, giải độc, sát trùng, hoạt huyết, hoạt trường, điều huyết, thông kinh.Giúp bảo vệ và tăng sức bền của thành tĩnh mạch, tăng cường sức khỏe tĩnhmạch dạ dày Kháng cực mạnh với các vi khuẩn dạ dày gây viêm.
+ Hoàng đằng có thể sử dụng để chữa viên gan virut, theo một sốphương pháp khác nhau Cách thứ nhất: Hoàng đằng 30 -60g, chua me đất 15ghầm với xương lợn hoặc thịt gà ăn (Theo “Trung thảo dược tân y liệu pháp xửphương tập”) Cách thứ hai: Dùng Hoàng đằng, mộc thông và huyết dụ - mỗi vị 10-12g sắc nước uống (Theo cây thuốc Việt nam, của Lương y Lê Trần Đức) Hoặc
có thể dùng bài thuốc sau: Mộc thông: 8 – 16g, Huyền sâm: 8 – 16g, Chi tử (sao):
8 – 16g, Sinh địa: 8 – 16g, Ngưu tất: 8 – 16g, Hoàng đằng: 8 – 16g Cách dùng:Sắc uống ngày 1 thang, uống lúc thuốc còn nóng ấm Chủ trị: Viêm gan vàng da,
viêm thận cấp, tiểu buốt, tiểu gắt, tiểu ra máu (Theo từ điển cây thuốc Việt Nam).
+ Trẻ em người nóng da nổi mụn như cơm cháy Dùng Hoàng đằng nấunước loãng tắm ngày 1-2 lần, (Kinh nghiệm Lương Y Uông Nhuyến)
1.5 Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Vị trí địa lý
Phía Bắc là những dãy núi cao, phân định biên giới Việt – Trung
Phía Tây và Tây Nam là các dãy núi cao kế tiếp nhau, phân định biêngiới Việt – Lào
Phía Đông và Đông Nam là dãy Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam vàĐông Dương với đỉnh Phanxipan (3.143 m), giáp với Đông Bắc và một phầnđồng bằng sông Hồng
Phía Nam giáp với Bắc Trung Bộ
Trang 21Hình 1.1 Bản đồ vùng Tây
Bắc Diện tích đất đai, đặc điểm địa hình
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, cóchung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Vùng này đôi khi được gọi làTây Bắc Bắc Bộ và là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểuvùng kia là vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng) Bao gồm 6 tỉnh: ĐiệnBiên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái và Lào Cai Diện tích tự nhiênđược tổng hợp ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Tổng hợp diện tích diện tích tự nhiên vùng Tây Bắc
Trang 22Tây Bắc có tổng diện tích 50.585,32 km2, chiếm 15,37 % diện tích đấtliền cả nước nhưng diện tích đất đang sử dụng vào sản xuất nông nghiệpkhông nhiều, chỉ vào khoảng 700 nghìn ha (chiếm khoảng 13% diện tích toànvùng), diện tích đất bằng chưa sử dụng và đất rừng sản xuất khoảng 600 nghìn
ha (chiếm 12% diện tích toàn vùng), do vậy tiềm năng mở rộng phát triển sảnxuất nông nghiệp còn khá lớn Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt mạnh nênđất sản xuất bị phân tán, thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp, hạn hán kéo dài,xói mòn gia tăng, tần suất xuất hiện sương muối thất thường, hệ thống thủylợi được đầu tư nhưng chưa đảm bảo đủ lượng nước tưới Đặc biệt, tập quánsản xuất của người dân còn lạc hậu, gây khó khăn trong việc tiếp cận các biệnpháp, mô hình sản xuất tiên tiến; trình độ thâm canh chưa cao, sản xuất hànghóa phát triển chậm, các sản phẩm nông lâm nghiệp còn đơn điệu, chủ yếu lànguyên liệu thô Do đó, để góp phần phát triển nền nông nghiệp Tây Bắc theohướng sản xuất hàng hóa và cạnh tranh với các vùng khác trong cả nước, việcxác định thực trạng chất lượng và yếu tố hạn chế của đất nông nghiệp đối vớiviệc sản xuất, đồng thời đề xuất những giải pháp khoa học kỹ thuật phù hợpcho sản xuất nông nghiệp hàng hóa khu vực này là rất cần thiết
Các loại đất chính vùng Tây Bắc và các yếu tố tác động đến chất lượng đất
Theo kết quả nghiên cứu, xây dựng bản đồ đất nông nghiệp cho vùngTây Bắc do Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thực hiện năm 2014, đất nông nghiệpvùng Tây Bắc gồm 10 nhóm đất chính, 17 đơn vị đất và được chia thành 3kiểu hình thành chính: (i) Gồm nhóm đất Leptosols, Nitisols, Ferrasols,
Alisols, Acrisols – là những loại đất hình thành tại chỗ trên nhiều dạng địahình khác nhau từ dạng đồi thấp đến địa hình núi cao, thường chịu tác độngmạnh của quá trình rửa trôi bề mặt; (ii) Gồm Calcisols, Luvisols, Regosols –
là những nhóm đất hình thành do quá trình tích lũy sản phẩm dốc tụ (donhững sản phẩm xói mòn từ đồi núi đổ xuống theo dòng chảy được tích tụlại), phân bố tại các thung lũng, vùng ven chân đồi hoặc lưng sườn đồi núi
Trang 23thoải; (iii) Gồm Fluvisols và Gleysols – là nhóm đất hình thành trên trầm tíchphù sa do sự bồi đắp của các con sông, suối lớn chảy qua địa bàn vùng Trong
số các nhóm đất này, nhóm đất xám (Acrisols) chiếm diện tích lớn nhất với82,95% diện tích điều tra toàn vùng, phân bố ở tất cả các tỉnh Trong khi đó,tại Lai Châu, Lào Cai, Sơn La vẫn còn diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên
loại đất tầng mỏng (Leptosols) do chịu ảnh hưởng của xói mòn Riêng LàoCai có trên 6.700 ha loại đất… Điều này cho thấy do thiếu đất canh tác nôngnghiệp phù hợp nên bà con vùng núi phải sử dụng những loại đất có nhiều yếu
tố hạn chế Kết quả nghiên cứu tài nguyên đất nông nghiệp vùng Tây Bắc chothấy trong tổng số diện tích điều tra có hơn 40% diện tích đất phân bố ở độdốc > 15O, trong đó diện tích >25O chiếm khoảng 7% bao gồm đất xám, đất
tầng mỏng, đất đỏ, đất đen – nơi chủ yếu canh tác nông nghiệp với độ che phủthấp Ngoài vấn đề về độ dốc thì ảnh hưởng của xói mòn, rửa trôi từ phươngthức canh tác nương rẫy “mở” không có thời gian bỏ hóa trên các sườn dốctheo truyền thống lại không bón phân hoặc rất ít sử dụng phân bón là nhữngnguyên nhân làm cho đất đồi núi vùng Tây Bắc ngày càng nghèo kiệt về dinhdưỡng Do đó, đối với những vùng có địa hình dốc, cần đặc biệt quan tâm vàphải có biện pháp canh tác phù hợp vì nguy cơ xói mòn đất rất lớn Không chỉdốc, đất sản xuất nông nghiệp vùng Tây Bắc còn có mức độ đá lẫn lớn, đặcbiệt là các loại đất hình thành tại chỗ, điển hình là đất tầng mỏng, thậm chínhiều loại đất có mức độ đá lẫn lên tới 60-70% Những vùng đất canh tác có
tỷ lệ đá lẫn cao (> 40%) tập trung ở Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.Những vùng đất có nhiều đá lẫn chủ yếu phân bố trên dạng địa hình có độ dốccao và có lịch sử canh tác nông nghiệp lâu đời Đây có thể là nguyên nhân từhiện tượng xói mòn, rửa trôi bề mặt do mưa trên đất dốc thông qua quá trìnhcanh tác mà không có biện pháp che phủ bảo vệ Tỷ lệ đá lẫn cao là một hạnchế khó khắc phục, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bộ rễ của cây trồng,ngoài ra đây là một hạn chế lớn tác động đến quá trình làm đất Vì vậy, trong
Trang 24sử dụng đất cần có các biện pháp bảo vệ như tăng độ che phủ bề mặt, bónphân hữu cơ…
Về độ chua của đất (đánh giá thông qua giá trị pHKCl), các nghiên cứucũng cho thấy diện tích đất có pHKCl <4,5 là rất lớn, khoảng trên 700.000 hatrong vùng điều tra Ngoại trừ nhóm đất mùn trên núi cao, đất đen và một vàiloại đất như đất phù sa điển hình ít chua hay đất dốc tụ đọng nước… thì hầuhết các nhóm đất đều có phản ứng rất chua Đây là hạn chế lớn với hầu hếtcác cây trồng bởi để sử dụng các loại đất này vào mục đích trồng trọt, cầnphải điều chỉnh phản ứng của đất trước khi sử dụng Đối với vùng đồng bằng,biện pháp hữu hiệu để tăng pH đất là bón vôi, còn đối với vùng đồi núi thì cầnđưa vào trồng các loại cây cải tạo đất
Bên cạnh yếu tố về độ chua, đất Tây Bắc cũng cần chú ý vấn đề dinhdưỡng Hiện dinh dưỡng của đất ở mức thấp đến trung bình thông qua hàmlượng hữu cơ, đạm tổng số, lân dễ tiêu, kali tổng số và kali dễ tiêu đều rấtthấp So sánh với nhu cầu của các cây trồng phổ biến trong vùng thì hàmlượng các chất dinh dưỡng chính trong đất đều thấp và là yếu tố hạn chế, cầnphải bổ sung thông qua cải tạo đất và bón phân
Đáng chú ý là ngoài các yếu tố liên quan trực tiếp đến đất, sản xuấtnông nghiệp Tây Bắc còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố về điều kiện tưới,điều kiện khí hậu, lượng mưa và các hoạt động khai thác của con người Vềđiều kiện tưới, khả năng phát triển các công trình thủy lợi ở Tây Bắc gặpnhiều khó khăn Trong tổng diện tích điều tra, cho đến thời điểm này chỉ cókhoảng 20% diện tích có thể chủ động được nước tưới, phần còn lại phụ thuộcvào nước trời, do vậy, những năm khô hạn kéo dài là những năm mất mùahàng loạt đối với hầu hết các loại cây trồng trong vùng Về điều kiện khí hậu,hạn chế lớn nhất của điều kiện khí hậu vùng Tây Bắc nói chung là nhiệt độthấp và sương muối, lượng mưa không đồng đều trong năm Kết quả nghiêncứu của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường cho thấy trongtổng số 21 trạm khí tượng ở vùng Tây Bắc có 16 trạm đã từng quan trắc thấy
Trang 25sương muối, những khu vực có độ cao từ 600 m đến 1.000 m đều có từ 4 – 14 năm xuất hiện sương muối với tần suất từ 17% đến 46% Ở độ cao trên 1.500
m thì hầu hết các năm đều xuất hiện sương muối Sương muối xuất hiện trongcác tháng mùa đông (từ tháng mười một đến tháng ba năm sau) (Nguyễn HồngSơn và nnk, 2012) Sương muối và nhiệt độ thấp là 2 yếu tố hạn chế lớn đối vớiđời sống cây cà phê và cây cao su trong vùng Về lượng mưa, mưa phân bố khôngđều theo mùa trong năm; tập trung vào mùa hè, chiếm gần 80%, mưa lớn nhất vàocác tháng sáu, bảy và tám Trong khi đó, khô hạn thường kéo dài từ tháng mười hainăm trước đến tháng ba năm sau, thậm chí có năm quan sát thấy khô hạn kéo dàiđến tháng năm (năm 2010) và có tháng không có ngày mưa nào (tháng 1/2006).Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của cây trồng, đặc biệt làcác cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cao su, mía…
Bên cạnh các yếu tố khách quan về thời tiết, khí hậu thì các hoạt độngphát triển của con người cũng tác động tiêu cực không nhỏ tới đất nông nghiệpTây Bắc thông qua các hoạt động khai thác khoáng sản/vật liệu xây dựng khôngquy hoạch và trái phép; phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các nhà máythủy điện, các cụm – khu công nghiệp và đô thị; tàn phá rừng khiến chức nănggiữ nước và bảo vệ đất suy giảm mạnh…, do đó cần hết sức cân nhắc các hoạtđộng phát triển tại vùng Tây Bắc, tránh tình trạng phát triển bằng mọi giá làm
ảnh hưởng đến môi trường và các loại tài nguyên trong vùng
Trang 26Hai bên sông Đà là các sơn nguyên và cao nguyên đá vôi kế tiếp nhau:Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh là các bồn địa ở Tây Bắc Còn Tà Phình,Mộc Châu, Nà Sản là các cao nguyên ở đây.
Khí hậu
Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực,nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theochiều thẳng đứng Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theohướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngănkhông cho gió mùa đông (hướng đông bắc - tây nam) vượt qua để vào lãnhthổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thốngcác vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo
đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam Vìvậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơnĐông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3°C Ở miền núi, hướng phơi của sườnđóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườnđông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió
"phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổi xuống cácthung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc Nhìn chung, trong điều kiện của trung du vàmiền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khíhậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ Những biến cố khí hậu ở miền núi ang tínhchất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủthổ nhưỡng bị thoái hoá Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp vớimột số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng
có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối
Khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Chế độ gió mùa
có sự tương phản rõ rệt: mùa hè và mùa đông.Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm
ở vùng cao nguyên là núi cao lớn hơn ở các thung lũng
Trang 27Độ ẩm tương đối trung bình thường từ 78 – 93%, ở các tiểu vùng có độchênh lệch từ 2 – 5%.
Khu vực Tây Bắc có lượng mưa lớn, bình quân từ 1.800 – 2.500mm/năm Các hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Tây Bắc là gió Lào và gió lạnhđịa phương, ngoài ra có mưa đá, sương muối, băng giá…
Trang 28Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là cây Hoàng đằng phân bố tự nhiên ở vùng Tây Bắc
- Đề tài tập trung nghiên cứu về đặc điểm sinh học, hàm lượng palmatinloài cây Hoàng đằng phân bố ở vùng Tây Bắc
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Tại các trạng thái rừng tự nhiên ở các tỉnh vùng Tây Bắc
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021
2.3 Giới hạn nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu đặc điểm sinh học và hàm lượng palmatin ở câyHoàng đằng phân bố ở vùng Tây Bắc, không đi sâu nghiên cứu các hợp chất dượchọc khác có trong thân cây Hoàng đằng
2.4 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra đặc điểm phân bố loài cây Hoàng đằng ở đối tượng nghiên cứu
2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây Hoàng đằng ở vùng Tây Bắc.
3 Nghiên cứu hàm lượng hoạt chất palmatin ở cây Hoàng đằng ở vùng Tây Bắc
- Phân tích hàm lượng hoạt chất palmatin ở thân cây Hoàng đằng
- So sánh hàm lượng hoạt chất palmatin ở cây Hoàng đằng phân bố ở các tỉnh trong vùng Tây Bắc và với các vùng sinh thái trong cả nước
4 Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng tại vùng tây Bắc
Trang 292.2.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Trang 302.2.2.1 Điều tra đặc điểm phân bố loài cây Hoàng đằng ở đối tượng nghiên cứu
Kế thừa bộ phiếu câu hỏi phỏng vấn đã xây dựng và phỏng vấn cán bộkiểm lâm địa bàn, cán bộ phụ trách lâm nghiệp xã người dân sống trong và venrừng
2.2.2.2 Đặc điểm sinh học của loài cây Hoàng đằng ở vùng Tây Bắc
- Phương pháp kế thừa các tài liệu đã công bố về điểm sinh học của loài cây Hoàng đằng
- Phương pháp điều tra theo tuyến điển hình
+ Kế thừa số liệu điều tra theo tuyến ở các tỉnh Lai Châu; tỉnh Điện Biên; tỉnh Sơn La; tỉnh Yên Bái và tỉnh Hòa Bình
+ Lập 42 ÔTC diện tích 1000m2/Ô; 210 Ô dạng bản điều tra tái sinh,cây bụi thảm tươi diện tích 25m2/Ô Trong đó kế thừa số liệu đã điều tra 30 ÔTC
và tại các tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình, tác giảtrực tiếp điều tra bổ sung 12 ô tại các tỉnh nêu trên (2 ÔTC/tỉnh) và 60 ô dạng bản
+ Tiến hành điều tra bổ sung trên các ô tiêu chuẩn theo phương pháp điểnhình tạm thời (Không lập các ÔTC trùng với tọa độ các ô đã lập trước đó), số
lượng ÔTC lập bổ sung cho 6 tỉnh là 12 ô Mỗi ÔTC có diện tích 1000m2 (25
x 40m) Trong OTC điều tra các thông tin sau:
* Điều tra tầng cây cao: Đo đếm đường kính D1.3, Hvn tất cả các cây gỗthuộc tầng cây cao
* Điều tra cây bụi, thảm tươi: Thông qua ÔTC dạng bản (diện tích 5 x
5m2), mỗi Ô TC bố trí 5 ô dạng bản, 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở tâm ÔTC
* Đối với cây Hoàng đằng: Đo đếm toàn bộ những cây có trong ô tiêu
chuẩn về đường kính gốc, chiều dài thân, tình hình sinh trưởng…
- Phương pháp xây dựng công thức tổ thành
Trang 31* Tổ thành tầng cây gỗ.
Hệ số tổ thành của các loài cây được xác định theo số cây hoặc tiết
diện ngang Trên quan điểm sinh thái người ta thường xác định tổ thành tầng
cây gỗ theo số cây còn trên quan điểm sản lượng, người ta lại xác định tổ
thành thực vật theo tiết diện ngang hoặc theo trữ lượng
Đê xác định tổ thành tầng cây gỗ, báo cáo sử dụng phương pháp xác
định mức độ quan trọng (Important Value – IV %) của Daniel Marmillod:
3
Trong đó:
· IVIi là chỉ số mức độ quan trọng (tỷ lệ tổ thành) của loài thứ i
· Ai là độ phong phú tương đối của loài thứ i:
Trong đó: Ni là số cá thể của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp
· Di là độ ưu thế tương đối của loài thứ i:
Với: Di là đường kính 1.3 m (D1.3) của cây thứ i; s là số loài trong quần hợp
· RFi là tần xuất xuất hiện tương đối của loài thứ i:
Trang 33F = Sè l−îngc¸c«mÉucãloµi thøi xuÊt hiÖn x100
i
Tængsè «mÉu nghiªncøu
(2-6)
Theo đó, những loài cây có chỉ số IVI ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về
mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978) trong một lâm
phần nhóm loài cây nào chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây gỗ thì
nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế
* Tổ thành cây tái sinh
Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính
- n%j ³ 5% thì loài j được tham gia vào công thức tổ thành
- n%i < 5% thì loài j không được tham gia vào công thức tổ thành
Hệ số tổ thành: Ki =
ni
NTrong đó:
- Cây có hệ số từ 0,5 trở lên viết dấu (+) trước ký hiệu viết tắt của loài
- Cây có hệ số tổ thành < 0,5 trở xuống viết dấu (-) trước ký hiệu viết tắt của loài.
- Các loài khác nhỏ hơn cây trung bình chung ở phần ký hiệu các loài khác