Hiện nay trên thế giới có 10 sáng kiến về bộ tiêu chí và chỉ số QLRBV ở cả cấp độ khu vực và quốc tế với sự tham gia của khoảng 150 quốc gia.Nổi bật nhất là bộ C&I của các tổ chức: Tổ ch
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung
Bài viết cung cấp thông tin cơ bản về thực trạng trồng rừng quy mô HGĐ ở Quảng Trị, làm rõ diện tích rừng trồng HGĐ hiện có và xu hướng phát triển theo từng vùng, đồng thời đánh giá những thách thức và tiềm năng Các biện pháp kỹ thuật áp dụng được đề cập gồm chọn giống phù hợp với điều kiện địa phương, mật độ trồng, thời vụ, chăm sóc, quản lý nước và bảo vệ rừng, nhằm tăng sinh khối và chất lượng gỗ trên quy mô HGĐ Chuỗi cung nguyên liệu từ rừng HGĐ được hệ thống hóa qua sự liên kết giữa người dân, doanh nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, tạo nguồn gỗ ổn định, giảm chi phí và nâng cao giá trị gia tăng Hiệu quả kinh tế của rừng trồng HGĐ thể hiện ở thu nhập trực tiếp cho người trồng, tạo công ăn việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương, đồng thời đặt ra những thách thức về rủi ro thị trường và chi phí đầu tư ban đầu Hệ thống chính sách phát triển rừng trồng quy mô HGĐ tại tỉnh Quảng Trị được đề cập cùng các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ tài chính và đầu tư hạ tầng nhằm thúc đẩy mở rộng diện tích, cải thiện quản lý đất đai và quyền sử dụng đất, đồng thời bảo đảm an toàn sinh thái Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp thúc đẩy quản lý rừng trồng bền vững quy mô HGĐ ở Quảng Trị như tăng cường chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cho người trồng, hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế tài chính, xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư, và củng cố chuỗi liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ bền vững rừng trồng.
Mục tiêu cụ thể
Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu sau đây:
- Đánh giá được thực trạng phát triển rừng trồng quy mô HGĐ tại Quảng Trị;
- Phân tích được hệ thống các chính sách hiên hành liên quan đến phát triển rừng trồng quy mô HGĐ.
- Đề xuất được các giải pháp thúc đẩy quản lý rừng trồng bền vững quy mô HGĐ tại tỉnh Quảng Trị.
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đánh giá thực trạng phát triển rừng trồng quy mô HGĐ tại tỉnh Quảng Trị giúp làm rõ mức độ phổ biến và hiệu quả của mô hình này trong bối cảnh địa phương Nghiên cứu các mối liên kết giữa trồng và tiêu thụ sản phẩm rừng trồng HGĐ tại Quảng Trị nhằm xác định các chu trình giá trị, động lực thị trường và các rào cản logistics Phân tích các chính sách liên quan đến phát triển rừng trồng quy mô HGĐ, so sánh giữa mô hình HGĐ có tham gia CCR và không tham gia CCR để rút ra các bài học và khuyến nghị thực tiễn Dựa trên các kết quả này, đề xuất cơ sở khoa học để tiếp tục thúc đẩy và nhân rộng mô hình tại Quảng Trị và các địa phương có điều kiện tương tự.
Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng và quản lý rừng trồng bền vững quy mô HGĐ tại tỉnh Quảng Trị.
Trên thế giới
1.1.1 Nghiên c ứ u v ề r ừ ng tr ồ ng quy mô HG Đ
1.1.1.1 Loài cây, kỹ thuật và quản lý rừng trồng
Tếch là loài cây trồng phổ biến trên thế giới, đặc biệt được HGĐ trồng Nghiên cứu về kỹ thuật tỉa thưa để áp dụng cho Lào của Pachas và cộng sự (2019) tổng kết dữ liệu từ nhiều nước trên thế giới và cho thấy Tếch được tỉa thưa nhiều nhất là 8 lần trong các chu kỳ chăm sóc ở nhiều nước khác nhau.
Các mô hình tỉa thưa cho rừng trồng cho thấy chu kỳ kinh doanh khác nhau giữa các nước: ở Ấn Độ mô hình tỉa thưa 8 lần với chu kỳ 50 năm, còn ở Thái Lan thấp nhất với 2 lần; mật độ cây để lại sau lần tỉa thưa đầu tiên cũng biến đổi và dao động từ 550 cây/ha (Trinidad và Tobago) đến 1.500 cây/ha (cũng ở quốc gia này); hầu hết các mô hình tỉa thưa khoảng 5 lần và để lại mật độ từ 30 đến 250 cây/ha; tuổi rừng khai thác cũng dao động rất lớn, từ 20 năm (tỉa thưa 2 lần ở Trinidad và Tobago) đến 74 năm ở Ấn Độ; đặc biệt, mô hình tỉa thưa 8 lần ở Ấn Độ có chu kỳ kinh doanh là 50 năm.
Indonesia có 3,1 triệu ha rừng trồng do HGĐ quản lý, chủ yếu gồm các loài Tếch, Keo, Dái ngựa (mahogany), Đàn hương (sandalwood) và Muồng (albizzia); gỗ từ các loài này cung cấp nguyên liệu cho sản xuất panel, nội thất và các sản phẩm khác, phần lớn diện tích tập trung ở Java nơi ngành công nghiệp veneer và nội thất dựa trên nguồn gỗ rừng trồng phát triển Ở Lào, loài cây trồng rừng chính là Tếch; riêng phía Bắc Lào, HGĐ đã xây dựng 15.000 khu rừng Tếch trên 15.000 ha đất rừng, nguồn nguyên liệu đầu vào và nền tảng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Lào với 10.000 m3 gỗ tròn và gỗ xẻ xuất khẩu sang Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam với giá trị xuất khẩu 6 triệu USD Ở Thái Lan, loài cây trồng rừng chính là Bạch đàn và phần lớn được trồng bởi HGĐ với diện tích khoảng 1,5 triệu ha; theo ước tính của Boulay và cộng sự (2012) thì phần lớn diện tích rừng trồng quản lý bởi HGĐ và phần lớn việc trồng và sở hữu rừng này là không chính thức và không được thống kê trong các số liệu thống kê chính thức của nhà nước Ở Thái Lan có phương thức trồng rừng rất đặc biệt Theo (Tanmani,
Để đối phó với cạnh tranh rất lớn từ cây công nghiệp và đảm bảo giá bán gỗ ổn định, năm 2015-2016 SCG đã thúc đẩy các hộ dân (HGĐ) trồng 44.000 ha rừng, trong đó 30.000 ha được trồng dọc theo bờ ruộng và kênh mương Tương tự, công ty giấy Double A đã xây dựng một chương trình trồng rừng dọc theo bờ ruộng và hỗ trợ cho 1,5 triệu HGĐ trồng cây Bạch đàn theo mô hình này Ngành công nghiệp giấy ở Thái Lan phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu từ rừng trồng của HGĐ.
Bạch đàn là cây trồng rừng quan trọng ở Paraguay, theo đánh giá của Grossman (2012) cho thấy cự ly trồng 2,5x3 m là phù hợp cho sản xuất gỗ xẻ và cũng có thể tăng mật độ trồng để phục vụ mục tiêu sản xuất cột chống và gỗ củi Hiện nay đa số nguồn giống được mua từ bên ngoài, trong khi chỉ khoảng 22% hộ gia đình tự sản xuất giống để trồng Mặc dù cán bộ khuyến nông đã có những hướng dẫn cụ thể về chuẩn bị thực bì, phát cỏ dại và tỉa cành, thực tế áp dụng của các hộ gia đình còn hạn chế, dẫn đến năng suất rừng chưa đạt như mong đợi Chu kỳ kinh doanh phù hợp cho trồng rừng gỗ lớn Bạch đàn ở khu vực này được ước tính là 9 năm.
Trong quản lý rừng trồng, các hộ gia đình (HGĐ) quản lý rừng của họ theo kế hoạch riêng và hiếm khi được đặc trưng bởi các kỹ thuật lâm sinh và tính kỷ luật trong kế hoạch Đầu vào cho sản xuất được xác định khi điều kiện về thời gian và nguồn lực cho phép, và việc trồng cũng như quản lý rừng bị ảnh hưởng bởi giá gỗ trên thị trường Khai thác của các HGĐ rất linh hoạt và khó dự báo, đặc biệt ở các HGĐ trồng rừng nhỏ với diện tích 0,1-5 ha Rừng trồng thường bị khai thác khi gia đình cần tiền mặt cho các dịp như hiếu, hỉ, bệnh tật, giáo dục hoặc các chi phí thiết yếu khác Yếu tố quyết định thời điểm bán rừng của HGĐ chính là giá gỗ trên thị trường.
1.1.1.2 Sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế rừng
Các nghiên cứu trên toàn cầu cho thấy không phải mọi mô hình trồng rừng HGĐ đều thành công như nhau và kết quả có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia và khu vực Thành công hay thất bại phụ thuộc vào nhiều yếu tố địa phương như điều kiện sinh thái, tài nguyên đất đai, khung pháp lý, cơ sở hạ tầng tài chính, mức độ tham gia của cộng đồng và mục tiêu phát triển bền vững Do đó, để tối ưu hóa hiệu quả của mô hình trồng rừng HGĐ, cần đánh giá kỹ bối cảnh địa phương, học hỏi từ các bài học thành công và thất bại ở những nơi có điều kiện tương đồng, và điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với khí hậu, nguồn lực sẵn có và nguyện vọng của người dân Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các ngành và sự quản trị dự án minh bạch là chìa khóa giúp tăng khả năng hồi phục rừng, cải thiện sinh kế và đảm bảo tính bền vững trong dài hạn.
2018) Trong thực tế, thất bại hoặc hiệu suất thấp là phổ biến (Kroger, 2012) Ở Lào (Barney, 2008) và Indonesia (Obidzinski và Dermawan 2010, Perdana et al 2012),
Hộ gia đình trồng rừng và xen cây gỗ vào hệ thống sử dụng đất phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến đặc điểm sinh lý và điều kiện khí hậu, quyền sử dụng đất, chất lượng giống, nguồn tín dụng hỗ trợ để đầu tư dài hạn và khả năng tiếp cận thị trường, những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả trồng rừng và sinh kế của hộ Việc trồng rừng cũng được xem là phù hợp với các chương trình hỗ trợ từ Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển lâm nghiệp hộ gia đình và tính bền vững (Bryon, 2001; Nawir et al., 2007; Harwood và Nambiar, 2014).
(Maryudi và cộng sự, 2016) chỉ ra rằng cũng giống như ở Việt Nam, người nghèo ở Indonesia cũng ít có cơ hội thu được lợi ích từ rừng trồng Để họ có được lợi nhận, tác giả khuyến nghị cần có các chính sách hỗ trợ tín dụng cho hộ nghèo.
Khi nghiên cứu về rừng trồng quy mô HGĐ ở Indonesia (Rohadi et al, 2015) chỉ ra rằng mặc dù không phải là nguồn thu nhập chính, nhưng thu nhập từ rừng trồng đóng góp khoảng 15% thu nhập của HGĐ.
1.1.1.3 Chuỗi cung nguyên liệu và sử dụng gỗ rừng trồng HGĐ
HGĐ và các chủ rừng nhỏ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với lâm nghiệp ở các nước châu Á Gỗ rừng trồng từ HGĐ đã cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ, xây dựng, veneer và MDF, cho gỗ xuất khẩu, viên nén và bột giấy Ngoài ra, nguồn gỗ từ HGĐ còn được sử dụng phần lớn làm nguyên liệu cho các hoạt động chế biến công nghiệp trong nước, sản xuất than và xây dựng nông thôn ở châu Á.
Rohadi và cộng sự (2015) cho thấy phần lớn hộ gia đình trồng rừng ở Indonesia không tuân thủ các định hướng thị trường, khiến họ bỏ lỡ cơ hội nâng cao thu nhập từ việc bán gỗ Giá bán gỗ thay đổi rất lớn giữa thị trường cấp thôn và cấp huyện, và nhiều HGĐ thường chịu mức giá thấp nhất do các nguyên nhân như chất lượng gỗ không đồng nhất, thông tin thị trường còn hạn chế và chưa tiếp cận đầy đủ các chuỗi cung ứng.
HGĐ có chất lượng thấp, dẫn tới hiệu quả hoạt động kém và ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh trên thị trường gỗ HGĐ yếu kém trong việc mặc cả khi bán gỗ, làm giảm biên lợi nhuận và khó cạnh tranh với các đối thủ Đồng thời, chi phí giao dịch cao do ảnh hưởng từ các quy định thị trường gỗ khiến tổng chi phí tăng lên và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.2 Nghiên c ứ u v ề qu ả n lý r ừ ng b ề n v ữ ng và ch ứ ng ch ỉ r ừ ng
1.1.2.1 Nghiên cứu QLRBV và CCR nói chung
Quản lý rừng bền vững (QLRBV) lần đầu được ghi nhận ở cấp độ quốc tế tại Hội nghị thượng đỉnh Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro năm 1992, nhấn mạnh việc duy trì và gìn giữ nguồn tài nguyên cho thế hệ tương lai; từ đó các định nghĩa về QLRBV xoay quanh ba trụ cột kinh tế, môi trường và xã hội Để đánh giá và xác nhận QLRBV, bộ tiêu chí và chỉ số (C&I) được xây dựng và ứng dụng rộng rãi, với khoảng 10 sáng kiến C&I ở cấp khu vực và quốc tế và sự tham gia của khoảng 150 quốc gia Các bộ tiêu chuẩn nổi bật do ITTO, Tiến trình Helsinki và Tiến trình Montreal phát triển tập trung vào 7 nhóm vấn đề chính: sự phát triển tài nguyên rừng; đa dạng sinh học; sức khỏe và sức sống của rừng; chức năng sản xuất và tài nguyên rừng; chức năng bảo vệ của tài nguyên rừng; chức năng kinh tế - xã hội; khuôn khổ pháp lý, chính sách và thể chế Để được cấp chứng chỉ rừng (CCR) và xác nhận quản lý rừng bền vững, hệ thống CCR dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí là bắt buộc, với khoảng 50 tiêu chuẩn QLRBV khác nhau trên thế giới phù hợp với từng loại rừng và hệ sinh thái Hai hệ thống CCR được công nhận rộng rãi nhất là FSC và PEFC, và đến năm 2014 tổng diện tích rừng được cấp CCR trên toàn cầu lên tới khoảng 443 triệu ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng thế giới.
Hội đồng quản trị rừng Thế giới (Forest Stewardship Council, FSC) được thành lập năm 1993 bởi sự hợp tác của các nhóm môi trường, lâm nghiệp và các công ty gỗ, nhằm thiết lập một chuẩn quản lý rừng bền vững Đến cuối năm 2014, FSC đã cấp chứng chỉ cho 200.738.995 ha rừng trên toàn cầu, cho thấy phạm vi ảnh hưởng và uy tín của tiêu chuẩn FSC Chứng nhận FSC giúp cải thiện quản trị rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, tăng tính minh bạch của chuỗi cung ứng gỗ và đáp ứng nhu cầu thị trường về các sản phẩm gỗ có trách nhiệm xã hội và môi trường.
80 quốc gia, trong đó 45% thuộc về các nước Châu Âu, 39% cho rừng ở các nước Bắc
Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên c ứ u v ề r ừ ng tr ồ ng quy mô HG Đ
1.2.1.1 Loài cây, kỹ thuật trồng
Trong các nghiên cứu khảo nghiệm 16 giống Keo lai được tuyển chọn để trồng rừng ở Đông Nam Bộ trên các loại đất sau canh tác cây lương thực ngắn ngày, đất bỏ hoang hoá và đất quảng canh, sinh trưởng của một số giống Keo lai về đường kính và chiều cao qua các năm đều cao hơn Keo tai tượng, từ đó tác giả chọn được các giống Keo lai tốt nhất để nhân giống đại trà trồng rừng ở Đông Nam Bộ và các địa phương có điều kiện lập địa tương tự (Phạm Văn Tuấn và cộng sự, 2001) Nghiên cứu trồng Keo lai trên hai loại đất ở vùng Đông Nam Bộ cho thấy sự khác biệt về khả năng sinh trưởng tuỳ thuộc vào loại đất mặc dù áp dụng cùng biện pháp kỹ thuật thâm canh; trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn so với đất xám phù sa cổ (Phạm Thế Dũng và cộng sự).
Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) đã xây dựng một mô hình trồng rừng thâm canh và đề xuất các tiêu chuẩn xác định lập địa rừng trồng nhằm tối ưu hóa năng suất và hiệu quả khai thác đất Các tiêu chuẩn này bao gồm các loại đất khác nhau, độ dốc và kiểu địa hình, độ dày tầng đất và quần hệ thực vật ưu thế, từ đó xác định vị trí trồng rừng phù hợp Tác giả cho thấy lập địa và năng suất rừng trồng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, nhấn mạnh vai trò của đánh giá lập địa trong quản lý và dự báo năng suất rừng thâm canh.
1.2.1.2 Sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế rừng
Nghiên cứu của Vũ Văn Thuận và cộng sự (2020) đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình rừng trồng keo gỗ lớn ở vùng Đông Bắc, cho thấy tại Quảng Ninh mô hình Keo tai tượng gỗ lớn có giá trị NPV từ 8,683 đến 12,773 triệu đồng/ha/năm, trung bình 10,46 triệu đồng/ha/năm và cao hơn mô hình gỗ nhỏ từ 1,3 đến 1,99 lần (trung bình 1,79 lần) Ở Phú Thọ, các mô hình rừng trồng keo lai gỗ lớn có NPV từ 9,287 đến 10,601 triệu đồng/ha/năm, trung bình 9,944 triệu đồng/ha/năm và cao hơn mô hình gỗ nhỏ từ 1,29 đến 1,4 lần Các mô hình rừng trồng Keo tai tượng gỗ lớn có NPV từ 9,332 đến 9,711 triệu đồng/ha/năm, trung bình 9,522 triệu đồng/ha/năm và cao hơn mô hình gỗ nhỏ trung bình 1,3 lần.
Đoàn Hoài Nam (2003) đã nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh tại một số vùng sinh thái ở nước ta, và kết quả cho thấy năng suất rừng trồng keo lai bình quân đạt trên 20 m³/ha/năm.
Hiện trạng quản lý rừng hộ gia đình (HGĐ) cho thấy năng suất rừng HGĐ thường ở mức thấp và kém bền vững Nghiên cứu của Sandewall và cộng sự (2015) cho biết năng suất gỗ của rừng trồng HGĐ thấp hơn nhiều so với rừng trồng do các công ty lâm nghiệp quản lý ở khu vực lân cận Đặc biệt, các hộ gia đình nghèo không có đủ thời gian và nguồn lực để đầu tư cho trồng rừng và thiếu sự hỗ trợ cần thiết từ dịch vụ khuyến lâm.
Nambiar và Harwood (2014) cho rằng rừng trồng ở khu vực Đông Nam Á gần đây đã suy giảm năng suất do quản lý không phù hợp Đặc biệt ở Việt Nam, diện tích rừng phân tán và có tới 40% diện tích được quản lý bởi HGĐ khiến công tác kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh và quản lý lập địa trong quá trình khai thác rừng gặp nhiều khó khăn Một số nghiên cứu khác cho thấy gỗ từ rừng trồng HGĐ chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của thị trường.
Trong nghiên cứu rừng trồng ở Huế và Quảng Trị của Thu Ba và Rod (2019), thu nhập từ bán gỗ rừng trồng của các hộ gia đình (HGĐ) ước đạt khoảng 5 triệu đồng mỗi hộ/năm, chiếm khoảng 25% tổng thu nhập của HGĐ.
Vào năm 2019, Võ Thị Hải Hiền và cộng sự đã áp dụng phân tích lợi chi phí (CBA) để đánh giá hiệu quả của hai mô hình trồng rừng gỗ lớn và gỗ nhỏ ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Kết quả cho thấy mô hình trồng rừng gỗ lớn mang lại lợi ích cao hơn cho chủ rừng so với mô hình trồng rừng gỗ nhỏ, xét trên phương diện kinh tế và hiệu quả lâu dài.
Nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) đã phân tích các dạng lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào trồng rừng công nghiệp tại Trung tâm, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đồng thời tính toán hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai Kết quả cho thấy ở vùng Trung tâm các chỉ tiêu NPV và IRR đều thể hiện lợi nhuận với IRR khoảng 9%; ở vùng Đông Nam Bộ IRR đạt khá cao, khoảng 17–19%, cho thấy mức sinh lời đáng kể Tác giả nhấn mạnh rằng với chi phí trồng rừng ở thời điểm nghiên cứu, nếu năng suất rừng trồng bình quân không đạt trên 15 m3/ha/năm thì tỷ suất nội tại của vốn đầu tư sẽ không đạt được các mức đã tính toán.
Kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Dung (2008) về đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế - xã hội của việc trồng Keo lai làm nguyên liệu giấy tại Đắk Lắk và Đắk Nông cho thấy, chiều cao trung bình của Keo lai 6 năm tuổi ở khu vực nghiên cứu lần lượt là Cư K’Róa 17,15 m, Đăk Rồ 17,90 m và Quảng Khê 16,74 m; đường kính gốc (D 1,3) trung bình ở Cư K’Róa là 11,98 cm, Đăk Rồ 12,92 cm, Quảng Khê 12,09 cm; năng suất bình quân năm ở Cư K’Róa là 27,80 m³/năm/ha, Đăk Rồ là 30,78 m³/năm/ha.
Quảng Khê đạt 21,39 m3/ha/năm Về hiệu quả kinh tế sau luân kỳ kinh doanh 6 năm, lợi nhuận ròng (NPV) và IRR lần lượt ở Cư K'Róa là 17,76 triệu đồng và 27,87%; ở Đăk Rồ là 21,77 triệu đồng và 32,58%; ở Quảng Khê là 8,8 triệu đồng và 17,5% Về hiệu quả xã hội, chu kỳ trồng rừng Keo lai 6 năm tại Cư K'Róa cho 303 công/ha, tại Đăk Rồ 275 công/ha và tại Quảng Khê 356 công/ha.
Ngô Quế và các cộng sự (2009) đã tiến hành phân hạng đất và đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng keo lai ở một số vùng sinh thái của Việt Nam, cho thấy doanh thu trung bình 25.050.000 đ/ha, lợi nhuận ròng 3.350.000 đ/ha/năm, tỷ lệ hoàn vốn 27,16% và hiệu suất đầu tư 2,82 lần ở cấp đất 1; vùng Bắc Trung Bộ có doanh thu trung bình 26.700.000 đ/ha, lợi nhuận ròng 3.550.000 đ/ha/năm, tỷ suất hoàn vốn 32,67% và hiệu quả đầu tư 2,99 lần; vùng Đông Nam Bộ đạt doanh thu trung bình 80.200.000 đ/ha, lợi nhuận ròng 5.200.000 đ/ha/năm, tỷ lệ hoàn vốn 39,40% và hiệu suất đầu tư 3,34 lần cho chu kỳ kinh doanh 7 năm Nghiên cứu này đánh giá phân hạng đất và hiệu quả kinh tế rừng trồng keo lai ở một số cấp đất, nhưng chưa đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường.
1.2.1.3 Chuỗi cung nguyên liệu và sử dụng gỗ rừng trồng HGĐ
Pulzel và cộng sự (2012) chỉ ra rằng gỗ từ rừng trồng HGĐ chiếm tỷ lệ nhỏ trong nền công nghiệp gỗ nội thất tỉnh Bình Định do kích thước nhỏ và không có chứng chỉ rừng Tác giả cũng nêu rõ những thách thức HGĐ phải đối mặt như các yêu cầu khác nhau từ thị trường và ảnh hưởng của thảm họa tự nhiên; ví dụ cơn bão năm 2009 đã tàn phá hàng nghìn ha rừng trồng Bên cạnh đó HGĐ gặp bất lợi khi tiếp cận thị trường bán gỗ Schnell và cộng sự (2012) cho thấy ở tỉnh Bình Định, trong hầu hết các trường hợp gỗ được bán thông qua người buôn trung gian và họ hưởng phần lớn giá trị gia tăng từ gỗ hơn là các HGĐ trồng rừng.
Hộ gia đình (HGĐ) là nhóm nhận ít lợi nhuận nhất từ chuỗi giá trị gỗ rừng trồng, theo Trần Thanh Cao (2011) Nguyễn Quang Tân (2011) đề xuất các biện pháp nâng cao lợi nhuận cho HGĐ, gồm tăng cường năng lực HGĐ trong trồng và quản lý rừng, chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng trồng gỗ lớn, và liên kết trực tiếp HGĐ trồng rừng với ngành công nghiệp gỗ.
1.2.2 Nghiên c ứ u v ề qu ả n lý r ừ ng b ề n v ữ ng và ch ứ ng ch ỉ r ừ ng
1.2.2.1 QLRBV và CCR nói chung
Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (viết tắt là NWG) được Bộ NN&PTNT thành lập vào năm 2000 Tổ công tác này đã xây dựng bộ tiêu chuẩn QLRBV của ViệtNam dựa trên cơ sở bộ tiêu chuẩn của FSC, đến năm 2006 đã hoàn thành phiên bản 9c với 10 nguyên tắc, 156 tiêu chí và 143 chỉ số Đến năm 2006, Viện QLRBV và CCR(viết tắt là SFMI) được thành lập trên cơ sở nguồn nhân lực của Tổ công tác quốc gia(NWG) Kể từ khi thành lập, SFMI đã thực hiện nhiều hoạt động tư vấn về QLRBV và cấp CCR ở Việt Nam.
Tổng quan khu vực nghiên cứu
Quảng Trị được giới hạn bởi các toạ độ địa lý như sau:
Từ 16 0 18'13'' đến 17010'23" vĩ độ Bắc;
Từ 106 0 30'51'' đến 107023'48'' kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình.
Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phía Đông tiếp giáp với biển Đông.
Phía Tây giáp với nước CHDCND Lào.
Chiều dài từ Bắc xuống Nam theo Quốc lộ 1A là 75 km, chiều Đông - Tây chỗ rộng nhất 75,4 km, chỗ hẹp nhất là 52,2 km Bờ biển dài 75 km.
Là một tỉnh không lớn về qui mô đất đai và dân số nhưng Quảng Trị có những lợi thế đáng kể về vị trí địa lý - kinh tế, các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt xuyên Việt như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam.
1.3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa thế
Quảng Trị nằm ở phía Đông dải Trường Sơn, nghiêng từ Tây sang Đông Phía Tây là vùng núi cao, ở giữa là vùng gò đồi, và phía Đông là đồng bằng ven biển Đỉnh Voi Mẹp cao 1.700 m là độ cao lớn nhất của tỉnh Địa hình được phân chia thành ba khu vực: núi cao ở phía Tây, gò đồi ở giữa và đồng bằng ven biển ở phía Đông.
4 vùng lớn: Vùng núi cao, vùng gò đồi và núi thấp (tiểu vùng Trung du), vùng cát nội đồng và cát ven biển.
1.3.1.3 Đặc điểm khí hậu, sinh thái
Quảng Trị chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng nhờ vị trí địa lý nằm ở vùng chuyển tiếp giữa miền khí hậu phía Bắc và miền khí hậu phía Nam nên ảnh hưởng của gió mùa cực đới yếu đi và thời kỳ lạnh dưới 20°C được rút ngắn Do đặc điểm địa lý, mùa mưa ở Quảng Trị bị chuyển hẳn sang mùa đông, đối lập với tính chất chung của khí hậu gió mùa Trong khi đó mùa hè thường khô do ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng.
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân hàng năm là 24,90 C, tháng lạnh nhất là tháng
12 (nhiệt độ trung bình là 18,10C) và tháng nóng nhất là tháng 5 (nhiệt độ trung bình là 29,10C).
Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân 87% Tuy nhiên vào các tháng mùa hè,đặc biệt thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 7, do tác động ảnh hưởng của gió khô nóng Tây
Nam nên độ ẩm không khí thường giảm còn trên dưới 80%, thấp nhất tuyệt đối xuống tới 25%.
Mùa mưa có lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.681 mm, phần lớn tập trung ở các tháng 9, 10, 11 chiếm 70% lượng mưa cả năm, gây lũ lụt trên địa bàn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác bảo vệ rừng Lượng mưa bình quân hàng năm ở đồng bằng dao động từ 2.300–2.700 mm, trong khi ở miền núi là 1.800–2.000 mm.
Chế độ gió ở Quảng Trị chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa chính: gió mùa Tây Nam (gió Lào) hoạt động mạnh vào các tháng 5, 6 và 7; gió Lào có đặc tính khô nóng, độ ẩm không khí thấp và cường độ mạnh kéo dài.
20 m/s, Quảng Trị là nơi ảnh hưởng gió Lào mạnh nhất của cả nước.
Quảng Trị nằm trong khu vực có tần suất chịu ảnh hưởng của bão ở mức cao, chiếm khoảng 36% số cơn bão trên toàn quốc, với tác động chủ yếu tập trung vào vùng đồng bằng ven biển Mùa bão ở Quảng Trị thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 Bão đi kèm mưa to, gió mạnh, phối hợp với triều cường và lũ thượng nguồn đổ về khiến ngập lụt trên diện rộng, gây thiệt hại đáng kể cho hệ thống cơ sở hạ tầng, mùa màng và tính mạng người dân, đặc biệt tại các khu dân cư vùng thấp trũng ven các sông lớn và ven biển.
1.3.1.4 Đất đai, lập địa, thổ nhưỡng
Diện tích đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp chiếm 19,1%, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 50,1%, đất phi nông nghiệp chiếm 3,2%, quỹ đất chưa sử dụng còn khá lớn, chiếm 26,6%, tạo tiềm năng phân bố lại vùng sản xuất và dân cư cho hợp lý nhằm khai thác nguồn đất đai chưa sử dụng trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt đối với nông - lâm nghiệp Đất Quảng Trị bao gồm chủ yếu các nhóm đất ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới có cường độ phong hoá mạnh, gồm các nhóm: đất bãi cát, cồn cát và đất cát biển; đất mặn; đất phèn; nhóm đất phù sa; đất lầy và đất than bùn; đất xám bạc màu trên phù sa cổ; đất đen trên bazan; đất đỏ vàng, gồm các loại đất đỏ vàng trên đá Granit, đá sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên đá Bazan, đất nâu đỏ trên đá Bazan Diện tích 353.113 ha, chiếm 74,54% diện tích tự nhiên Đây là nhóm đất có tiềm năng để trồng rừng gỗ lớn, hiện nay phần lớn rừng trồng sản xuất của tỉnh tập trung trên nhóm đất này Ngoài ra còn các nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ; đất xói mòn trơ sỏi đá và đất không phân loại (sông suối, mặt nước).
1.3.1.5 Đặc điểm thủy văn, thủy triều
Quảng Trị có mật độ lưới sông trung bình khoảng 2 km/km² và được phân thành ba hệ thống sông chính là Thạch Hãn, Ô Lâu và Bến Hải Ngoài ra còn có một số sông suối có lưu vực nhỏ nằm ở sườn Tây Trường Sơn thuộc lưu vực hệ thống sông Mê Kông Các con sông này có nhiều phụ lưu và chi lưu, phân bố chủ yếu ở thượng nguồn rồi hợp lưu, chảy uốn khúc nội địa và theo hướng Đông đổ ra biển.
1.3.2 Th ự c tr ạ ng kinh t ế - xã h ộ i
Đến năm 2018, dân số toàn tỉnh ước đạt 630.845 người, tăng 0,57% so với năm 2017 Trong tổng dân số này, nam chiếm 309.703 người (49,09%), nữ chiếm 321.142 người (50,81%) Dân cư nông thôn chiếm 69,76% dân số toàn tỉnh; mật độ dân số khoảng 132 người/km2 và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 0,97%.
Quảng Trị có sự đa dạng dân tộc với Kinh chiếm 87,3%, Vân Kiều 10,5%, Tà Ôi 2,1% và các dân tộc khác 0,1% Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương gây ra nhiều thách thức xã hội như thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm và thừa lao động, đồng thời làm gia tăng nghèo đói và làm mất cân đối sự phát triển kinh tế giữa các vùng.
Dân số trong độ tuổi lao động trên địa bàn ước khoảng 348.750 người, chiếm khoảng 55,3% tổng dân số Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 43,5%, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm khoảng 32,8% Trong cơ cấu lao động có việc làm, ngành nông, lâm và thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,08% (khoảng 149.362 người); ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 18,37% (khoảng 62.250 người); ngành dịch vụ chiếm 37,55% (khoảng 127.268 người); các ngành khác chiếm phần còn lại.
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân giai đoạn 2011
Năm 2018 đạt 7,4%/năm và tốc độ tăng trưởng GDP năm 2018 đạt 7,12%; GRDP (giá so sánh 2010) ước đạt 19.501,5 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực nông lâm ngư ước đạt 3.927,7 tỷ đồng, tăng 5,56%; thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành ước đạt 42,3 triệu đồng, tăng 7,9% so với năm 2017; về cơ cấu kinh tế, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 20,68%; công nghiệp và xây dựng chiếm 24,15%; dịch vụ chiếm 51,25%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,92%.
Trong lĩnh vực trồng trọt, diện tích và sản lượng của các cây trồng chính được ghi nhận như sau: lúa 50.708 ha đạt 275.483 tấn; ngô 4.165 ha đạt 14.356 tấn; khoai lang 2.282 ha đạt 18.290 tấn; sắn 11.884 ha đạt 200.971 tấn; lạc 3.579 ha đạt 7.330 tấn Cây cà phê có diện tích trồng 4.905,3 ha, diện tích thu hoạch 4.587 ha, năng suất 11,9 tạ/ha và sản lượng ước đạt 5.441,6 tấn; cây cao su có diện tích trồng 18.998,1 ha, diện tích thu hoạch 12.163,8 ha, năng suất 13,2 tạ/ha và sản lượng ước đạt 16.047,4 tấn; cây hồ tiêu có diện tích trồng 2.503,1 ha, diện tích thu hoạch 2.042 ha, năng suất 7,3 tạ/ha và sản lượng ước đạt 1.482,2 tấn; diện tích cây ăn quả đạt hơn 4.370 ha, sản lượng ước đạt 63.820 tấn.
Toàn tỉnh hiện có đàn trâu 24.597 con, giảm 6,69% so với cùng thời điểm năm 2017; đàn bò 62.923 con, giảm 6,76%; đàn lợn 243.191 con, giảm 2,20%; đàn gia cầm 2.968 nghìn con, tăng 12,74%; trong đó đàn gà 2.315 nghìn con, tăng 20,81% Chăn nuôi trâu bò chủ yếu lấy thịt, người chăn nuôi chú trọng nâng cao chất lượng đàn nên tổng đàn giảm nhưng chất lượng đàn tăng lên.
2018 sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 40.670 tấn, tăng 6,15% so với năm2017; trong đó thịt lợn hơi đạt 29.650 tấn, tăng 7,41%.
Nhận xét và đánh giá chung
Có nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về rừng trồng, quản lý rừng bền vững (QLRBV) và CCR, nhưng nghiên cứu về rừng trồng quy mô hộ gia đình (HGĐ) còn chưa phong phú Các công trình hiện nay chủ yếu đánh giá sinh trưởng, năng suất và quản lý lâm sinh, ít chú ý tới tại sao HGĐ tham gia hay không tham gia QLRBV và những nhân tố chủ đạo quyết định đến mức độ tham gia của HGĐ Chưa có kết quả nghiên cứu cụ thể về chi phí, lợi ích của mô hình QLRBV so với quản lý rừng truyền thống, đặc biệt là tính bền vững của mô hình Những khoảng trống này gây thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất và xây dựng chính sách khuyến khích HGĐ tham gia QLRBV một cách hiệu quả, trong đó có tỉnh Quảng Trị Xuất phát từ thực tế này, đề tài luận văn cho thấy sự cần thiết và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của nghiên cứu.
Quảng Trị có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, với trên 70% diện tích đất quy hoạch là rừng sản xuất, khẳng định lâm nghiệp là thế mạnh của tỉnh Diện tích rừng trồng tăng hàng năm, đặc biệt là rừng trồng HGĐ, và tỉnh được xem là dẫn đầu cả nước về xây dựng chứng chỉ rừng FSC Sản lượng gỗ khai thác năm 2018 ước đạt 850.000 m3, tăng 22,10%; sản lượng củi khai thác 230.000 ste, giảm 0,10%; sản lượng khai thác gỗ tiếp tục tăng qua từng năm; nhựa thông khai thác 1.800 tấn và song mây khai thác khoảng 124 tấn Nguồn lực lâm nghiệp và giá trị sản xuất từ lâm nghiệp đóng góp đáng kể cho giá trị kinh tế - xã hội của tỉnh mỗi năm.